Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nhà Văn Và Chủ Nghĩa Cộng Sản: George Steiner

26/03/200100:00:00(Xem: 3221)
Lời người dịch:
G. Steiner sinh tại Paris năm 1929, (cha mẹ dân thành Vienne, gốc Do-thái). Học tại Pháp, Hoa-kỳ và Anh. Từ một nền tảng như trên, những đề tài của ông thật rộng, khó giản đơn - văn chương, trí thức hay văn hóa. Dịch thuật chiếm nhiều thì giờ, và nó là một ẩn dụ tốt nhất, về tác phẩm của ông: dịch thuật theo nghĩa vượt biên cương, bờ ngăn, chuyển từ 'trường' này (field) qua 'trường' khác. Bản liệt kê tác phẩm của ông do đó cũng thật dài: Tolstoy hay là Dostoevsky (1959), Cái Chết của Bi Kịch (1961), Ngôn ngữ và Im lặng (1967), Extraterritorial (1971)... Tác phẩm mới nhất của ông là một tuyển tập essays, No Passion Spent, và Errata, một dạng hồi ký. Ông còn là tác giả một số giả tưởng: Annno Domini: Ba câu chuyện (1964), The Portage to San Cristobal of A.H. (tiểu thuyết, 1981)…

Bài dịch dưới đây, The Writer and Communism, trích từ cuốn Ngôn ngữ và Im lặng (1967), gồm những tiểu luận về ngôn ngữ, văn chương và sự phi nhân. Bài viết tuy đã lâu, nhưng ở cuối thế kỷ, có lẽ chúng ta cũng nên nhìn lại một lần.


Một trong những khác biệt rõ rệt giữa chủ nghĩa Phát- xít và chủ nghĩa CS: Phát-xít không đẻ ra một nghệ phẩm vĩ đại nào. Nó chẳng lôi kéo được một nhà văn hạng nhất vào quĩ đạo của nó, ngoại lệ may ra có trường hợp Montherlant. (Erza Pound không phải là Phát-xít; ông sử dụng những cơ hội và uy thế bề ngoài của nó cho chủ thuyết kinh tế kỳ quặc của riêng ông). Ngược lại, chủ nghĩa CS đã là một sức mạnh trung tâm trong rất nhiều tuyệt phẩm của nghệ thuật hiện đại; và kinh nghiệm riêng của từng người, khi tiếp cận chủ nghĩa CS, đã ảnh hưởng, về ý thức, cũng như là về nghiệp văn, ở một số cao thủ, của thời đại chúng ta. Tại sao có sự khác biệt này"

Chẳng nghi ngờ chi, chủ nghĩa Phát-xít quá ghê tởm, tồi tệ, như là một ý thức hệ, để tác động tới lòng nhân hậu, vị tha, của trí tưởng tượng, vốn rất cần cho nghệ thuật văn chương. Chủ nghĩa CS ngay cả khi đã trở thành độc dược, nó vẫn là một huyền thoại học về tương lai, một viễn ảnh về khả năng giầu có của con người, khi đòi làm người có nhân cách, đạo đức. Phát-xít là luật tối hậu của đám côn đồ; chủ nghĩa CS thất bại bởi vì nó muốn áp đặt lên bản chất con người, và đưa ra một thiên đường nguỵ tạo để tự biện minh, và vì mục đích lịch sử. Phát-xít khủng bố thông qua lòng khinh miệt con người; CS khủng bố bằng cách đưa con người vượt lên khỏi cõi luân hồi của lầm lẫn riêng, tham vọng tư, tình yêu thầm kín, mà chúng ta gọi là tự do.

