Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hồi Ký: Thép Đen

26/04/200900:00:00(Xem: 2447)

Hồi ký: Thép Đen - Đặng Chí Bình

LGT: Lịch sử nửa thế kỷ ngăn chặn làn sóng cộng sản bành trướng ở Miền Bắc, xâm lăng ở Miền Nam, đã tạo nên nhiều anh hùng, trong đó có không biết bao nhiêu anh hùng âm thầm, cô đơn, một mình một bóng, phải vật lộn giữa vòng vây đầy thù hận của kẻ thù, mà vẫn một lòng một dạ giữ tròn khí tiết cùng tấm lòng thuỷ chung đối với tổ quốc, dân tộc, đồng đội... Đặng Chí Bình, bút hiệu của một điệp viên VNCH được lệnh thâm nhập Miền Bắc, móc nối các tổ chức kháng chiến chống cộng, chẳng may lọt vào tay kẻ thù, và phải trải qua gần 20 năm trong lao tù cộng sản, là một trong những người anh hùng âm thầm, cô đơn trên con đường đấu tranh chống cộng sản đầy máu và nước mắt nhưng vô cùng cao thượng và chan hoà lòng nhân ái, của dân tộc Việt Nam. Giống như tất cả những ai có lòng yêu nước, đã sống trong lao tù của cộng sản, đều âm thầm tự trao cho mình sứ mạng, tiếp tục chiến đấu chống lại cái tàn nhẫn bất nhân của chủ nghĩa cộng sản đến hơi thở cuối cùng, điệp viên Đặng Chí Bình, sau khi ra hải ngoại, đã tiếp tục miệt mài suốt 20 năm để hoàn thành thiên hồi ký Thép Đen dầy ngót 2000 trang, gói ghém tất cả những bi kịch phi nhân đầy rùng rợn trong chế độ lao tù cộng sản mà tác giả đã trải qua; đồng thời thắp sáng chân lý: Ngay cả trong những nơi tận cùng của tăm tối, phi nhân, đói khát, đầy thù hận nhất do chế độ cộng sản tạo dựng, tình yêu thương người, lòng hướng thiện, khát khao cái đẹp, tôn thờ chân lý vẫn luôn luôn hiện hữu và được ấp ủ, trong lòng người dân Việt. Nhận xét về thiên hồi ký Thép Đen, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã xúc động nhận xét: "Chúng ta đã được đọc khá nhiều hồi ký của những người cựu tù trong chế độ lao tù Cộng Sản. Mỗi cuốn hồi ký là một mặt của vấn đề, nhưng theo tôi, "Thép Đen" là cuốn hồi ký trung thực nhất về những điều mà người tù mấy chục năm Đặng Chí Bình đã phải trải qua. Những sự việc được tả chân, những tâm tư được diễn tả chân thực mà mỗi người cựu tù khi đọc đều thấy có mình trong đó." Nhân dịp tác giả Đặng Chí Bình đến Úc, Sàigòn Times hân hạnh được ông chấp thuận cho phép đăng tải thiên hồi ký Thép Đen vô cùng hào hùng, sống động và đầy lôi cuốn của ông. SGT xin chân thành cảm ơn tấm lòng ưu ái đặc biệt của tác giả, và sau đây, xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả phần tiếp theo của thiên hồi ký Thép Đen.

*

(Tiếp theo...)

Nói về thời gian và những chi tiết của từng chuyến công tác thì tôi không thể nhớ hết được. Nhưng chắc chắn là không dưới 20 chuyến xâm nhập vào hải phận Bắc Việt kể từ ngày tôi gia nhập lực lượng Người Nhái cho tới chuyến đi định mệnh này. Tôi sẽ kể về một vài chuyến công tác mà tôi nhớ được cho anh nghe. Cái chuyến công tác đầu tiên thì không thể nào tôi có thể quên được. Đó là vào cuối tháng 11 năm 1964.
