Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Kinh Tế Và Bầu Cử Tại Hoa Kỳ

13/03/200800:00:00(Xem: 5968)

...đảng Dân chủ đề ra nhiều biện pháp kiểm soát hoặc hạn chế mậu dịch...
Kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm hay chưa, và sẽ ảnh hưởng ra sao đến cuộc tranh cử tổng thống đang diễn ra tại Mỹ" Kính thưa quý vị, tuần qua, khi dầu thô lên giá tới mức kỷ lục thì thống kê lao động Hoa Kỳ lại cho thấy một sự sút giảm nặng nhất từ năm năm nay. Nguy cơ suy trầm kinh tế tại Hoa Kỳ đang trở thành hiện thực, giữa một cuộc tranh cử tổng thống có đầy bất ngờ. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về ảnh hưởng của tình hình kinh tế đối với cuộc bầu cử và chính sách kinh tế của Hoa Kỳ. Phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, với thống kê lao động vừa được công bố Thứ Sáu mùng bảy vừa qua, dư luận Hoa Kỳ tin rằng kinh tế xứ này đang bị suy trầm vì số người có việc làm đã sút giảm đáng kể trong ba tháng liền. Nhiều người còn dự báo một cuộc khủng hoảng lớn nếu nhìn ra rất nhiều vấn đề chồng chất, như dầu thô lên giá kỷ lục là hơn 109 đồng một thùng, và hệ thống tài chính tín dụng đang bị nghẽn tắc dù Ngân hàng Trung ương đã liên tục hạ lãi suất. Trong khi ấy, cuộc tranh cử tổng thống tại Mỹ đang đi vào giai đoạn ráo riết với rất nhiều bất ngờ mà hồi đầu năm ít ai đoán ra.
Trong chương trình chuyên đề tuần này, xin đề nghị là ta sẽ tìm hiểu xem kinh tế Hoa Kỳ có bị khủng hoảng hay không, và tình hình kinh tế đó sẽ ảnh hưởng thế nào đến đường lối chính sách Hoa Kỳ trong một năm tranh cử, với hậu quả ra sao trên toàn thế giới.
Thưa ông, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là kinh tế Mỹ có bị khủng hoảng hay không"
- Trước khi đi vào đề tài rất rắc rối này vì bao hàm nhiều dự đoán mà chưa ai biết kết quả, tôi xin được nói tới một khía cạnh văn hoá khá đặc biệt của dân Mỹ.
Người Mỹ nói chung thường rất lạc quan tin tưởng vào định mệnh khác biệt của mình, là gặp trở ngại thách đố nào thì Hoa Kỳ cũng thừa sức vượt qua và thế giới nên theo gương của họ. Đồng thời, cũng người Mỹ lại rất dễ hốt hoảng vì thường bị khủng hoảng vào lúc bất ngờ. Đặc điểm ở đây là cùng một người hay một thành phần dân chúng lại có thể đảo ngược lập trường từ lạc quan sang bi quan thái quá, và thường đảo ngược như vậy trong một năm tranh cử do lý luận của giới chính trị hay truyển thông ít am hiểu về kinh tế.
Năm nay, Hoa Kỳ có tổng tuyển cử để bầu lại Tổng thống, toàn thể Hạ viện, chừng một phần ba Thượng viện và rất nhiều chức vụ dân cử khác, từ Thống đốc các tiểu bang trở xuống, cho nên sự đảo chiều tâm lý là điều rất dễ xảy ra, và có thể là đang xảy ra.
Trở lại câu hỏi của ông, thì từ năm 1929, tức là từ gần 80 năm nay, dân Mỹ luôn chờ đợi một cuộc đổi đời như vụ tổng khủng hoảng 1929-1933 đã phần nào dẫn tới Thế chiến thứ Hai vào năm 1939. Trong năm tranh cử tổng thống, các ứng cử viên đều nhắc dân chúng về viễn ảnh u ám đó và vì năm nay tình hình kinh tế lại có vẻ bết bát hơn nên càng nhiều người nêu lên câu hỏi ấy - tất nhiên là với những hứa hẹn giải cứu.