Còn một khác biệt rất đặc biệt. Hitler và Goebbels là những đại gia về ngôn từ, nhưng họ đều coi thường đời sống tinh thần. CS, trái lại, ngay từ phút đầu tiên, đã có một ý thức về những giá trị của trí thức, nghệ thuật. Trong Marx và Engels, điều này thật hiển nhiên. Họ là những nhà trí thức đến tận xương tận tuỷ. Lênin coi nghệ thuật là món quà vô giá để chống lại nỗi sợ hãi. Ông run sợ, lẩn tránh nó, thừa nhận những quyền năng u tối, mê hoặc của những gì dễ nhào nặn, và hình thức âm nhạc, thay vì trí thức thuần lý. Trotsky là một tay văn nghệ (littérateur), theo một nghĩa rạng rỡ nhất của từ này. Ngay dưới thời Stalin, nhà văn và những tác phẩm văn học giữ một vai trò sinh động trong chiến lược CS. Nhà văn bị bách hại, bị hành quyết chính bởi vì văn chương được coi là sức mạnh quan trọng, đầy tiềm năng nguy hiểm. Đây là điểm quyết định. Văn chương được đề cao, coi trọng, tuy theo một đường hướng độc ác, ghê rợn, hiển nhiên là do sự bất tín nhiệm vào nó, của Stalin. Tới thời kỳ băng tan, vai trò nhà văn trong xã hội Xô-viết lại một lần nữa trở nên khúc mắc, và mang tính vấn nạn. Khó mà có thể tin được một điều, một nhà nước Phát-xít bị chao đảo, vì một cuốn sách nhỏ nhoi; nhưng Bác sĩ Zhivago đã là một trong những cơn khủng hoảng lớn lao trong cuộc sống gần đây của giới trí thức tại nước Nga CS. Do trực giác, hoặc do suy nghiệm, nhà văn luôn nhận ra vai trò đặc biệt của họ trong ý thức hệ CS. Họ nghiêm trọng với chủ nghĩa CS, bởi vì nó nghiêm trọng với họ. Từ đó, một lịch sử những liên hệ giữa chủ nghĩa CS và văn chương hiện đại, là lịch sử của cả hai, với những sự vị nể bắt buộc phải có.

Mr. Jurgen Ruhle là một trong những nhà văn, nhà trí thức chủ trì, đã kinh nghiệm mùi vị chủ nghĩa CS, và sau đó đã từ bỏ thực tại Stalinist. Kể từ khi chọn Đức quốc làm nơi trú ẩn, ông là một chuyên gia sử học, và quan sát viên, về cuộc sống văn chương và kịch nghệ CS. Trong cuốn Văn chương và Cách mạng, ông cho thấy tầm vóc một cuốn lịch sử, về "nhà văn và chủ nghĩa CS" trên toàn thế giới, từ 1917 tới 1960. Thực là một công trình bao la, đồ sộ: văn chương Nga từ Blok tới Zhivago; thơ ca Pablo Neruda, giả tưởng của Erskine Caldwell; từ luận cứ chính trị của Thomas Mann tới phê bình của Lu Hsun. Với phần niên biểu, và tiểu sử tác giả, Văn chương và Cách mạng vừa là một tiểu luận phê bình, vừa là một tài liệu tham chiếu. Chỉ nhìn qua mục lục và những minh họa, thấy rõ một điều, gần như tất cả những nhà văn lớn lao của thời đại chúng ta (Proust, Joyce và Faulkner là những ngoại lệ đáng kể), đều dính dáng với chủ nghĩa CS, ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và trong nghệ thuật.

Phần đầu là về định mệnh văn chương Nga dưới thời Lenin, Zhdanov và Khruschev. Mảnh đất quen thuộc nhưng đồ sộ. Một lần nữa chúng ta quan sát những thiên tài, và kết cuộc cay đắng của bộ ba cách mạng: Blok, Yessenin, Mayakovsky. Ruhle đặc biệt chú ý tới đề tài cuốn tiểu thuyết cồng kềnh, gần như bị bỏ quên của Gorky, Klim Samgin. Ông khẳng định một cách đầy thuyết phục rằng, Gorky đã không thể hoàn tất tác phẩm, vì đã nhận ra mâu thuẫn giữa cuộc sống cá nhân và tổ chức CS; mâu thuẫn này đẩy rất nhiều nhà văn Xô-viết tới im lặng hoặc cái chết. Ruhle tiếp tục bàn về những ký sự gia cuộc nội chiến, Isaac Babel và Sholokhov. Ở đây, một lần nữa, nhận xét của ông thật là sắc bén: ông cho thấy Sholokhov luôn luôn là một nhà văn miệt vườn, với nhãn hiệu bài-trí thức cổ lỗ, và đã thành công, cùng một lúc vừa là tiếng nói con người quốc gia, và tình cảm Stalinist. Ông đưa ra một bản kết toán đáng tin cậy về những cuộc triệt thoái khỏi Byzantium, và những tình huống táo bạo khi đó, nhờ vậy mà Ehrenburg còn toàn mạng qua mùa đông và thời kỳ băng tan. Bên dưới những câu chuyện kể về người và việc, vọng lên thanh âm rền rỉ, về căn do của (những hành động) lưu đầy, hành quyết, và tự sát.