Tôi được ghép chung với 2 người nữa thành một tổ 3 người. Hai anh này là Zếnh và Minh. Các anh đã đi công tác nhiều lần xâm nhập bờ biển miền Bắc rồi. Ngay trong tháng 6 vừa qua, lúc chúng tôi còn đang dự lớp huấn luyện, hai anh đã được PTF phối hợp đột nhập vào vùng bờ biển Thanh Hóa. Bất ngờ, các anh đã dùng hỏa lực mạnh, tiêu diệt toàn bộ lực lượng dân quân gác chiếc cầu Hổ, rồi đặt chất nổ phá gục chiếc cầu này. Chiếc cầu dài gần 100 mét trên quốc lộ số I thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa.
Chuyến công tác thành công mỹ mãn của hai anh trở về được anh em nồng nhiệt đón chào. Hôm sau, trại mở tiệc mừng, chúng tôi là khóa sinh mới cũng được dự.
Vì là lần đầu, nên tôi được đi với hai anh để học hỏi kinh nghiệm. Nhiệm vụ được giao cho tổ chúng tôi trong chuyến công tác này là phối hợp với PTF xâm nhập vào lãnh hải Bắc Việt. Bắn phá một trạm rada nằm cạnh bờ biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An. Sau đó, PTF sẽ khống chế và yểm trợ để 3 chúng tôi đột nhập bắt một số thủy thủ thuộc các đội đánh cá của tỉnh Thanh Hóa đem về Nam làm tài liệu sống để khai thác một số tin tức về tình báo địa phương.
Khoảng 10 giờ sàng, lúc này mặt trời đã chói chang trên khung trời Đà Nẵng. Chúng tôi gồm 2 chiếc Hải Tốc Đĩnh, nổ mày rời khỏi Đà Thành. Hai chiếc tầu hình con thoi xé nước tiến ra cửa biển hướng về phía Bắc. Nhìn cảnh vật hai bên bờ sông Hàn, tôi có cảm tưởng 2 con tầu như 2 con chó sói đang hồng hộc lướt nhanh trên mặt tuyết bao la để săn đuổi con mồi. Ra đến biển khơi, giữa muôn ngàn lớp sóng bạc đầu, tôi nhìn chiếc PTF đi chéo phía bên; trông nó như bay sát trên ngọn những lớp sóng cồn với tốc độ 30 -40 dặm một giờ. Để tránh rada và tầm nhìn của địch, tầu của chúng tôi đi mãi ngoài khơi cách bờ 50 – 60 cây số.
11 giờ đêm hôm ấy, như vậy chỉ sau 13 tiếng đồng hồ, tầu chúng tôi đã tới mục tiêu. Bất ngờ 2 chiếc PTF bẻ lái tiến vào bờ. Trong đêm tối, khi còn cách giàn rada của địch 3 – 4 trăm mét. Hỏa lực của chúng tôi là những mũi súng 106mm và 20mm, bắt đầu khạc lửa vào mục tiêu. Tuy có vài tràng đại liên bắn trả nhưng chả thấm gì với hỏa lực của tầu chúng tôi. Chỉ 5 phút sau, cả một vòng lửa lớn, đỏ ối, sáng rực đã bao trùm mục tiêu. Trong khi ở ngoài khơi, nhiều chiếc tầu đánh cá của địch nhốn nháo tháo chạy vào phía đất liền.
Do 2 chiếc PTF kèm uy hiếp, một chiếc tầu đánh cá của địch đã chịu trận. Với những thao tác, nhuần nhuyễn chuyên môn, 3 chúng tôi lao nhanh sang tầu đánh cá. Tước hết vũ khí và lần lượt giong họ về tầu của chúng tôi. Họ gồm 9 người, bao gồm cả thuyền trưởng. Để giữ an toàn tuyệt đối, chúng tôi phải trói cả 9 người lại. Trước khi rút lui, chúng tôi không quên dìm con tầu đánh cá của địch xuống đáy biển.
Với thời gian chớp nhoáng, từ lúc bắt đầu nhả đạn vào giàn rada cho tới khi bắt gọn đám thủy thủ của chiếc tầu đánh cá chỉ trong vòng 20 phút. Tôi vẫn không quên được, do cái bản tính tiểu tư sản, quân tử Tầu mà nhiều người trong chúng ta đều có. Khi kẻ địch thất thế bị bắt trong tay mình rồi, tình người của tôi lại trỗi dậy. Trước những bộ mặt tái mét, run rẩy của họ, tôi đã bóc từng múi cam đút vào miệng cho họ vì tay họ bị trói. Tôi đốt từng điếu thuốc, cầm cho từng người hút. Tôi còn nhớ rõ cái ông thuyền trưởng tên là Đán, đã thổn thức, ngập ngừng nói với tôi:
- Anh tử tế quá!