Hỏi: Nhưng, vụ tổng khủng hoảng 1929 là biến cố gì mà cho đến nay vẫn còn ám ảnh nhiều người Mỹ, khiến thiên hạ lại nói đến nguy cơ tổng khủng hoảng"Tình hình thời đó so với thời nay có gì tương đồng để người ta lại lo sợ như vậy"
- Vào quãng 1920, người Mỹ là dân tộc hồ hởi nhất thế giới với những triển vọng vô biên của nền công nghiệp mở ra trước mắt mà quên hẳn nỗi lầm than của khu vực canh nông đang bị đào thải dần. Như mọi sự thăng trầm trên đời, đỉnh cao của hồ hởi cũng báo hiệu sự suy sụp trước mắt. Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán đã gây hốt hoảng lan rộng và dẫn tới những liều thuốc đổ bệnh, từ khủng hoảng gây ra tổng khủng hoảng.
Dù đã xảy ra từ tám chục năm trước, nỗi kinh hoàng ấy vẫn còn ám ảnh người Mỹ và ám ảnh mạnh mỗi khi kinh tế bị suy trầm, là hiện tượng bình thường của "chu kỳ" hay "thời vụ kinh doanh", thường xảy ra sáu bảy năm một lần. Lần này, chúng ta có thể đang gặp một vụ suy trầm mới sau đợt suy trầm năm 2001, nhưng xảy ra trên nỗi lầm than của khu vực chế biến công nghiệp trong khung cảnh toàn cầu hóa cho nên người ta mới dễ hốt hoảng.
Người lạc quan thì cho rằng kinh tế sẽ bị suy trầm như đã từng bị trong các năm 1981-82, hay 1990-91, hoặc vào năm 2001 và tính bình quân thì nạn suy trầm sẽ không kéo dài quá một năm. Người bi quan thì cho rằng lần này sẽ khác và có thể là một tái diễn của 1929.
Hỏi: Nhưng liệu chúng ta có thể biết trước được thời điểm hay mức độ trầm trọng của nạn suy trầm hay suy thoái hay khủng hoảng ấy không"
- Với tất cả những hiểu biết của nhân loại về kinh tế học từ hơn hai thế kỷ nay, người ta vẫn chỉ có năm sáu cách dự báo không hoàn toàn chính xác, là đúng hay sai về thời điểm và về cường độ. Tuy nhiên, cũng nhờ học hỏi kinh nghiệm từ vụ Tổng khủng hoảng 1929, hệ thống Ngân hàng Trung ương Mỹ biết cách ứng phó linh động và chuẩn xác hơn nên nhờ đó mà chu kỳ suy trầm không kéo dài và mức độ suy sụp cũng bớt trầm trọng.
Nói chung thì cho đến nay, chưa ai có thể biết trước được mọi việc. Chuyện éo le là khi cơ quan có khả năng theo dõi rất sát như Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia, gọi tắt là NBER, thông báo rằng kinh tế đang bị suy trầm thì thực tế là nạn suy trầm đã kết thúc. Nhưng vì mọi sự đều mơ hồ như vậy nên các chính trị gia càng có cơ hội báo động hay đề nghị giải pháp cứu nguy, đôi khi là giải pháp đổ bệnh mà mãi về sau người ta mới biết được.
Hỏi: Nhưng chẳng lẽ một quốc gia tiên tiến về kinh tế như Hoa Kỳ lại không biết là tình hình kinh tế đang lên hay xuống hay sao"
- Dạ thưa không biết và đấy mới là sự lý thú của đời sống! Chỉ có chủ quan như Marx mới mạnh miệng nói về quy luật kinh tế hay thiếu hiểu biết kinh tế như Lenin mới cho rằng quản lý kinh tế theo kiểu tập trung kế hoạch cũng đơn giản máy móc như phát thư!
Cũng vậy, mươi năm về trước nhiều người Mỹ hồ hởi nói đến sự xuất hiện của một hình thái gọi là "kinh tế mới" nhờ cuộc cách mạng siêu kỹ thuật khiến kinh tế sẽ thoát khỏi sức hút của địa cầu và ra khỏi quy luật chu kỳ kinh doanh bình thường. Sau đó là vụ sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 2000 và nạn suy trầm năm 2001. Vì vậy mà ta mới nói về tính lạc quan thái quá sau đó là sự hốt hoảng bậy của cùng một thành phần dân chúng.
Nhưng ta nên trở lại đề tài hôm nay là từ sau Thế chiến II, kinh tế Hoa Kỳ đã trải qua ba giai đoạn tăng trưởng dài ngắn khác nhau qua nhiều đổi thay lớn trong cơ cấu sản xuất. Sự thay đổi ấy đang diễn ra trong khu vực công nghiệp chế biến nên dẫn tới phản ứng dội ngược là tinh thần bảo hộ mậu dịch và thậm chí chống toàn cầu hoá đang xảy ra tại Mỹ, với hậu quả vô cùng tai hại cho thế giới, trong đó có cả Việt Nam.


