Hôm nay,  

Lính Mỹ Ăn Uống Ra Sao

01/07/202116:40:00(Xem: 6058)

                                                                 

blankblank

                     Lương khô lính Mỹ thời nay, không có thuốc hút. Hình internet.

blankblank

                   Lương khô lính Mỹ thời chiến tranh Việt Nam. Hình internet.

 

Quân đội nước Mỹ gồm cả lực lượng hiện dịch và dự bị khoảng một triệu quân và là lực lượng chiến đấu bảo vệ quốc gia. Để nuôi ăn một số lớn quân lính như vậy là một trong những quan tâm hàng đầu của Ngũ Giác Đài và không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Khi đóng quân trong nước hoặc ở các căn cứ hải ngoại, người lính được phục vụ những bữa ăn nóng hổi, ngon miệng mới có đủ sức khỏe mà làm việc. Khi phải đi hành quân xa, chiến đấu ngoài mặt trận thì họ phải đem theo lương khô gọn nhẹ nhưng đầy đủ dinh dưỡng và bảo đảm cho sức khỏe. 

Tôi là một nhân viên dân sự hay đi công tác xa nhà để hỗ trợ kỹ thuật cho các đơn vị lính chiến Mỹ đóng đồn ở các nơi tiền tuyến xa xôi, nguy hiểm, và gian khổ như Iraq, Afghanistan, Châu Phi. Dĩ nhiên khi sống trong các trại lính, tôi cũng phải sống kỷ luật như lính và đương nhiên ăn, ngủ trong lều bạt cũng như lính. Không có một sự ưu đãi nào hơn lính. Hôm nay tôi kể bạn nghe về việc ăn và uống của họ khi được ăn những bữa ăn nóng hổi hoặc khi phải nhai lương khô, để bạn thấy được khi xa nhà, họ nhớ và thèm đến thế nào những bữa ăn bốc khói ngon lành của mẹ, của vợ nấu khi ngồi quây quần chung quanh bàn ăn gia đình dưới ánh đèn ấm áp tràn đầy tiếng cười vui.

Thuở xa xưa khi quân đội còn chiến đấu bằng vũ khí thô sơ như gươm giáo, cung nỏ, bất cứ đoàn quân nào, khi chinh chiến xa, chỉ có xe lừa, ngựa chuyên chở chậm chạp, người chỉ huy đều phải tính sao cho có đủ lương thực nuôi quân thì mới mong đánh thắng được kẻ thù. Mỗi người lính ngày xưa chỉ đem theo mình cao lắm là khoảng 10 ngày lương thực trong những cuộc hành quân dài hằng tháng trời, sau đó phải bắt buộc người dân vùng mình đi qua nộp lương thực hoặc cướp lấy bất cứ nông phẩm, gia súc nào có được của dân vùng đó cho lính mình. 

Tôi nhớ lúc còn nhỏ học lịch sử, khi đoàn khinh binh của vua Quang Trung tiến quân ra Bắc theo chiến thuật thần tốc, ngày đêm đi không nghỉ, 2 người gánh võng 1 người, cứ thay phiên nhau. Một số sử gia viết rằng lương khô của lính Tây Sơn là bánh tráng khô nhúng nước, hay một loại cốm khô vừa đi vừa ăn và uống nước cho nở ra nên lính vua Quang Trung tiến quân rất nhanh đánh tan quân triều đình miền Bắc làm họ trở tay không kịp. 

Ngày nay, ở bất cứ trại lính Mỹ nào cũng có nhà ăn được gọi là DFAC (phát âm là Đi Phác) do chữ “Dining Facility mà ra, hay tiếng lóng của lính hay xài với nhau là “Chow Hall”. Nhà ăn này do nhà thầu cung cấp và nấu nướng cho lính để họ có được những bữa ăn nóng sốt cho lính đỡ nhớ những bữa cơm gia đình; nhưng một điều chắc chắn là họ nấu không ngon như ở nhà, nếu không muốn nói là dở ẹc, ráng mà nuốt nếu không thì đói. May được nhà thầu có lương tâm thì đỡ, còn không thì cứ một hai món nấu riết, còn dư lại, họ sẽ xào đi nấu lại trộn với các món mới, sẽ thành ra một thực đơn khác, phải ráng mà ăn. Tuy vậy, họ vẫn phải bảo đảm có nhiều thực đơn khác nhau, đủ năng lượng, calories, vitamin theo yêu cầu.