Tóm lại, chuyến công tác buổi đầu của tôi hoàn toàn thành công. Từ năm 1965 trở đi dường như tháng nào tôi cũng có mặt, ít nhất là 3 lần tại bờ biển miền Bắc, từ vĩ tuyến 17 cho đến đảo Bạch Long Vĩ. Thường, thường, với nhiệm vụ phối hơp chặt chẽ với PTF để phong tỏa, bắn phá các mục tiêu quân sự dọc theo bờ biển từ Quảng Bình cho đến Móng Cái. Đôi khi, đổ bộ do thám và dùng chất nổ để phá một số trạm tiếp tế nhiên liệu. đây là những trạm dừng chân, chuyển đổi để địch mang nhiên liệu, tiếp tế vào Nam.
Tôi nhớ một chuyến vào khoảng tháng 5 năm 1965. Toán của tôi gồm 6 người được chỉ định đi công tác, gồm có: Quý, Tăng, Văn, Bằng, Hoa và tôi. Ngay từ tối hôm trước, huấn luyện viên đã thông báo giờ giấc, chúng tôi phải mang đầy đủ vũ khí, quân trang, đồ nghề có mặt tại phòng hành quân. Sau khi nghe thuyết trình xong, chúng tôi được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người. Chúng tôi được nhận thêm hơn mọi khi 2 cây đại bác không giật 106mm và 6 thùng chất nổ.
Mục đích của chuyến công tác này là phối hợp với PTF nhằm tiêu diệt và bắt sống một số tàu, thuyền. Tin tình báo khai thác được từ những cái lưỡi sống cho biết: Hải quân Việt Cộng đã ngụy trang thành thuyền đánh cá hoặc vận tải để tránh sự oanh kích của không quân Hoa Kỳ. Mặt khác, chúng rình rập ngày đêm để chuyển vũ khí đạn dược vào Nam cho đồng bọn.
Xuất phát điểm cũng từ hải khu Đà Nẵng. Chuyến công tác này của chúng tôi gồm 3 chiếc PTF. Toán tôi được bố trí xuống 2 chiếc, mỗi chiếc 3 người. Còn lại chiếc thứ 3 dành cho người của toán bạn. Tầu rời bến từ lúc giữa trưa, cho đến chiều, chúng tôi đã vượt qua hòn Cơ (tức hòn Cọp). Vào khoảng 12 giờ đêm, chúng tôi được lệnh sẵn sàng chiến đấu. Chỉ 5 phút sau, chiếc PTF đi đầu đã khai hỏa nổ súng bắn chặn một trong hai chiếc tầu của địch đang mở hết tốc lực, chạy về hướng có tầm hỏa lực yểm trợ của bọn chúng ở trong đất liền đang bắn ra.
Chiếc PTF đi đầu vẫn tiếp tục bám riết, nổ súng truy kích chiếc tầu địch đã trốn thoát vào bờ, đồng thời vẫn làm công tác yểm trợ, cảnh giới để 2 chiếc còn lại khống chế và dùng loa phóng thanh, hướng về chiếc tầu địch đang trong vòng vây ở ngoài khơi, kêu gọi địch quân hãy bỏ hết vũ khí lên boong tầu và để 2 tay lên đầu. Bọn chúng trong thế cùng đã làm y như vậy, theo lệnh của tiếng loa. Với ngọn đèn pha cực mạnh của 2 chiếc PTF, chúng tôi có thể nhìn rõ từng động tác một của chúng. Văn, Bằng và tôi đang chuẩn bị tư thế nhẩy sang tầu địch, kiểm soát, bắt tù binh và đặt chất nổ phá tầu. Thình lình, ngay lúc đó, một tia chớp nhoáng lên, xanh cả mặt biển. Một tiếng nổ xé tai gần ngay cạnh chúng tôi, thân tầu của chúng tôi run lên. Biết rằng có phản biến, ngay tức khắc, các họng súng của chúng tôi đồng loạt khạc lửa trùm lên tầu địch. Bọn đứng trên boong, không còn tên nào lọt sổ, ngay sau mấy chục giây đầu tiên. Sau 3 – 4 phút chiến đấu, tầu địch phát nổ tung. Ngọn lửa bốc cao rồi chìm dần, toàn bộ bọn chúng đã bị đền tội.