Sau cùng, tới Pasternak. Ruhle nhận ra ở tác giả này, tiếng nói thực của Nga, và cùng với nó, viễn ảnh vượt lên trên mọi oan khiên, tàn bạo của nhất thời. Ông đồng ý với (nhà phê bình Mỹ) Edmund Wilson, khi tìm thấy ở trong nhân vật Lara và Zhivago một thách đố không thể trả lời, đối với chủ nghĩa duy lịch sử, và định mệnh thuyết chối từ-cuộc đời của ý thức hệ CS. Sự kiện trần trụi: nếu Pasternak có thể giữ riêng cho mình một tình yêu nổi loạn, riêng tư, ngay trong lúc ăn nằm với Liên Bang Xô-viết, điều này chứng tỏ tinh thần Nga vẫn còn sống ở bên dưới lớp băng, là kỷ luật đảng. Pasternak là một trong những người đầu tiên đọc bài thơ vĩnh biệt mà Yessenin viết bằng máu của mình. Ông biết mẩu giấy tuyệt mệnh nổi tiếng, trước khi tự tử, của Mayakovsky. Nhưng bằng đức hạnh của sự can đảm, và sự kín đáo, ông đã sống sót. Và trong Bác sĩ Zhivago, là lời phản kháng chống lại sự rẻ rúng đời sống cá nhân của chế độ Xô-viết, điều những bạn thơ của ông đành phải lựa chọn cách chết bi thảm, để làm bật nó ra.

Sự thực còn nhiều nữa, ở đây. Và Ruhle đã diễn tả thật tuyệt. Nhưng do gần đây không ở trong Liên-bang Xô-viết, ông đã không nhận ra, thật xa vời, thế giới hình ảnh, cảm nghĩ, của đôi tình nhân Lara-Zhivago, đối với thế hệ trẻ hơn họ. Chính đám người cầm quyền, "đám già", đã sợ hãi cuốn sách, và tìm đủ mọi cách để cho nó im luôn. Tôi tự hỏi không biết những người trẻ tuổi có tìm ra được một điều gì trong Bác sĩ Zhivago, nhưng chắc họ chỉ coi đây là một câu chuyện thần tiên làm mủi lòng người đọc, hay một mẩu giả tưởng về lịch sử, xa xưa như Anna Karenina.

Phần hai của Văn chương và Cách mạng lại càng quí giá. Nó bàn, bằng một giọng quyền uy, tới mớ bòng bong là những liên hệ giữa chủ nghĩa CS và văn chương Đức. Thật chẳng có gì là quá đáng khi nói, kể từ 1919, chẳng có một thế giá văn chương Đức nào đưa ra một cái nhìn phân minh, hoặc đồng tình, hoặc thù nghịch, đối với chủ nghĩa CS. Hình như có một sự đồng cảm sâu xa, ngầm, nào đó, giữa chủ nghĩa lý tưởng có tính hệ thống, duy lịch sử, là ý thức hệ CS, và tinh thần Đức từ đó nó nẩy sinh. Thường xuyên, như Ruhle chỉ ra, cực tả và cực hữu đều coi Đức, như là mảnh đất chung, để mà nhào nặn tinh thần toàn trị. Hiệp ước Hitler-Stalin, mặc dù chỉ là trò mạt cưa mướp đắng, và chết non, nhưng qua nó, là một ẩn dụ về một liên hệ chân thực.