Hỏi: Trước khi nói về các phản ứng dội ngược ấy, xin hỏi ông về những giai đoạn tăng trưởng đã qua, đi cùng những đổi thay trong cơ cấu sản xuất của Hoa Kỳ.
- Sau Thế chiến II, việc tái thiết và phát triển đã kéo dài liên tục trong hai chục năm, nói cho gọn là từ 1948 đến 1968, với đà công nghiệp hoá liên tục đã dẫn tới nhiều đổi thay trong xã hội. Kế tiếp là thời kỳ hoài nghi lo sợ và hàng loạt biện pháp kinh tế với tác dụng ngược là suy trầm đi cùng lạm phát cao và thất nghiệp nặng, từ 1968 cho tới đầu thập niên 80, tới năm 1982.
Hỏi: Nhưng thời điểm 1968 ấy có khi cũng trùng với cuộc chiến tại Việt Nam nên có là một yếu tố chi phối hay không"
Thưa cuộc chiến Việt Nam không giải thích tất cả sự việc, vì đây có thể là một trạng thái khủng hoảng xã hội với những giải pháp kinh tế bao cấp vào thời kỳ 1968-1981.
Từ năm 1982, sau nạn suy trầm 1981-82, kinh tế Mỹ mới bước qua một giai đoạn phát triển liên tục trong một phần tư thế kỷ, với lạm phát thấp, lãi suất nhẹ và thất nghiệp ít. Giai đoạn ấy dẫn tới trào lưu toàn cầu hoá với những đổi thay lớn trong cấu trúc tài chính thế giới được xây dựng từ sau Thế chiến II.
Nhưng ngay trong nước Mỹ, nền công nghiệp chế biến cũng phải thoát xác, nhiều ngành bị đào thải. Chính là yêu cầu đổi thay ấy dẫn tới phản ứng ngược là chống toàn cầu hoá và bảo hộ mậu dịch. Tinh thần bi quan hốt hoảng mới làm nhiều người nói đến tổng khủng hoảng dù sự thể có thể chỉ là một vụ suy trầm nhẹ. Và các chính trị gia làm nốt phần vụ còn lại là gióng chuông báo động để đắc cử!
Hỏi: Chẳng lẽ người dân Mỹ lại ngây thơ nhẹ dạ như vậy hay sao"
- Thưa không hẳn như vậy, nhưng nếu nói chung là họ có ưu điểm là tích cực lao về phía trước thì cũng có nhược điểm là khá mù mờ về lịch sử. Từ cuối thế kỷ 19, từ sau cuộc Nội chiến, Hoa Kỳ tìm ra định mệnh mới với một lãnh thổ bát ngát, di dân tràn ngập và đầu tư Âu châu dồi dào. Với ba yếu tố sản xuất là đất đai, lao động và tư bản có sẵn, Hoa Kỳ sớm vươn lên thành một cường quốc công nghiệp và coi như có thể chiến thắng được định mệnh cho tới cuộc Tổng khủng hoảng 1929 thì mới chưng hửng, như cũng sẽ chưng hửng khi bị Nhật Bản tấn công tại Trân châu cảng vào năm 1941. Những yếu tố ấy có thể giải thích vì sao dân Mỹ hay lạc quan tự tin rồi lại dễ hốt hoảng.
Ngày nay, trong thời đại hậu công nghiệp, họ cũng dễ bị khủng hoảng tâm lý vì quên hẳn hiệu năng rất cao của khu vực dịch vụ với vai trò của công nghệ tin học, nhưng lại được nhắc nhở về những suy tàn trong khu vực công nghiệp chế biến để lui về chế độ bao cấp.
Hỏi: Ý kiến đó khiến chúng ta bước qua phần thứ hai của chương trình, về những chủ trương kinh tế trong cuộc tranh cử hiện nay tại Mỹ. Ông có nói tới phản ứng dội ngược với tinh thần bảo hộ mậu dịch, thậm chí chống toàn cầu hoá. Vì sao lại như vậy"
- Có lẽ chúng ta sẽ phải dành riêng một chương trình cho vấn đề này.
Tôi chỉ xin được nói vắn tắt là đảng Dân chủ tại Hoa Kỳ đang trở thành một đảng lui về xu hướng bảo hộ mậu dịch và hai ứng cử viên tổng thống của đảng này là Nghị sĩ Hillary Clinton của New York và Barack Obama của Illinois đang thi đua thành tích bảo hộ, qua việc xét lại các hiệp định tự do thương mại Hoa Kỳ đã ký kết. Bên đảng Cộng hoà thì Nghị sĩ John McCain vẫn đề cao tự do mậu dịch như đa số nhân vật dân cử trong đảng.