Phía chúng tôi, trên mỗi chiếc PTF có từ 10 đến 12 người, chỉ có 2 người bị thương. Một người, bị đạn làm rách một mảnh đùi, một người bị xước vai, chảy máu do một mảnh kính vỡ của tầu bắn vào. Tầu chúng tôi bị thủng một lỗ, đường kính vở khoảng 12 inches. Phòng rada bị phá hủy, nhưng rất may mắn, 2 buồng đầu lớn nằm sát ngay đấy lại không bị nổ. Lổ thủng ở phía trên mặt nước nên tầu vẫn tiếp tục chạy được. Toàn bộ nhân viên trở về Nam an toàn.
Thấy Chăn nói đã nhiều, phần khác, tôi lại vứa thèm thuốc, lại vừa mót đi tiểu, tôi hất chăn ra, vừa nhỏm dậy vừa quay lại Chăn:
- Mình đi giải lao đã, đi đái đi"
Chăn gật đầu rồi lồm cồm bò dậy. Thấy Chăn lúng túng, định với tay lên cái kệ gỗ trên phía đầu sàn để lấy cái quần dài mặc, tôi đẩy tay vào lưng Chăn:
- Vẽ vời, đây ra nhà cầu, cần gì! Khoác cái chăn cũng được rồi.
Tôi nhìn Chăn đang đứng xuống đất để cuộn cái chăn vào người, vừa gầy, vừa cao nên cái dáng lại càng khều khoào, đôi chân hơi khòng như chân gấu, tôi nói đùa:
- Chăn lại khoác chăn!


Chăn cười khềnh khệch. Ra đến ngoài mới biết, mặt trời đã lên cao đến 3 con sào. Chắc cũng khoảng 9 rưỡi, 10 giờ rồi. Trở vào buồng, hai anh em rủ nhau lúi húi bắn một điếu thuốc lào cho đời lên hương. Hai đứa lại nằm bên nhau, trong khi còn đang loay hoay hất cái chăn cho kín cả 4 cái chân, tôi chợt nghĩ đến một người, tôi quay lại hỏi Chăn:
- Này, thế Chăn có biết ông Phan không"
Chăn quay hẳn sang, mở to mắt nhìn tôi, ánh mắt đầy ngạc nhiên như muốn hỏi: “Tại sao tôi lại biết Phan"” Tuy vậy sau một vài giây ngập ngừng, Chăn vẫn trả lời:
- Ồ, ông Phan là người phụ trách chung về tình báo ở Đà Nẵng.
- Chăn có gặp ông ta lần nào không"
- Ông ta có xuống trại mấy lần. Nhóm tôi cũng đã ăn cơm chung với ông ấy một lần.
- Chắc hẳn, bây giờ là thiếu tá rồi"
- Đúng rồi, tuy ông Phan chỉ mặc thường phục, nhưng có lần đại úy Đoàn Hùng phụ trách trại tôi, chào là thiếu tá Phan.
Nghe Chăn trả lời, óc tôi miên man chảy về những cảnh đời ngày xưa đã 9 – 10 năm rồi. Bây giờ Phan là như vậy. Hẳn rằng chẳng có khi nào, Phan còn nhớ lại một thanh niên; trong một chiều mây buồn lãng đãng ở Đà Thành năm xưa, Phan đã tiễn đưa người ấy vào vùng gió xoáy của cuộc đời. Bây giờ người thanh niên ấy còn hay mất, u uất trong đêm dài ra sao" Dòng đời đã khép kín. Đẩy sâu vào hố thẳm của thời gian, Phan đã quên mất rồi. Tôi lắc lắc cái đầu, như muốn vẩy, muốn xua những gì trong đời không muốn nhớ.
Để góp phần đẩy, xô những hình ảnh làm tím thẫm lòng mình tan vào mây gió, tôi quay sang Chăn nói như giục:
- Bây giờ Chăn cho nghe tiếp chuyến đi định mệnh này đi!