Ruhle còn đưa ra trường hợp Johannes Becher, chàng nhạc sĩ Orpheus của chủ nghĩa Stalinism, và Egon Erwin Kisch, một trong những ký giả tài ba nhất cho tới nay, đã từng phục vụ lý tưởng Marxist. Ông tặng chúng ta một cách đọc tình cảm tác phẩm của Anna Seghers; những tiểu thuyết gần đây của bà cho thấy, một nghệ sĩ thứ thiệt, phải uốn éo ra sao khi cố ăn khớp với những nửa-sự thực xám xịt, của "hiện thực xã hội chủ nghĩa". Ông chiếu sáng vai trò của những ý tưởng Mác-xít trong giả tưởng mang tính lịch sử của Heinrich Mann và Lion Feuchtwanger. Ông đề nghị, trong một chương với tài liệu tỉ mỉ, rằng sự bất đồng giữa Heinrich Mann và Thomas Mann là trên một biện chứng pháp rộng lớn: sự đối đầu giữa tư tưởng Đức, một mặt, với chủ nghĩa quốc gia cánh hữu, tuy là đối thủ nhưng lại có những mắc mứu, liên hệ; mặt khác, với chủ nghĩa quốc tế cấp tiến.

Như trong đoạn bàn về văn chương Xô-viết, bên dưới những dòng kể những cuộc đời cá nhân, là đề tài thường trực, hoài hoài, về cái chết tàn bạo. Cái này tiếp cái kia, những tiếng nói của thi ca Đức, bi kịch, và phê bình bị bóp nghẹt bằng lưu đầy, sát nhân, hay tự sát. Lật từng trang lịch, của sự huỷ diệt - Ossietzky, Muhsam, Kornfeld, Theodor Wolff, Friedell, Toller, Hasenclever, Ernst Weiss, Stefan Zweig - người ta nhận ra, văn chương thực sự là một trong những nghề nghiệp nguy hiểm nhất.

Sau những phán đoán bậc thầy, về văn chương Đức, Văn chương và Cách mạng đưa ra một cái nhìn về phần còn lại của văn chương thế giới. Phần đất này có vẻ hơi hạn hẹp. Chỉ trong ba chục trang, Ruhle bàn tới sự va chạm không có chi là đơn thuần với chủ nghĩa CS, của Camus, Sartre, Gide, Malraux, Eluard, Céline, và Aragon. Hai chục trang tiếp theo tóm tắt những nhà văn Ý - Silone, Pavese, Malaparte, Moravia, Carlo Levi. Không đầy bốn chục trang dành cho những trò ve vãn rất phức tạp, với chủ nghĩa Mác-xít và những giấc mơ CS, của những nhà văn Mỹ như Dos Passos, Upton Sinclair, Steinbeck, Hemingway, và James T. Farrell. Những chương sách ngắn gọn còn lại như đề nghị người đọc, một chuyến bay qua Mỹ châu Latinh, và Á châu. Không thể tránh được, nửa sau cuốn sách là những danh mục, tên tuổi ngày tháng, tựa sách - hữu dụng như một chỉ dẫn, tham chiếu vội, nhưng làm sao chu toàn nổi tính nghiêm trọng, và đa dạng của đề tài.

Trong hai chương chót, là về những giáo chủ và những kẻ nổi loạn bên trong trại văn chương CS. Ông bàn về cuốn Bóng Đêm Giữa Ban Ngày của Koestler, 1984 của Orwell, và những trang hồi ký đầy chất thống hối của Gide, và Stephen Spender. Sau cùng ông ghi nhận sự nổi dậy chống lại chủ nghĩa Stalin của những nhà văn trẻ Ba-lan và Hungary vào năm 1956. Trong thời kỳ tiếp theo vụ đàn áp tại Hungary, Tibor Dery đã bị kết tội dẫn đầu "một tổ chức thù nghịch đối với nhà nước". Một câu chuyện tiếu lâm "thê lương" đã được truyền tụng, giữa người dân Budapest: Cái tổ chức đó là gì vậy" Trả lời: nhân dân Hungary. Kết thúc chương sách, tác giả nhắc nhở chúng ta, rất nhiều nhà văn vẫn còn ở trong nhà tù tại Xô-viết, và những vệ tinh của nó, hay trong nhà tù Trung Hoa. Liên minh giữa văn chương và chủ nghĩa CS vừa thân thiết, vừa bi đát.