Để có lời nhiều, nhà thầu mướn những tay phụ bếp không chuyên nghiệp hay người địa phương chưa bao giờ biết nấu ăn là gì. Những người này cả đời họ, chưa bao giờ ra khỏi quê hương, và may ra chỉ nấu nướng cho gia đình họ mà thôi. Nhà thầu chỉ mướn một người đầu bếp chính, chef cook, để coi sóc, quan sát và sai bảo phụ bếp. Như ở căn cứ tôi đang làm việc, mấy ông đầu bếp Ấn Độ nấu các món Mỹ, mấy “ông thần Chà Và” này món gì cũng cho thêm cà ri vô thực đơn khiến lính Mỹ ngửi mùi đã không muốn ăn. 

Là người Việt Nam đã từng sống trong “thiên đường Cộng Sản”, đã qua thời kỳ đói vàng cả mắt và qua mấy trại tù ở trong nước, nên tôi không kén ăn, bất cứ con gì nhúc nhích, ngo ngoe trên mặt đất là tôi có thể xơi tái ngay. Vậy mà mỗi khi ăn món cá nướng hay cá hấp, mấy ông đầu bếp không biết cách làm cho cá bớt tanh, khi ướp cứ cho bột cà ri; cá vẫn tanh và nhạt nhẽo như đang nhai rơm; vì thế lỡ ăn một lần, lần sau thấy lại món cá, tôi không dám ăn nữa.

Vì ở xa xôi nên thỉnh thoảng lương thực cung cấp bị trễ vì tình hình chiến sự hay vì phuơng tiện vận chuyển không thuận lợi, chúng tôi phải ăn lương khô một hai tuần lễ là chuyện thường. Tội nghiệp! Nhiều người lính ăn vài miếng rồi bỏ vì nó khô khan và chẳng có mùi vị gì nhiều. Tôi vẫn tỉnh bơ ngồi nhai lương khô một cách chậm rãi như đang ăn cơm gạo lức, để thức ăn tan nhuyễn thành bột loãng rồi nuốt xuống mà vẫn cảm nhận được mùi vị của thức ăn như đang ăn thực phẩm tươi. Tôi học cách nhai này khi còn ở trong tù để tận hưởng cái ít oi mà mình đang có.

Nước uống thì chúng tôi được cung cấp nước đóng chai được sản xuất bởi nhà thầu ngay trong trại lính đóng quân để ngừa việc bị đầu độc. Còn các thức uống có đường, gas khác như Coke, Pepsi, và đủ loại đủ cỡ thì không bao giờ thiếu. Lại có cà phê pha sẵn nóng hổi hay cà phê bột, instant coffee, và trà gói. Nói chung thì thức uống dư thừa, chỉ không được phép uống bia rượu mà thôi. Một vài căn cứ ở Phi Châu hay Á Châu cho phép chúng tôi mua rượu bia dễ dàng từ bên ngoài, miễn sao uống say đừng quậy phá.

Ngày còn nhỏ trong thời chiến Việt Nam, gia đình tôi sống trong khu gia binh nên đám con nít chúng tôi hay được những người lính Mỹ cho quà là những hộp lương khô mà họ được cung cấp; trong đó có gạo sấy, đậu phộng xay, bột pha nước cam, bánh crackers, kẹo chocolat và nhiều thứ bánh kẹo khác nhau. Gói thuốc điếu nhỏ và hộp diêm, chúng tôi cho lại những anh lớn để hút. Sao mà lương khô thời đó ngon lạ lùng. Chúng tôi thường chia đều cho nhau ăn chung, thật là vui.

Sau năm 1975, khi vào rừng làm rẫy, ông anh tôi đào được một số đồ hộp, lương khô lính Mỹ bỏ lại khi họ rời đi nơi khác. Hai anh em hì hục đào sâu thêm và đem về chòi được một ít lương khô đủ loại. Chúng tôi đục những lon đồ ăn, ngửi thử, vẫn thấy thơm, không chút do dự, anh em tôi đem về chòi và nấu được những bữa ăn ngon lành dù lon đồ ăn đã quá hạn nhiều năm mà hương vị vẫn còn thơm “điếc cả mũi”. Xong bữa, anh em tôi tráng miệng bằng bánh kẹo “đế quốc Mỹ”. Ôi cái hương vị đồ ăn của “bọn tư bản giãy chết” thật tuyệt vời làm sao trong khi cả “thiên đường” đang giãy dụa vì đói ăn! Tiếc rằng chúng tôi đã không đào được nhiều. 