Chăn đang nằm ngửa, mắt trừng trừng nhìn lên những tấm ván của sàn trên. Hình như mắt Chăn đang dõi tìm về một chân trời, có những cảnh đời nhiều hương sắc của mảnh đất Ngũ Hành Sơn. Chăn quay lại nhìn tôi, ngập ngừng một lúc, rồi lại xoay đầu nhìn về chỗ cũ của mấu tấm ván, Chăn tiếp tục:
Ngày mồng 6 tháng 6 năm 66, cái ngày định mệnh cuộc đời của bốn chúng tôi. Chúng tôi gồm: Vòng Hợp Văn, toán phó; Lý Giòng Slau, toán trưởng, Dương Long Sang và tôi là toán viên. Tất cả là 4 người. Chúng tôi được chỉ định đi chuyến công tác này, địa điểm và mục tiêu của công tác, chúng tôi đã đi 2 lần rồi. Để rồi lần này (lần thứ 3) đã đi thẳng một lèo, vào nhà tù của Cộng Sản.
Lần thứ nhất: Tầu chúng tôi đi gần đến điểm đổ bộ thì đột ngột có lệnh của bộ chỉ huy, gọi tầu của chúng tôi phải quay về.
Lần thứ hai: Cũng gồm 3 tầu PTF. Khi tầu đến điểm đổ bộ, chúng tôi đang chuẩn bị rời tầu để tiến vào mục tiêu thì chiếc tầu của tôi không hiểu vì sao đó, bỗng nhiên bị phát hỏa. Máy móc của tầu không thể sử dụng được nữa. Mục tiêu đổ bộ bị lộ, chúng tôi quyết định phải quay về, hủy bỏ công tác.
Đêm ngày 6/6/66. Chúng tôi lại được chỉ định đi tiếp chuyến cống tác đã phải bỏ dở 2 lần trước. Nhiệm vụ chính của công tác là do thám, quan sát và chụp ảnh một hải cảng mới, thường có tầu của nước ngoài hay ra vào.
Tôi còn nhớ rất rõ, vào một ngày Chủ Nhật, hôm ấy, chúng tôi một nhóm 4 người lái xe sang thành phố Đà Nẵng chơi. Một lúc sau, một anh trung sĩ liên lạc, lái chiếc xe jeep sang tìm chúng tôi về, vì có lệnh cấm trại 100%. Chúng tôi đã từ chối không trở về trại, chỉ vì huấn luyện viên trực tiếp của chúng tôi là ông Brawne đã đi nghỉ mát 2 tuần ở Hồng Kông. Trước khi đi, ông ấy đã căn dặn 2 – 3 lần với chúng tôi: “Trong thời gian tôi đi Hồng Kông, không một ai có thể điều các anh đi bất cứ nơi nào, mà không có sự ủy nhiệm của tôi.” Vì vậy chúng tôi dứt khoát, không về trại.
Đến buổi chiều, lại có 2 người Mỹ cũng đi một chiếc xe jeep, sang gặp chúng tôi. Một trong 2 người này, tôi biết rõ, ông ta làm việc ở bên khu trại Bạch Đằng, Đà Nẵng. Trước đây, ông này thường đi thực tập với tôi. Còn lại người Mỹ kia, rất lạ với chúng tôi. Ông ta tự giới thiệu với chúng tôi, ông ta mới đến đây được 2 ngày; hiện nay, ông là trưởng huấn luyện viên của chúng tôi, thay thế ông Brawne đã trở về Mỹ. Sau đó ông ta nói chuyện với chúng tôi rất là tâm lý. Ông ta nói rằng, trước khi đến gặp chúng tôi, ông ta đã nghiên cứu nhiều lần, rất kỹ về quá trình những công tác của chúng tôi. Ông ta hết sức khen ngợi về những thành tích mà chúng tôi đã tháo vát, linh hoạt, dũng cảm đạt được. Cuối cùng, ông khuyên chúng tôi hãy trở về trại... rồi thì sẽ có cuộc họp riêng với ông ta…
Buổi tối hôm ấy, chúng tôi bốn người được gọi lên văn phòng, để gặp cái ông Mỹ đó, người huấn luyện viên mới của chúng tôi. Ông ta tỏ ra là một người khá giầu kinh nghiệm về tâm lý con người. Ông ta khêu gợi lòng ham muốn tang bồng, hồ thỉ của người con trai; đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, dân tộc. Chỉ sau hơn một giờ ông ta thuyết phục, chúng tôi đã hăm hở, tự nguyện nhận đi công tác, bất cứ khi nào mà kế hoạch yêu cầu.