Cuốn sách có những nét rất mạnh, như là một ký sự muốn bao gồm mớ tư liệu lớn lao, rải rác, đưa chúng vào một trật tự trong sáng, rõ ràng. Nhưng có nhiều phiến diện trong Văn chương và Cách mạng. Thường là do ngắn gọn, (khó mà có gì mới, hoặc mang tính khám phá, trong một hai trang về một nhà văn quan trọng.) Nhưng cũng thường là do nhận định chủ quan của Ruhle, và điều này dẫn tới việc đơn giản hóa vấn đề. Suốt cuốn sách, ông cố đưa ra một mẫu mã, về sự hấp dẫn khởi đầu, mang tính lý tưởng, tiếp theo đó là sự ghê tởm. Nhà văn bị lôi kéo bởi những lý tưởng của chủ nghĩa CS, anh ta khám phá ra sự thực, về tính thư lại của đảng, và những đàn áp Stalinist; anh ta từ bỏ nó. Những ông thần Đỏ đã làm anh thất vọng. Nhưng trên thực tế, mẫu mã này chỉ có thể áp dụng cho một số giới hạn, những nhà văn, và không thể cho những nhà văn quan trọng nhất. Vì cố bám vào nó, Ruhle đã vặn vẹo một số sự kiện. Dưới đây là vài thí dụ.

Trường hợp Malraux là một thử nghiệm khả năng của nhà phê bình về những cám dỗ mà chủ nghĩa toàn trị dâng hiến cho thiên tài thi ca. Nhận định của Ruhle về việc Malraux tới, rồi lui khỏi chủ nghĩa CS, là hoàn toàn thiếu xót. Mặc dù ông ta đã chiến đấu thành công trong việc liên minh với tả và sau đó là hữu phái, chuyển từ Đội binh Quốc tế qua nội các De Gaulle, Malraux chưa bao giờ chấp nhận một chương trình chính trị nhất quán. Bất cứ địa bàn nào mà ông ta nhẩy vô, là để tìm điều: trong chính trị có chủ nghĩa anh hùng, sự hung bạo, và lòng trung thành mang tính thủ đoạn. Một cách ngắn gọn, chính trị của ông ta mang tính mỹ học; dáng vẻ bên ngoài của hành động chính trị, đã lôi kéo ông ta, chứ không phải nội dung. Căn phần của toàn sự nghiệp chính trị của Malraux có thể tìm thấy qua nhận xét của Walter Benjamin, rằng những kẻ muốn chính trị là một nghệ thuật (fine art), sẽ luôn luôn chấm dứt như một tinh hoa (elitist), hay một dáng đứng toàn trị (totalitarian posture) - hoặc tả hoặc hữu. Ruhle đã không nhìn ra điều này, ông cũng quên tham chiếu Benjamin, trong khi đây là một, trong tất cả những nhà phê bình Mác-xít uyên nguyên, sâu thẳm nhất.