Điều đáng chú ý ở đây là trong lịch sử và từ khi thành lập, đảng Dân chủ vẫn là một đảng đề cao kinh tế thị trường và tự do mậu dịch trong khi đảng Cộng hoà mới có lúc chủ trương tự cô lập và bảo hộ mậu dịch. Ngày nay, sự thể lại đảo điên khác hẳn và sau khi chiếm đa số trong Quốc hội vào tháng 11 năm kia, đảng Dân chủ đề ra nhiều biện pháp kiểm soát hoặc hạn chế mậu dịch, thậm chí xét lại nhiều hiệp định Hoa Kỳ đã ký kết.
Một điển hình là Thỏa ước Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ NAFTA áp dụng từ năm 1994.
Đây là một thành tích đáng kể của Tổng thống Bill Clinton sau hai năm vận động vất vả và thông qua được là nhờ lá phiếu Cộng hoà trong Quốc hội. Thoả ước này mở rộng trao đổi kinh tế với hai đối tác quan trọng nhất của Mỹ về ngoại thương là Canada và Mexico. Bây giờ, đảng Dân chủ đang đòi xét lại Thỏa ước này đến độ Nghị sĩ Hillary Clinton phải đi ngược với quan điểm của ông Clinton mà đề nghị một khoảng thời gian tạm hoãn để tái xét. Khi kinh tế Mỹ lại bị nguy cơ suy trầm như hiện nay, với thất nghiệp tăng và sản xuất giảm, nhiều người sẽ thấy rằng chính sách bảo hộ mậu dịch ấy là đúng.
Các quốc gia đang buôn bán với Hoa Kỳ đều theo dõi rất sát sự việc này và mong rằng đây chỉ là vì nhu cầu tranh cử nhất thời chứ Mỹ sẽ không đơn phương phủ nhận những cam kết ngoại thương của mình. Từ nay đến tháng Tám, khi cuộc tranh cử tổng thống Mỹ đi vào vòng cuối, chúng ta sẽ còn trở lại đề tài này, và khi ấy những chỉ dấu của thịnh suy kinh tế tại Mỹ cũng có thể rõ ràng hơn.
Hỏi: Chúng ta đã đi đến cuối chương trình, xin hỏi ông một câu rất nóng về tình hình kinh tế Việt Nam. Sau những hốt hoảng vừa qua trên thị trường chứng khoán mà ông có đề cập tới, Chính phủ Việt Nam đã ban hành biện pháp cứu vãn với việc Tổng công ty Quản lý vốn nhà nước SCIC được phép mua lại cổ phiếu của một số doanh nghiệp trên thị trường để kích cầu. Nhiều người thắc mắc nêu câu hỏi là biện pháp ấy có công hiệu hay không. Câu trả lời của ông ra sao"
- Câu trả lời vắn tắt của tôi là đấy là liều thuốc đổ bệnh để cứu một thiểu số mà có thể gây họa cho đa số, là điều chúng ta đã cảnh báo từ chương trình tuần trước.
Câu trả lời chi tiết hơn một chút là: thị trường chứng khoán đang rơi đúng thực giá của nó, dù việc ấy không hợp với ước vọng của các nhà đầu tư tay mơ đã đi vào thị trường như vào sòng bạc. Nhưng thay vì giải thích cho rõ và tập trung giải quyết vấn đề ưu tiên và có ảnh hưởng cho đại đa số dân chúng là nạn vật giá gia tăng phi mã, thì người ta lại nhìn vào cái ngọn là nạn thiếu thanh khoản nhất thời mà can thiệp vào thị trường bằng cách bơm tiền. Hậu quả là giá cổ phiếu có thể tạm chững vài ngày nhưng vẫn là tín hiệu sai cho thị trường và sẽ còn gây thêm lầm lạc cho nhà đầu tư.
Sau đó biện pháp này còn nâng cao bội chi ngân sách, tức là gây thêm lạm phát, và sẽ củng cố vai trò của doanh nghiệp nhà nước, tức là đi ngược sự cam kết với WTO khiến Việt Nam mất niềm tin của thế giới. Trong một kỳ sau, có lẽ ta nên trở lại vấn đề của các liều thuốc đổ bệnh đã dẫn đến khủng hoảng.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.