Ngay từ 7 giờ sáng, ngày 6/6/66, chúng tôi bốn người đều hân hoan chuẩn bị hành trang, vũ khí để đi công tác. Thường ngày, mỗi buổi sáng chúng tôi phải tập thể dục, thể thao và bơi lội một tiếng rưỡi đồng hồ, nhưng hôm đó, chúng tôi không phải tập thể dục theo toán.
Nói là chuẩn bị chứ thật ra, chả có cái quái gì phải chuẩn bị cả, vì rằng công tác đối với chúng tôi đã như cơm bữa rồi. Về tất cả những thứ cần thiết, để đi công tác thì đã có những bộ phận khác lo sẵn. Điều quan trọng nhất của chúng tôi, là ổn thỏa về mặt tinh thần là xong hết. Cũng như mọi khi, chúng tôi rời bến tại hải khu Đà Nẵng, vào lúc gần trưa ngày 6/6/66.
Đoàn tầu gồm 3 chiếc PTF. Trên đường đi đến mục tiêu, bốn anh em chúng tôi đã bàn thảo, sắp xếp và xác định lại một lần nữa, những công việc phải làm, của từng người. Chúng tôi cũng lần lượt kiểm tra lại tất cả những vật dụng, mà chúng tôi cần phải mang theo.
Khoảng 1 giờ sáng, ngày 7/6/66 thì đoàn tầu đã đưa chúng tôi đến điểm đổ bộ. Chuyến công tác này, người trực tiếp đi theo trên Hải Tốc Đỉnh, tiễn đưa chúng tôi là đại úy Đoàn Hùng. Ông này là trưởng trại Mỹ Khê, thuộc sở phòng vệ duyên hải. Trước khi chúng tôi rời tầu mẹ, ông Hùng lần lượt bắt tay từng người của chúng tôi và chúc tụng. Làm sao tôi quên được cái buổi chia tay chẳng muốn nhớ ấy. Theo kế hoạch đã quy định, chúng tôi lợi dụng đêm tối sẽ bí mật bơi vào một khu rừng non an toàn, ở gần ngay bờ biển. Một ngày trời ở đấy, để chúng tôi chụp ảnh những tầu bè của địch ra vào và quan sát, do thám mục tiêu. Một giờ đêm hôm sau, tầu PTF sẽ lại ra đón chúng tôi, ở ngoài khơi theo những tín hiệu của máy hồng ngoại tuyến. Chính vì vậy nên đại úy Hùng, lúc chia tay đã ân cần hỏi chúng tôi:
- Mai, khi chúng tôi ra đón, các anh cần ăn gì, tôi sẽ mua cho"
Tôi đưa mắt nhìn ông Hùng và những anh còn lại trên chiếc PTF, tâm trạng dửng dưng như một buổi đi thực tập ở trong Nam, vì thế tôi đã vừa cười vừa trả lời. “Có lẽ không cần phải mang thức ăn, chỉ cần mua cho chúng tôi ít cam, hay quít là được rồi.” Tôi có biết đâu rằng, cam hay quít đó, mãi mãi cùng với hình ảnh đại úy Hùng và các anh em còn lại trên tầu, đã và đang lùi dần vào sau cánh cửa đời đã khép kín; bốn chúng tôi đã sang một cảnh đời khác từ đây.
Chúng tôi, bốn người lao mình xuống biển trong màn đêm dầy đặc; nước đang réo lên trong những lớp sóng bạc đầu. Đoàn tầu quay mũi tăng tốc độ, vọt trở về hướng Nam. Âm thanh của những chiếc máy tầu dội lên, nhỏ dần rồi mất hẳn, chỉ còn tiếng ì ầm của sóng biển và những tiếng bơi lội bì bõm của bốn anh em chúng tôi.