Hãy lấy trường hợp Orwell. 1984 không phải là một ngụ ngôn về chế độ toàn trị Stalin, Hitler, và Mao Trạch Đông như Ruhle khẳng định. Luận chiến của câu chuyện ngụ ngôn không nhất-tuyến (unilinear). Phê phán của Orwell cùng lúc là về nhà nước cảnh sát và xã hội tiêu thụ tư bản; với sự ngu si về những giá trị và những quy ước của nó. "Newspeak", ngôn ngữ cơn ác mộng của Orwell vừa là một thứ tiếng lóng về chủ nghĩa duy vật biện chứng, vừa là một thậm xưng về quảng cáo thương mại, và mass-media. Sức mạnh bi đát của 1984 là do sự từ chối nhìn sự vật đen ra đen, trắng ra trắng, của Orwell. Cái xã hội mang tính sở hữu của riêng chúng ta đã làm ông hoảng sợ. Ông thấy ở trong đó có những mầm mống của sự phi nhân có thể so sánh với những chuyện thường thấy trong chủ nghĩa Stalin. Orwell từ Catalonia trở về, với một thứ niềm tin u ám, khắc kỷ, vào chủ nghĩa xã hội người thương người; Đông hay Tây, chẳng bên nào chấp nhận nó, nếu có chăng là trong một phạm vi thật là giới hạn. Coi 1984 là một "cương lĩnh" (pamphlet), trong chiến tranh lạnh trí thức, là đọc lộn, và bỏ qua nó. Câu chuyện ngụ ngôn thực về xã hội Xô-viết, là ở trong tác phẩm Trại Loài Vật của ông.

Cùng một sự ngần ngại, khi chấp nhận tính khúc mắc của sự thực, đã ảnh hưởng Ruhle, khi ông nhận định Lorca. Mặc dù khẳng định đầy tin tưởng của ông, những hoàn cảnh về cái chết của Lorca vẫn chưa có chi là rõ ràng. Đây là một trường hợp trả thù cá nhân hơn là khủng bố chính trị. Thêm một thí dụ, là về nhà văn trẻ Ba-lan, Hlasko. Điều "khúc mắc" ở đây, đó là không phải ông ta nhìn ra một xứ sở Ba-lan CS đang giẫy chết, cho nên tìm tự do tại Tây-phương, nhưng ông nhận thấy "thế giới tự do" hoàn toàn không thể chịu nổi (intolerable). Văn chương là một tìm kiếm, săn đuổi đa đoan, phức tạp, hàm hồ; nó không rơi một cách tự nhiên, vào những "nhà tù" Cộng sản, hoặc chống-Cộng, mà Ruhle tìm đủ mọi cách để nhét nó.

Những chuyện kể trên thì cũng thường thôi. Cái dở nhất, trong Văn chương và Cách mạng, là Ruhle từ chối, không chịu phân biệt giữa chủ nghĩa Mác-xít, và chủ nghĩa CS, hay nói rõ hơn, giữa chủ nghĩa CS như một viễn ảnh đạo đức, và một chủ nghĩa CS như là thực tại chính trị, thư lại. Trong nước Nga Stalinist và những xứ sở vệ tinh của nó, sự phân biệt này gần như không còn. Nhưng ở nơi khác, với sự trân trọng dành cho những nhà văn Tây-phương rơi vào ảnh hưởng Mác-xít, điều này thật quan trọng. Ruhle luôn luôn "đánh đống", những nhà văn có thể coi là CS và những người đã rút ra từ - lý thuyết Mác-xít về lịch sử, và nhận định Mác-xít về xã hội - một chất liệu cho nghệ thuật của riêng họ. Người ta không thể nói chuyện cùng bằng một hơi thở của Howard Fast và Romain Roland. Sự khác biệt thật là lớn lao.

Nghiêm ngặt mà nói, ít nhà văn thế giá, bên ngoài Liên-bang Xô-viết, đã dâng hết nghệ thuật của họ, nhằm phục vụ Đảng CS hay chính sách Xô-viết. Becher, Aragon, Anna Seghers, danh sách không được dài. Hiển nhiên, không có trong danh sách, hầu hết những nhà thơ, tiểu thuyết gia, kịch tác gia quan trọng, những người mà Ruhle quan tâm tới. Điều mà Feuchtwanger và Heinrich Mann gặt hái được từ chủ nghĩa Mác-xít, là ý nghĩa về những sức ép mang tính tài liệu, và mật độ của sự kiện lịch sử. Sartre đã rút từ chủ nghĩa Mác-xít, vừa hỗ trợ, vừa mâu thuẫn sáng tạo, cho viễn ảnh mang tính cá nhân, và thật sáng giá, của riêng ông, về khủng hoảng, và lịch sử. Với Sean O'Casey, chỉ là sự bi phẫn nhắm vào cối xay gió, nặng chất hỗn loạn, vô chính phủ, của sự nhạy cảm Ái-nhĩ-lan, chống lại bất công xã hội. Với Malaparte, chủ nghĩa CS là một cái gì giống như một câu chuyện tiếu lâm 'thầm' (private), chiếc mặt nạ của một anh chàng Lãng mạn tuy tàn bạo, nhưng bi thương, trầm trọng. Ở Pablo Neruda, ý thức hệ CS là hứa hẹn, cho một hoang tưởng mang tính trả thù, rửa hận. Mỗi trường hợp mỗi khác.