Những ngày đi công tác khi lương thực tươi chưa đến kịp, phải ăn lương khô, tôi mới tò mò tìm hiểu lịch sử coi thực phẩm cho quân đội Mỹ được bắt đầu từ bao giờ và phát triển ra sao. Người lính ăn uống hợp vệ sinh và khỏe mạnh, không bị bệnh đường tiêu hóa thì họ mới có đủ năng lượng để chiến đấu. Xin ghi xuống đây để bạn đọc hiểu thêm một chút về lương thực người lính ăn uống ngoài trận mạc ra sao.

Khẩu phần lương thực của quân đội Mỹ được bắt đầu từ những ngày kháng chiến chống thực dân Anh để dành độc lập trong 8 năm từ tháng 4, 1775 cho đến tháng 9, 1783 (1). Khẩu phần chỉ gồm thịt bò, đậu, và cơm cho một người lính ăn một ngày ở ngoài mặt trận. Rồi qua trận Nội Chiến giữa miền Bắc và Nam, quân đội được cung cấp đồ ăn đóng hộp gồm thịt bò, heo, bánh mì, cà phê, đường và muối. Cả hai cuộc chiến này đều phải có một đội hỏa đầu quân là những người lính chuyên lo lương thực và nấu nướng đi theo đơn vị. 

Trong Thế Chiến thứ nhất, WWI, thịt hộp được thay thế bằng thịt khô hoặc thịt ướp muối để giàm bớt cân nặng cho người lính có thể mang được nhiều hơn và di chuyển nhẹ nhàng hơn. Đến Thế Chiến thứ hai, WWII, để tiết kiệm và thuận tiện cho việc di hành ở mặt trận, quân đội Mỹ mới bắt đầu được cung cấp lương khô trong những hộp giấy được gọi là C-Rations. Những hộp lương khô này cũng được dùng trong cuộc chiến Triều Tiên và cuộc chiến Việt Nam cho đội quân viễn chinh Mỹ và quân đội đồng minh ở địa phương.

Hiện nay, với kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao, quân đội Mỹ có lương khô được gọi là MRE, Meals-Ready-to-Eat, gồm 24 loại món ăn khác nhau, bao gồm cả loại dành cho người ăn chay. Lương khô được sấy khô hoặc hút chân không (Vacuum) cho nhẹ ký để mang được nhiều và mùi vị dễ ăn hơn, mỗi bịch cân nặng khoảng 510-740 grams (18-26 oz) tùy theo thực đơn. Giá mỗi bịch MRE của quân đội là $7.25, nhưng nếu bán ra ngoài, có thể lên đến $30-$40 một bịch. Luật pháp không cho phép mua bán MRE ra ngoài dân chúng vì đây là tài sản quốc gia do tiền thuế người dân đóng góp. Amazon và một vài trang mạng khác có bán MRE, nhưng đây là hàng tồn kho, dư ra do quân đội bán đấu giá, theo giá bán sỉ, và bán theo từng bành lớn. 

Gói MRE có thể để lâu được 5 năm trong nhiệt độ trung bình 75F, còn nếu giữ ở nhiệt độ nóng như vùng Trung Đông, có thể để được 3 năm. Trên lý thuyết để bảo đảm phẩm chất và sức khỏe người lính là như thế, nhưng nếu bạn giữ 10 năm rồi lấy ra ăn cũng chẳng sao, miễn là bao bì không bị rách hoặc thủng như trường hợp kể trên của anh em tôi. Sau cuộc chiến Việt Nam, quân đội Mỹ đóng quân trong rừng, họ bỏ về nước năm 1972, khi đào lên, những hộp thịt không bị hư hại, những bịch bánh cracker không bị rách, chúng tôi ăn uống mà chẳng bị làm sao.