Theo tôi ước tính, chậm nhất là 3 giờ sáng, chúng tôi sẽ đến được mục tiêu đã ấn định. Với một khoảng dài trên dưới 1 cây số, thông thường. chỉ cần 1 tiếng đồng hồ là đã tới rồi. Khi còn ở trại, các huấn luyện viên đã chọn những địa điểm tương tự, hoặc khó khăn phức tạp hơn, để cho chúng tôi thực tập đi, thực tập lại rất nhiều lần như vậy rồi. Hôm nay, chúng tôi không dùng bình dưỡng khí, mà chỉ bơi bằng tay, vì phải kéo theo một chiếc thuyền cao su nhỏ để chở theo một số dụng cụ rất là cồng kềnh.
Trong màn đêm đen tối mịt mù, dầy đặc khói sương, chúng tôi cứ bơi mãi. Khi xem đồng hồ thì đã 4 giờ sáng, nghĩa là chúng tôi đã bơi được 3 tiếng đồng hồ rồi, nhưng nhìn về hướng đất liền, trong ánh sáng lờ mờ, chỉ thấy có trời với nuóc. Tuy không nói ra, nhưng trong bụng người nào cũng có phần thấm mệt, đã 3 giờ đồng hồ ngâm dầm ở dưới nước lạnh rồi. Chúng tôi mở hải bàn, xác định lại một lần nữa. Hướng đi và góc độ vẫn chính xác. Tuy lạnh và mệt, chúng tôi vẫn nỗ lực hướng về mục tiêu bơi tiếp.
Gần 5 giờ sáng rồi, mà nhìn về hướng mục tiêu, vẫn chỉ là trời nước bao la. Khi thuyết trình ở phòng hành quân, huấn luyện viên và những người liên hệ, đã cho chúng tôi biết: Điểm từ tầu mẹ vào đến đất liền không quá 800 mét, nên không có lý do gì mà phải mất đến 4 giờ đồng hồ bơi cả. Tay và chân vẫn đều đều những động tác lướt đi trong nước, nhưng nỗi băn khoăn trong lòng chúng tôi càng lúc càng lớn. Nhìn về phía mục tiêu, tuy chưa thấy một hiện tượng gì của đất liền, nhưng về phía tay mặt, thỉnh thoảng có những luồng chớp sáng. Lúc đó, chúng tôi chưa xác định được là cái gì, vì màn đêm vẫn còn quá dầy đặc.
Theo quy định, chúng tôi phải vào đất liền, đến khu an toàn trước khi trời còn mờ sáng, nhưng lúc này chân trời phía Đông đã có mầu sữa đục, mà hướng đất liền vẫn chỉ có nước với trời gắn liền nhau. Đầy hoang mang lo lắng, Lý Giòng Slau quyết định mở máy ra để liên lạ với tầu mẹ, mặc dù có lệnh cấm nghiêm ngặt. Chỉ đến ngày hôm sau, khi tầu đến đón trong giờ quy định mới được mở máy ra liên lạc mà thôi. Sở chỉ huy cho rằng, nếu mở máy liên lạc, rất dễ bị địch phát hiện bằng máy kiểm thính. Nhưng Slau loay hoay mãi, không hiểu vì lý do gì, do nước biển hay trục trặc về kỹ thuật, máy cũng không liên lạc được.
Đã gần 6 giờ sáng rồi, chúng tôi đã thất vọng hoàn toàn, vì trời đã sáng dần mà chúng tôi vẫn cách bờ khoảng chừng 600 mét. Vừa lạnh, vừa mệt rã rời nhưng chúng tôi vẫn động viên nhau tiếp tục bơi vào. Theo không ảnh mà chúng tôi đã được nghiên cứu thì nơi chúng tôi đến là chỗ không có người, nếu có chăng nữa củng chỉ họa hoằn một vài người đi làm rừng đốt than mà thôi. Đến khoảng 6 giờ 30, nhìn vào phía bờ cảnh, vật đã hiện lên lờ mờ, thậm chí chúng tôi đã nhìn thấy cả những bóng người di chuyển. Tuy chẳng ai nói với ai nhưng đều hiểu cuộc đời chúng tôi đã trôi, chuyển sang chỗ đen tối, tàn lụi. (Còn tiếp....)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.