Hôm nay,  

Câu Hỏi Năm 1935: Niệm A Di Đà hay A Mi Ta Ba?

17/05/202510:14:00(Xem: 3645)

Câu Hỏi Năm 1935: Niệm A Di Đà hay A Mi Ta Ba?
 

Nguyên Giác

 

Lời người dịch: Trên báo Viên Âm, số 15, ấn bản tháng 5 và tháng 6 năm 1935, có câu hỏi của ông T.T. rằng trong pháp tu Tịnh Độ, ông nên niệm A Di Đà hay nên niệm A Mi Ta Ba. Bài trả lời ký tên Viên Âm, được suy đoán là cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bản văn nơi đây được scan lại từ bản PDF và dịch ra Anh văn để tiện cho thế hệ sau nghiên cứu.

blank                  Bản chụp thư hỏi và thư trả lời trên báo Viên Âm số 15.

.... o ....
 

THƠ HỎI CỦA ÔNG T. T.

Phan Thiết

à Monsieur le Directeur du Viên-Âm nguyệt-san à Huế
 

Thưa ngài,

Tôi sanh-bình rất lín ngưỡng Phật. Giáo, và vài năm nay nhờ gặp được sách vở chỉ bày, tôi đã có tập tham-thuyền. Nhưng một người đương lo theo công việc sanh nhai, lại có gia-đình phải gánh vác, có bằng-hữu tân-khách phải giao tiếp, thời không còn được mấy thì giờ thanh tịnh mà lo việc tân thân minh. Tôi sợ tham-thuyền sơ lược như thế, e rồi kiết quả không được gì, mà uổng cái đời người quý báu đã được hiểu đạo Phật.

Hoàn - cảnh tôi chỉ có tu phép Tịnh-Độ là thích-hiệp.
 

Tôi rất tín-tâm về Tịnh-Độ: vi tôi tin đức Thích-Ca, Từ-phụ chúng ta, hơn hết thảy mọi người, những học-thuyết do phàm-trí tim kiếm ra không có học-thuyết gì làm ngăn ngại cho lòng tin tôi được. Vì thế tôi muốn đổi qua tu pháp môn Tịnh-Độ đề phần vãng-sanh được chắc chẵn hơn. Tôi xin Ngài làm phươc bày cho tôi cách đọc Lục-Tự nữa là đủ.

Lục tự, mấy đời ông bà mình vẫn đọc «Nam-vô A-Di- Đa Phật», nhưng đọc như thế không dúng danh- hiệu ngài Vô-Lượng-Thọ, chính danh-hiệu Ngài là «A-Mi- Ta", người Thiên-trước cho đến người Trung quốc, người Nhật-bổn đều đọc đúng cả, chỉ chữ Trung - quốc mà người minh học ra tiếng minh, đọc sai đi, nên chữ Mi minb đọc Di, chữ Tà mình đọc Đà, thành danh biệu ngài ba chữ mà người minh đọc sai hết hai chữ. Bây giờ đọc theo ông bà minh thời tôi sợ sai, vì không lẽ sự sai của ông bà minh mà đổi được danh-hiệu ngài đi; vậy bây giờ tôi xin đọc "Nam-vô A-Mi-Tà Phật», lục-tự có dược không ?

Hay là đọc «A-Mi-Ta Bà-Ha», ngũ tự, cho đúng danh-biệu Ngài hơn ? Bây giờ tôi cbỉ muốn đọc cho đúng danh hiệu Ngài, nhưng tôi chưa dám, tôi xin hỏi ngài đã, hoặc có cách đọc thế nào cho thiệt đúng hơn, xin Ngài làm phước bày cho tôi với. Muôn đợi ơn ngài.
 

.... o ....
 

TRẢ LỜI THƠ ÔNG T. T. THỪA PHÁI

Citadelle Phan-Thiết
 

Nam-Mô A-Di-Đà Phật,

Tiếp được thơ ngài xin tùy hỉ lòng chánh-lín của ngài. Đạo Phật tuy nhiều phép tu nhưng không ngoài tham-thuyền và tri niệm.