Hơn nữa, có một sự phân biệt thật rõ nét, giữa những người mất ảo tưởng, về chủ nghĩa CS, và những người sau cùng đoạn tuyệt với Đảng CS. Trong hầu hết trường hợp, việc đoạn tình đoạn nghĩa với Đảng đẩy họ tới sự im lặng, hoặc tới Hollywood. Mặt khác, sự rút khỏi Đảng có vẻ như là một tiến trình sinh động, sức tưởng tượng của nhà văn tuy thương tổn, nhưng vẫn còn sống. Từ đó, trong cuộc đời của những nhà văn như Camus, Steinbeck, hay Silone, chủ nghĩa Mác-xít đã giữ một vai trò giải phóng. Ngay cả khi đã ngoảnh mặt đi, họ vẫn giữ cho tài năng của mình, những chi li tinh tế về khả năng, tầm nhìn; và những thói quen phản kháng đạo đức.

Và bởi vì Ruhle từ chối phân biệt giữa những tiền đề Mác-xít Hegelian, và thực tế CS, ông đã không nhận ra ảnh hưởng sâu xa của tư tưởng Mác-xít trên mỹ học Tây- phương và lý thuyết văn chương. Dù hiển nhiên, hay là tiềm ẩn, cái nhìn toàn thể, đương thời của chúng ta đều thấm nhuần một sự âu lo, hay là sự quan tâm nhuốm mùi "Mác-xít", về cơ cấu xã hội và tiềm năng lịch sử. Bên dưới một văn phong đầy thơ tính, ngay cả những nhà "phê bình mới" cũng mắc nợ truyền thống Mác-xít, một sự thể hiện nào đó, về "môi trường" kinh tế, xã hội. Thực ra, với mỹ học nhiều hơn là với văn chương hiện thời, chủ nghĩa Mác-xít đã có một đóng góp vững vàng nhất của nó. Ruhle ít chú ý đến ba nhà phê bình, cùng với Lukács, đã đem đến cho Tây-phương điều được coi như là mầu mỡ nhất, xum xuê nhất, tức là quan điểm Mác-xít về nghệ thuật. Họ là Walter Benjamin, Lucien Goldmann, và Edmund Wilson.

Trước khi gấp cuốn sách tuy đầy tính thông tin, nhưng với một cái nhìn một chiều, còn một câu hỏi rộng lớn hơn không thể không đặt ra: rằng chủ nghĩa Mác-xít hay CS "ăn nhậu" gì tới sự thể hiện tài năng sáng tạo của từng cá nhân chúng ta" Phải chăng đây chỉ là tình cờ, ngẫu nhiên" Phải chăng là một thiếu sót, một món nợ nếu chúng ta bỏ qua một danh tác, trong đó thể hiện cuộc đối đầu giữa văn chương và chủ nghĩa CS" Bỏ sang một bên thơ ca Nga thời kỳ 1917-1925, theo tôi, có một vài tác phẩm.

