Hôm nay,  

Kinh Tế Và Bầu Cử Tại Hoa Kỳ

13/03/200800:00:00(Xem: 7474)

...đảng Dân chủ đề ra nhiều biện pháp kiểm soát hoặc hạn chế mậu dịch...
Kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm hay chưa, và sẽ ảnh hưởng ra sao đến cuộc tranh cử tổng thống đang diễn ra tại Mỹ" Kính thưa quý vị, tuần qua, khi dầu thô lên giá tới mức kỷ lục thì thống kê lao động Hoa Kỳ lại cho thấy một sự sút giảm nặng nhất từ năm năm nay. Nguy cơ suy trầm kinh tế tại Hoa Kỳ đang trở thành hiện thực, giữa một cuộc tranh cử tổng thống có đầy bất ngờ. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về ảnh hưởng của tình hình kinh tế đối với cuộc bầu cử và chính sách kinh tế của Hoa Kỳ. Phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, với thống kê lao động vừa được công bố Thứ Sáu mùng bảy vừa qua, dư luận Hoa Kỳ tin rằng kinh tế xứ này đang bị suy trầm vì số người có việc làm đã sút giảm đáng kể trong ba tháng liền. Nhiều người còn dự báo một cuộc khủng hoảng lớn nếu nhìn ra rất nhiều vấn đề chồng chất, như dầu thô lên giá kỷ lục là hơn 109 đồng một thùng, và hệ thống tài chính tín dụng đang bị nghẽn tắc dù Ngân hàng Trung ương đã liên tục hạ lãi suất. Trong khi ấy, cuộc tranh cử tổng thống tại Mỹ đang đi vào giai đoạn ráo riết với rất nhiều bất ngờ mà hồi đầu năm ít ai đoán ra.
Trong chương trình chuyên đề tuần này, xin đề nghị là ta sẽ tìm hiểu xem kinh tế Hoa Kỳ có bị khủng hoảng hay không, và tình hình kinh tế đó sẽ ảnh hưởng thế nào đến đường lối chính sách Hoa Kỳ trong một năm tranh cử, với hậu quả ra sao trên toàn thế giới.
Thưa ông, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là kinh tế Mỹ có bị khủng hoảng hay không"
- Trước khi đi vào đề tài rất rắc rối này vì bao hàm nhiều dự đoán mà chưa ai biết kết quả, tôi xin được nói tới một khía cạnh văn hoá khá đặc biệt của dân Mỹ.
Người Mỹ nói chung thường rất lạc quan tin tưởng vào định mệnh khác biệt của mình, là gặp trở ngại thách đố nào thì Hoa Kỳ cũng thừa sức vượt qua và thế giới nên theo gương của họ. Đồng thời, cũng người Mỹ lại rất dễ hốt hoảng vì thường bị khủng hoảng vào lúc bất ngờ. Đặc điểm ở đây là cùng một người hay một thành phần dân chúng lại có thể đảo ngược lập trường từ lạc quan sang bi quan thái quá, và thường đảo ngược như vậy trong một năm tranh cử do lý luận của giới chính trị hay truyển thông ít am hiểu về kinh tế.
Năm nay, Hoa Kỳ có tổng tuyển cử để bầu lại Tổng thống, toàn thể Hạ viện, chừng một phần ba Thượng viện và rất nhiều chức vụ dân cử khác, từ Thống đốc các tiểu bang trở xuống, cho nên sự đảo chiều tâm lý là điều rất dễ xảy ra, và có thể là đang xảy ra.
Trở lại câu hỏi của ông, thì từ năm 1929, tức là từ gần 80 năm nay, dân Mỹ luôn chờ đợi một cuộc đổi đời như vụ tổng khủng hoảng 1929-1933 đã phần nào dẫn tới Thế chiến thứ Hai vào năm 1939. Trong năm tranh cử tổng thống, các ứng cử viên đều nhắc dân chúng về viễn ảnh u ám đó và vì năm nay tình hình kinh tế lại có vẻ bết bát hơn nên càng nhiều người nêu lên câu hỏi ấy - tất nhiên là với những hứa hẹn giải cứu.