Tham-thuyền là về mặt thực-nghiệm, trong khi bành-động mọi việc, vẫn nắm một dấu hỏi lớn mà nghiên-cửu tự-tâm, như hỏi: Tôi là chi? Trước khi khởi niệm hoặc trước khi vào thai, tôi là thể nào? vân vân, cho đến khi liễu-ngộ tâm-tánh.

Tri niệm là về mặt khế-hiệp, chuyên trì danh hiệu Pbật hoặc trì chú, thâu muôn niệm về một niệm Phật đề khế hiệp với tâm-tánh của Phật.

Hai phép ấy tuy là hai, nhưng chỗ xu-hướng là một, nên người niệm Phật cũng có thể minh- tâm kiến tánh, mà người tu thuyền cũng có thể hồi-hướng vãng-sanh, miễn là chơn chánh tu tbeo đạo Phật.

Đến như lối đọc tên của Phật, theo ý chúng tôi, miễn là trong tâm rõ biết đức Phật A Di-Đà là thế nào, thì dầu niệm theo tiếng mình hay tiếng Phạm, cũng đều có công-hiệu cả.

Về phần ông dã rõ hồng - danh Phật theo tiếng Phạm là «A-Mi-Ta» thì nên niệm «Nam-Mô A-Mi-Ta Phật» (chữ Phật đã có ý nghĩa nhất định ở xứ minh, không cần phải đổi).

Trong quyển Viên-Âm số XI, chúng tôi đã chỉ rõ phép niệm Phật, xin ông gắng coi cho kỹ mà thiệt hành thì chắc mau có biệu quả.

Sau này xin chúc ông đạo-thể vạn - an, Bồ-Đề kiên - cố.

(VIÊN-ÂM)

.... o ....

ENGLISH Version

A Question in 1935: Should I Recite A Di Đà or Amitabha?
 

Translated by Nguyên Giác

  

Translator's Note: In the Viên Âm Monthly Journal, issue 15, published in May and June 1935, Mr. T.T. inquired whether, while practicing Pure Land, he should recite A-Di-Đà or A-Mi-Ta-Ba. Viên Âm, believed to be the lay Buddhist Tam Minh Le Dinh Tham, signed the response. This text has been scanned from the PDF and translated into English for the benefit of future generations studying this material.


 

.... o ....
 

The letter addresses the question of Mr. T. T.

Phan Thiết
 

Dear Director of the Viên Âm Monthly Journal in Huế,

Dear Sir,

I have enormous respect for Buddhism, and for the past few years, I have been practicing meditation through reading books and following instructions. However, my busy work schedule, family responsibilities, and socializing with friends and guests leave me with limited time to nurture my own body and mind. I fear that if I continue to practice meditation with such little diligence, I will not achieve any meaningful results and will squander my precious opportunity to understand Buddhism. Given my circumstances, I believe that focusing on Pure Land practice is the most suitable approach for me.

I have enormous faith in the Pure Land because I believe in our Compassionate Father, Shakyamuni, more than anyone else, and no doctrines sought by ordinary minds can hinder my faith. Therefore, I wish to practice the Pure Land to ensure a more certain rebirth. I kindly ask that you show me how to recite the Six-Character Chant of the Pure Land, as that will be sufficient.
 

Many generations of our grandparents have recited the six words Nam-vô A-Di- Đa Phật, but this is not the correct title of Vô-Lượng-Thọ. His true title is A-Mi-Ta. The ancient Chinese and Japanese read it correctly, while the Vietnamese have misinterpreted the Chinese characters. The name consists of three words, yet the Vietnamese mistakenly read it as two. Now, following my grandparents' tradition, I am concerned about perpetuating this error, as it seems implausible that their mistakes could alter his title. Therefore, I would like to read the six words Nam-vô A-Mi-Tà Phật. Is that acceptable?

Should I read the five words "A-Mi-Ta Ba-Ha" to pronounce His name more accurately? I genuinely want to read his name correctly, but I hesitate to do so. I would like to ask for your guidance, or if there is a more accurate way to pronounce it, I would greatly appreciate your assistance. I await your response with gratitude.
 

.... o ....
 