Mỗi bịch lương khô MRE phải bảo đảm có đủ năng lượng cho người lính chiến đấu: Từ 1200 calories cho một phần ăn; họ có loại đặc biệt cho các toán lực lượng đặc biệt mà mỗi phần ăn có thể lên đến 4200 calories một khẩu phần. Lực lượng này thường phải đi hành quân rất xa trong nhiều ngày, ngoài vũ khí, đạn dược, họ phải mang nhiều lương khô hơn nên trọng lượng mang theo càng nhẹ càng tốt, nhưng vẫn phải đầy đủ dinh dưỡng để họ có đủ sức chịu đựng gian khổ mà vẫn chiến đấu hữu hiệu.

Ngày trước, lương khô phải ăn nguội lạnh; ngày nay lương khô quân đội Mỹ có thể được hâm nóng mà không cần lửa hoặc nấu chín bằng nồi niêu hay gà mên. Trong gói lương khô, có một bịch nylon chứa một chất hóa học (coi hình 2, gói giữa hàng trên cùng, màu xanh nhạt), người lính chỉ cần cho một chút xíu nước lạnh và lắc qua lại cho đều, nó sẽ kích hoạt làm tăng sức nóng lên đến 94 C, gần độ đun sôi. Họ chỉ cần bỏ món ăn vào trong bịch rồi vất nó xuống một mặt phẳng như mặt đất cũng được, trong vòng 5-10 phút. Sức nóng sẽ hâm món ăn nóng như mới nấu xong. Gói này gọi là FRH, “Flameless Ration Heater”. Rất tiên lợi và giúp cho người lính ăn ngon miệng hơn, khi ngon miệng, họ sẽ ăn hết nguyên phần ăn và có thêm sức khỏe và năng lượng để tiếp tục hành quân.

Trong gói nhỏ (accessory package, hình 2 trên cùng bên phải) gồm đường muối cà phê, giấy lau miệng, còn kèm theo 1 hộp diêm nhỏ nhưng không có gói thuốc lá kèm theo. Đặc biệt có hai cục kẹo cao su nhai cho thơm và sạch miệng sau khi ăn. Bạn phải cẩn thận vì nếu 2 viên kẹo được gói trong giấy kiếng trong, cứ tự nhiên thoải mái nhai; nhưng nếu 2 viên kẹo được gói trong giấy kiếng trong, màu hồng đỏ, thì không nên, ngoại trừ bạn bị táo bón lâu ngày mới cần đến chúng. Mục đích dành cho lính đi trận mạc lâu ngày, chỉ ăn lương khô, khó cho việc tiêu hóa, sau khi nhai hai viên kẹo này thì có quyền kiếm chỗ mà chạy cho nhanh vì rất nhuận trường.

Trong chiến tranh, một trận chiến thần tốc, cần di hành nhanh, đến địa điểm sớm, đánh bất ngờ khiến địch trở tay không kịp thì lương khô là rất cần thiết khi không có phương tiện nấu nướng và thiếu thốn đồ ăn tươi. Người lính ăn lương khô sẽ chậm tiêu hóa sẽ giảm bớt thời gian không cần thiết, đơn vị sẽ linh hoạt hơn. Lúc đóng quân một nơi cố định, lính Mỹ không dùng lương khô mà luôn có những bữa ăn nóng hổi để giúp người lính phục hồi sức khỏe và ít bị các bệnh đường tiêu hóa. 

Nói chung cơm lính thì chẳng thế nào bằng cơm nhà, nhưng khi bạn còn trẻ, mới ăn xong thì một lúc sau có thể ăn thêm một bữa nữa thì cơm lính cũng không đến nỗi nào. Lính Mỹ là lính con nhà giàu nên thịt cá không thiếu và chẳng bao giờ phải đói khát, thiếu thốn như lính các nước nghèo. Cuộc chiến tranh nào cũng có gian khổ, chết chóc, nhưng muốn đánh thắng một cuộc chiến, ngoài vũ khí, phương tiện tối tân và binh lính tinh nhuệ; lực lượng tiếp liệu, hậu cần phải lo vấn đề lương thực đầy đủ cho người lính ngoài mặt trận. Ăn uống đầy đủ dưỡng chất và vitamin thì tinh thần người lính cũng nâng cao, sức chiến đấu bền bỉ hơn. 

Nguyễn Văn Tới. Tháng 6/2021. Viết từ Iraq.

REFERENCES:
https://en.wikipedia.org/wiki/American_Revolutionary_War

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.