Hỏi: Nhưng, vụ tổng khủng hoảng 1929 là biến cố gì mà cho đến nay vẫn còn ám ảnh nhiều người Mỹ, khiến thiên hạ lại nói đến nguy cơ tổng khủng hoảng"Tình hình thời đó so với thời nay có gì tương đồng để người ta lại lo sợ như vậy"
- Vào quãng 1920, người Mỹ là dân tộc hồ hởi nhất thế giới với những triển vọng vô biên của nền công nghiệp mở ra trước mắt mà quên hẳn nỗi lầm than của khu vực canh nông đang bị đào thải dần. Như mọi sự thăng trầm trên đời, đỉnh cao của hồ hởi cũng báo hiệu sự suy sụp trước mắt. Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán đã gây hốt hoảng lan rộng và dẫn tới những liều thuốc đổ bệnh, từ khủng hoảng gây ra tổng khủng hoảng.
Dù đã xảy ra từ tám chục năm trước, nỗi kinh hoàng ấy vẫn còn ám ảnh người Mỹ và ám ảnh mạnh mỗi khi kinh tế bị suy trầm, là hiện tượng bình thường của "chu kỳ" hay "thời vụ kinh doanh", thường xảy ra sáu bảy năm một lần. Lần này, chúng ta có thể đang gặp một vụ suy trầm mới sau đợt suy trầm năm 2001, nhưng xảy ra trên nỗi lầm than của khu vực chế biến công nghiệp trong khung cảnh toàn cầu hóa cho nên người ta mới dễ hốt hoảng.
Người lạc quan thì cho rằng kinh tế sẽ bị suy trầm như đã từng bị trong các năm 1981-82, hay 1990-91, hoặc vào năm 2001 và tính bình quân thì nạn suy trầm sẽ không kéo dài quá một năm. Người bi quan thì cho rằng lần này sẽ khác và có thể là một tái diễn của 1929.
Hỏi: Nhưng liệu chúng ta có thể biết trước được thời điểm hay mức độ trầm trọng của nạn suy trầm hay suy thoái hay khủng hoảng ấy không"
- Với tất cả những hiểu biết của nhân loại về kinh tế học từ hơn hai thế kỷ nay, người ta vẫn chỉ có năm sáu cách dự báo không hoàn toàn chính xác, là đúng hay sai về thời điểm và về cường độ. Tuy nhiên, cũng nhờ học hỏi kinh nghiệm từ vụ Tổng khủng hoảng 1929, hệ thống Ngân hàng Trung ương Mỹ biết cách ứng phó linh động và chuẩn xác hơn nên nhờ đó mà chu kỳ suy trầm không kéo dài và mức độ suy sụp cũng bớt trầm trọng.
Nói chung thì cho đến nay, chưa ai có thể biết trước được mọi việc. Chuyện éo le là khi cơ quan có khả năng theo dõi rất sát như Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia, gọi tắt là NBER, thông báo rằng kinh tế đang bị suy trầm thì thực tế là nạn suy trầm đã kết thúc. Nhưng vì mọi sự đều mơ hồ như vậy nên các chính trị gia càng có cơ hội báo động hay đề nghị giải pháp cứu nguy, đôi khi là giải pháp đổ bệnh mà mãi về sau người ta mới biết được.
Hỏi: Nhưng chẳng lẽ một quốc gia tiên tiến về kinh tế như Hoa Kỳ lại không biết là tình hình kinh tế đang lên hay xuống hay sao"
- Dạ thưa không biết và đấy mới là sự lý thú của đời sống! Chỉ có chủ quan như Marx mới mạnh miệng nói về quy luật kinh tế hay thiếu hiểu biết kinh tế như Lenin mới cho rằng quản lý kinh tế theo kiểu tập trung kế hoạch cũng đơn giản máy móc như phát thư!
Cũng vậy, mươi năm về trước nhiều người Mỹ hồ hởi nói đến sự xuất hiện của một hình thái gọi là "kinh tế mới" nhờ cuộc cách mạng siêu kỹ thuật khiến kinh tế sẽ thoát khỏi sức hút của địa cầu và ra khỏi quy luật chu kỳ kinh doanh bình thường. Sau đó là vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 2000 và nạn suy trầm năm 2001. Vì vậy mà ta mới nói về tính lạc quan thái quá sau đó là sự hốt hoảng bậy của cùng một thành phần dân chúng.
Nhưng ta nên trở lại đề tài hôm nay là từ sau Thế chiến II, kinh tế Hoa Kỳ đã trải qua ba giai đoạn tăng trưởng dài ngắn khác nhau qua nhiều đổi thay lớn trong cơ cấu sản xuất. Sự thay đổi ấy đang diễn ra trong khu vực công nghiệp chế biến nên dẫn tới phản ứng dội ngược là tinh thần bảo hộ mậu dịch và thậm chí chống toàn cầu hoá đang xảy ra tại Mỹ, với hậu quả vô cùng tai hại cho thế giới, trong đó có cả Việt Nam.