Response to Mr. T. T. Thua Phai's Letter
 

Citadelle Phan-Thiết

Nam-Mô A-Di-Đà Phật,
 

Having received your letter, we are pleased to praise your true faith. Although Buddhism has many practices, it is not beyond meditation and mindfulness of chanting. For those who practice meditation, in terms of practice, while doing everything, they still keep a big question mark to look into their mind, such as asking, What am I? Before the thought arises or before entering the womb, what was I? and so on, until they realize the nature of the mind.

Mindful chanting involves focusing on the recitation of the Buddha's name or a mantra, unifying all thoughts into a single expression of devotion. While these two methods may appear distinct, they ultimately lead in the same direction. Therefore, those who recite the Buddha's name can attain mental clarity and insight into their true nature, while those who engage in meditation can also aspire for rebirth in the Pure Land, provided they sincerely practice Buddhism.
 

As for the method of reciting the name of Amitabha Buddha, we believe that as long as you clearly understand in your heart what Amitabha Buddha represents, it will be effective regardless of whether you recite in your native language or in Sanskrit.

If you know that the Buddha's name in Sanskrit is A-Mi-Ta, then you should recite "Nam-Mo A-Mi-Ta Phật." The term "Phật" already carries a specific meaning in our country, so there is no need to alter it.

In the Viên Âm Monthly Journal, issue XI, we have clearly outlined the method for reciting the Buddha's name. Please pay close attention to this technique and practice it diligently; you will surely see results quickly.

In the future, we wish you peace on your spiritual journey and a steadfast Bodhi mind.

VIÊN-ÂM
 

___

NGUỒN:

Viên Âm Nguyệt San, số 15, ấn bản tháng 5 và 6 năm 1935.