Hai trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất của tiểu thuyết hiện đại, là Phận Người, của Malraux, và Bóng Đêm Giữa Ban Ngày của Koestler. Đây là những tác phẩm bắt nguồn thẳng từ tác động của phong trào CS lên cuộc đời và trí tưởng tượng của nhà văn. Hơn nữa, chúng luôn có giá trị, bởi vì chúng nhận ra trong chủ nghĩa CS dấn thân (militant), có sự hiện hữu của cá hai, điều cao thượng, và cái xấu. Nếu, trong tiến trình của Đảng, có kẻ nào nhận ra sự độc ác, xảo quyệt, tàn nhẫn xóa sạch mọi giá trị tư riêng, lại có người tìm thấy sự hy sinh, can đảm, và một niềm tin không dời đổi về khả năng của con người sống và chết vì lý tưởng. Không có chủ nghĩa Mác-xít và niềm tin vào ý thức hệ của Đảng, Bertolt Brecht, nhà bi kịch số một của thời đại đã không tìm ra tiếng nói và văn phong của mình. The Three-Penny Opera, Mahagonny, và Mother Courage là những kịch cổ điển với âm điệu hiện đại. Chúng được coi như là những dàn dựng cho một tình cảm chung (common feeling); nhưng chúng đã bắt rễ từ chủ nghĩa CS cá nhân của Brecht, và trong khung cảnh lịch sử là sự thất bại của phong trào CS Đức. Đông Bá linh là thành phố mà Brecht cả đời luôn hướng tới.

Cũng tương tự như vậy, một số thơ ca tuyệt vời của Aragon đã không thể tách ra khỏi cái nhìn-thế giới, và tự điển về chủ nghĩa CS. Điều này đúng, với Bác sĩ Zhivago, tuy có vẻ ngược ngạo, nhưng đây chính là điểm quyết định. Người ta không thể xoáy sâu cái nhìn vào tác phẩm thường xuyên tự mâu thuẫn, mang tính suy tư, và tản mạn này, nếu không nhận ra một điều: tác giả của nó, Pasternak đã đắm đuối, chết chìm ở trong những đau thương, và hoài vọng về Cách Mạng Nga. Trong nhiều chiều hướng, cuốn tiểu thuyết là một biện minh, một cái cớ (pretext) cho cách mạng; một cuộc cách mạng, hướng nội, toàn diện hơn cả cuộc cách mạng đưa đến xã hội Xô-viết.

Ở nơi khác, yếu tố Mác-xít và CS trong nghệ phẩm thường chỉ là chất sơn mờ nhạt hay là một mã (code) tiện lợi để diễn tả chủ nghĩa cấp tiến cá nhân. Rõ nhất là ở những kịch phẩm của O'Casey, hay những bài thơ của Eluard. Thường xẩy ra trường hợp, người nghệ sĩ muốn phục vụ những yêu cầu hiện tại của ý thức hệ Đảng, cuối cùng bị hiểu lầm là chống đối, lật đổ: người ta còn nhớ trường hợp Picasso, vì muốn vinh danh cái chết của Stalin, đã "sản xuất" ra được một bức tranh, một anh chàng thanh niên lơ mơ, mộng mị, với bộ ria thời Victoria.

Sau cùng là câu hỏi hắc búa nhất về liên hệ giữa nghệ thuật và chủ nghĩa toàn trị, như tên gọi của nó. Lịch sử dậy chúng ta, một chế độ vương quyền, hoặc là Augustan Rome, hay Renaissance Florence, hay cung đình Louis XIV, đều có thể đẻ ra văn chương, nghệ thuật lớn. Những bạo chúa và những thi sĩ thường xứng hợp với nhau (ngay cả ở Stalin, vẫn có những dấu vết kỳ quặc của liên hệ này - như cách đối xử của ông với Bulgakov và Pasternak). Nhưng tuyệt đối thuyết đi xa tới đâu, trước khi nghệ thuật trở thành đầy tớ, hay rơi vào im lặng" Đâu là lằn ranh giữa nghệ sĩ như là con thuyền chở đạo của xã hội, và cái loa tuyên truyền ở đầu ngõ" Đâu là sự khác biệt giữa bài thơ xưng tụng mà Andrew Marvell dành cho Crowmwell, và những hoan khúc (rhapsodies) của Becher dành cho Stalin và Ulbricht" Nếu cuốn sách của Rhule không đưa ra một câu trả lời, ít nhất nó cũng chiếu sáng bản chất vấn đề. Nhưng cái đề tài hấp dẫn, khẩn cấp này vẫn còn cần phải bàn tiếp.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.