Hỏi: Trước khi nói về các phản ứng dội ngược ấy, xin hỏi ông về những giai đoạn tăng trưởng đã qua, đi cùng những đổi thay trong cơ cấu sản xuất của Hoa Kỳ.
- Sau Thế chiến II, việc tái thiết và phát triển đã kéo dài liên tục trong hai chục năm, nói cho gọn là từ 1948 đến 1968, với đà công nghiệp hoá liên tục đã dẫn tới nhiều đổi thay trong xã hội. Kế tiếp là thời kỳ hoài nghi lo sợ và hàng loạt biện pháp kinh tế với tác dụng ngược là suy trầm đi cùng lạm phát cao và thất nghiệp nặng, từ 1968 cho tới đầu thập niên 80, tới năm 1982.
Hỏi: Nhưng thời điểm 1968 ấy có khi cũng trùng với cuộc chiến tại Việt Nam nên có là một yếu tố chi phối hay không"
Thưa cuộc chiến Việt Nam không giải thích tất cả sự việc, vì đây có thể là một trạng thái khủng hoảng xã hội với những giải pháp kinh tế bao cấp vào thời kỳ 1968-1981.
Từ năm 1982, sau nạn suy trầm 1981-82, kinh tế Mỹ mới bước qua một giai đoạn phát triển liên tục trong một phần tư thế kỷ, với lạm phát thấp, lãi suất nhẹ và thất nghiệp ít. Giai đoạn ấy dẫn tới trào lưu toàn cầu hoá với những đổi thay lớn trong cấu trúc tài chính thế giới được xây dựng từ sau Thế chiến II.
Nhưng ngay trong nước Mỹ, nền công nghiệp chế biến cũng phải thoát xác, nhiều ngành bị đào thải. Chính là yêu cầu đổi thay ấy dẫn tới phản ứng ngược là chống toàn cầu hoá và bảo hộ mậu dịch. Tinh thần bi quan hốt hoảng mới làm nhiều người nói đến tổng khủng hoảng dù sự thể có thể chỉ là một vụ suy trầm nhẹ. Và các chính trị gia làm nốt phần vụ còn lại là gióng chuông báo động để đắc cử!
Hỏi: Chẳng lẽ người dân Mỹ lại ngây thơ nhẹ dạ như vậy hay sao"
- Thưa không hẳn như vậy, nhưng nếu nói chung là họ có ưu điểm là tích cực lao về phía trước thì cũng có nhược điểm là khá mù mờ về lịch sử. Từ cuối thế kỷ 19, từ sau cuộc Nội chiến, Hoa Kỳ tìm ra định mệnh mới với một lãnh thổ bát ngát, di dân tràn ngập và đầu tư Âu châu dồi dào. Với ba yếu tố sản xuất là đất đai, lao động và tư bản có sẵn, Hoa Kỳ sớm vươn lên thành một cường quốc công nghiệp và coi như có thể chiến thắng được định mệnh cho tới cuộc Tổng khủng hoảng 1929 thì mới chưng hửng, như cũng sẽ chưng hửng khi bị Nhật Bản tấn công tại Trân châu cảng vào năm 1941. Những yếu tố ấy có thể giải thích vì sao dân Mỹ hay lạc quan tự tin rồi lại dễ hốt hoảng.
Ngày nay, trong thời đại hậu công nghiệp, họ cũng dễ bị khủng hoảng tâm lý vì quên hẳn hiệu năng rất cao của khu vực dịch vụ với vai trò của công nghệ tin học, nhưng lại được nhắc nhở về những suy tàn trong khu vực công nghiệp chế biến để lui về chế độ bao cấp.
Hỏi: Ý kiến đó khiến chúng ta bước qua phần thứ hai của chương trình, về những chủ trương kinh tế trong cuộc tranh cử hiện nay tại Mỹ. Ông có nói tới phản ứng dội ngược với tinh thần bảo hộ mậu dịch, thậm chí chống toàn cầu hoá. Vì sao lại như vậy"
- Có lẽ chúng ta sẽ phải dành riêng một chương trình cho vấn đề này.
Tôi chỉ xin được nói vắn tắt là đảng Dân chủ tại Hoa Kỳ đang trở thành một đảng lui về xu hướng bảo hộ mậu dịch và hai ứng cử viên tổng thống của đảng này là Nghị sĩ Hillary Clinton của New York và Barack Obama của Illinois đang thi đua thành tích bảo hộ, qua việc xét lại các hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ đã ký kết. Bên đảng Cộng hoà thì Nghị sĩ John McCain vẫn đề cao tự do mậu dịch như đa số nhân vật dân cử trong đảng.