https://phatviet.info/tap-chi-vien-am-nguyet-san-xem-pdf/

.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
25/08/202510:47:00
Nguyên bản: Pali Anh dịch: Robert Chalmers và Ānandajoti Bhikkhu Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác J51. Mahasilava Jātaka -- Vị Vua Không Bao Giờ Bỏ Cuộc Tóm tắt: Một vị sư từ bỏ sự nỗ lực. Để khích lệ ông, Đức Phật kể câu chuyện về một vị vua thời xưa, người đã kiên trì thực hành lòng từ bi ngay cả khi bị đe dọa đến tính mạng—cách ông thoát khỏi việc bị chôn vùi trong nghĩa địa, giải quyết một cuộc tranh chấp giữa hai Dạ Xoa
23/08/202510:43:00
Nguyên bản: Pali Anh dịch: Robert Chalmers và Ānandajoti Bhikkhu Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác J41. Losaka Jātaka -- Chuyện về nhà sư trọn đời thiếu ăn, trừ ngày cuối đời. Tóm tắt: Trưởng lão Xá Lợi Phất gặp một cậu bé nghèo và truyền giới cho cậu. Bất chấp những bất hạnh trong cuộc sống tại gia và sự đấu tranh không ngừng để có đủ thức ăn, cuối cùng cậu đã đạt được quả vị A La Hán. Đức Phật kể lại một câu chuyện quá khứ, trong đó một người đàn ông đã ngăn cản một vị A La Hán nhận thức ăn. Kết quả là, trong mỗi kiếp sống tiếp theo, vị ấy đều gặp bất hạnh. Tuy nhiên, trong kiếp sống cuối cùng, nhờ thiền định về ba đặc tính, ngài đã đạt được sự giải thoát
22/08/202519:01:00
Nguyên bản: Pali Anh dịch: Robert Chalmers và Ānandajoti Bhikkhu Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác J31. Kulavaka Jātaka -- Truyện về Lòng từ bi và năm giới Tóm tắt: Một vị sư, vì khát nước, đã giết hại chúng sinh bằng cách uống nước chưa lọc, điều này trái với quy định của giáo đoàn. Khi nghe chuyện này, Đức Phật kể một câu chuyện về việc Sakka, Vua của chư Thiên, đã tránh làm hại chúng sinh và nhờ đó đã chiến thắng cuộc chiến giữa chư Thiên và A-tu-la.
21/08/202510:33:00
Nguyên bản: Pali Anh dịch: Robert Chalmers và Ānandajoti Bhikkhu Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác J21. Kurunga Jātaka -- Khi Devadatta là một thợ săn và Bodhisatta là một con linh dương. Tóm tắt: Các nhà sư nói chuyện về Đề Bà Đạt Đa và những cuộc tấn công của ông này nhắm vào Đức Phật. Đức Phật giải thích rằng Đề Bà Đạt Đa đã hành động tương tự trong những kiếp trước và kể một câu chuyện về một con linh dương khôn ngoan đã thoát khỏi sự hủy diệt của thợ săn nhờ đọc được những dấu hiệu.
19/08/202509:22:00
Bản Sanh: truyện 11 tới 20 / Jataka Tales: Stories 11–20 Nguyên bản: Pali Anh dịch: Robert Chalmers và Ānandajoti Bhikkhu Việt dịch và rút ngắn: Nguyên Giác J11. Lakkhana Jātaka -- Con nai may mắn Tóm tắt: Đề Bà Đạt Đa ra đi cùng 500 đệ tử, và Đức Phật đã phái Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đến để đưa họ trở về. Sau đó, Đức Phật kể một câu chuyện về việc trong quá khứ, Đề Bà Đạt Đa, vì bất cẩn, đã đánh mất đàn gia súc mà ông đang chăn dắt, trong khi Xá Lợi Phất đã cứu sống tất cả.
16/08/202511:40:00
Lời Dịch Giả: Để giúp giới trẻ Việt Nam có thể dễ dàng học căn bản Phật pháp, các truyện Bản sanh nơi đây sẽ được rút ngắn và viết lại cho đơn giản trong song ngữ Việt -Anh. Dịch giả hy vọng các truyện Bản sanh song ngữ sẽ giúp cho quý tăng ni, giáo viên, và Phật Tử có thêm một phương tiện mới để hoằng pháp. Nguồn sẽ dựa theo bản tiếng Anh của 547 truyện Jataka trên mạng SuttaCentral
07/08/202507:21:00
Lời dịch giả: Bài viết sau đây ký tên tác giả là Sa Môn Tố Liên, đăng trên Báo Đuốc Tuệ, ấn bản tháng 7 năm 1936. Hòa thượng Thích Tố Liên (1903 – 1977), thế danh Nguyễn Thanh Lai, sinh năm Quí Mão (1903), tại tỉnh Hà Đông. Xuất thân trong một gia đình Nho giáo. Ngài xuất gia năm 13 tuổi tại chùa Hương Tích, là đệ tử của Tổ Thanh Tích. Với tính cương trực, năng động, mặc dù được chọn làm trưởng pháp tử kế vị chùa Hương Tích, song Ngài quyết tâm du phương tham học nơi các đạo tràng danh tiếng như Đào Xuyên, Tế Xuyên, Bằng Sở, Vĩnh Nghiêm… và đã từng trú trì ở chùa Côn Sơn, Thanh Mai.
25/07/202519:19:00
Bài thơ "Chơn Đế" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) sáng tác, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Trong phần I, tác giả giải thích phần cốt tủy trong bài Bát Nhã Tâm Kinh. Chỉ cần riêng hiểu phần I để tu, chỉ cần thường trực thấy diệu lý của Sắc và Không là người tu cũng đủ tư lương để giải thoát. Chỉ cần thấy rằng Sắc -- tức là, những cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, tư lường -- thực sự là Không, là vô ngã, là không tự tánh
23/07/202510:28:00
Lời dịch giả: Bài viết nhan đề "Cần Phải Đi Xa Hơn Hình Thức” đăng trên Liên Hoa Nguyệt San, số 2, năm Mậu Tuất (1958), ký tên Liên Hoa, nói về chuyện xảy ra gần bảy thập niên trước, mà bây giờ chúng ta vẫn có thể gặp nơi này hay nơi kia tại Việt Nam. Liên Hoa Nguyệt San là tiếng nói chính thức của Giáo Hội Tăng Già Trung Phần. Bài này được dịch để hiểu về phong trào chấn hưng Phật giáo thời kỳ đó. Bài viết như sau.
21/07/202507:41:00
Lời dịch giả: Bài viết "Chơn Tâm, Vọng Tâm" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 9, tháng 9 năm Ất Mùi, tức là năm 1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Diệu Không.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.