Điều đáng chú ý ở đây là trong lịch sử và từ khi thành lập, đảng Dân chủ vẫn là một đảng đề cao kinh tế thị trường và tự do mậu dịch trong khi đảng Cộng hoà mới có lúc chủ trương tự cô lập và bảo hộ mậu dịch. Ngày nay, sự thể lại đảo điên khác hẳn và sau khi chiếm đa số trong Quốc hội vào tháng 11 năm kia, đảng Dân chủ đề ra nhiều biện pháp kiểm soát hoặc hạn chế mậu dịch, thậm chí xét lại nhiều hiệp định Hoa Kỳ đã ký kết.
Một điển hình là Thỏa ước Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ NAFTA áp dụng từ năm 1994.
Đây là một thành tích đáng kể của Tổng thống Bill Clinton sau hai năm vận động vất vả và thông qua được là nhờ lá phiếu Cộng hoà trong Quốc hội. Thoả ước này mở rộng trao đổi kinh tế với hai đối tác quan trọng nhất của Mỹ về ngoại thương là Canada và Mexico. Bây giờ, đảng Dân chủ đang đòi xét lại Thỏa ước này đến độ Nghị sĩ Hillary Clinton phải đi ngược với quan điểm của ông Clinton mà đề nghị một khoảng thời gian tạm hoãn để tái xét. Khi kinh tế Mỹ lại bị nguy cơ suy trầm như hiện nay, với thất nghiệp tăng và sản xuất giảm, nhiều người sẽ thấy rằng chính sách bảo hộ mậu dịch ấy là đúng.
Các quốc gia đang buôn bán với Hoa Kỳ đều theo dõi rất sát sự việc này và mong rằng đây chỉ là vì nhu cầu tranh cử nhất thời chứ Mỹ sẽ không đơn phương phủ nhận những cam kết ngoại thương của mình. Từ nay đến tháng Tám, khi cuộc tranh cử tổng thống Mỹ đi vào vòng cuối, chúng ta sẽ còn trở lại đề tài này, và khi ấy những chỉ dấu của thịnh suy kinh tế tại Mỹ cũng có thể rõ ràng hơn.
Hỏi: Chúng ta đã đi đến cuối chương trình, xin hỏi ông một câu rất nóng về tình hình kinh tế Việt Nam. Sau những hốt hoảng vừa qua trên thị trường chứng khoán mà ông có đề cập tới, Chính phủ Việt Nam đã ban hành biện pháp cứu vãn với việc Tổng công ty Quản lý vốn nhà nước SCIC được phép mua lại cổ phiếu của một số doanh nghiệp trên thị trường để kích cầu. Nhiều người thắc mắc nêu câu hỏi là biện pháp ấy có công hiệu hay không. Câu trả lời của ông ra sao"
- Câu trả lời vắn tắt của tôi là đấy là liều thuốc đổ bệnh để cứu một thiểu số mà có thể gây họa cho đa số, là điều chúng ta đã cảnh báo từ chương trình tuần trước.
Câu trả lời chi tiết hơn một chút là: thị trường chứng khoán đang rơi đúng thực giá của nó, dù việc ấy không hợp với ước vọng của các nhà đầu tư tay mơ đã đi vào thị trường như vào sòng bạc. Nhưng thay vì giải thích cho rõ và tập trung giải quyết vấn đề ưu tiên và có ảnh hưởng cho đại đa số dân chúng là nạn vật giá gia tăng phi mã, thì người ta lại nhìn vào cái ngọn là nạn thiếu thanh khoản nhất thời mà can thiệp vào thị trường bằng cách bơm tiền. Hậu quả là giá cổ phiếu có thể tạm chững vài ngày nhưng vẫn là tín hiệu sai cho thị trường và sẽ còn gây thêm lầm lạc cho nhà đầu tư.
Sau đó biện pháp này còn nâng cao bội chi ngân sách, tức là gây thêm lạm phát, và sẽ củng cố vai trò của doanh nghiệp nhà nước, tức là đi ngược sự cam kết với WTO khiến Việt Nam mất niềm tin của thế giới. Trong một kỳ sau, có lẽ ta nên trở lại vấn đề của các liều thuốc đổ bệnh đã dẫn đến khủng hoảng.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.