AN GIANG -- Thời gian gần đây, ở nhiều đoạn của sông Hậu, nước sông chợt chuyển từ màu xám đục sang màu trong xanh, thậm chí có chỗ xanh như… nước biển. Những ngư dân giàu kinh nghiệm đã rất sớm nhận thấy sông Hậu “biến sắc”, còn đối với các nhà khoa học thì đó là một bi kịch đang diễn ra cho đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), theo Thanh Niên (TNO).
Là một người dân cố cựu ở xóm Đáy (nằm cặp sông Hậu, đoạn gần cầu Cần Thơ, thuộc xã Mỹ Hòa, TX.Bình Minh, Vĩnh Long), gần cả đời gắn bó với nghề sông nước nên ông Tư Hài (Dương Công To, 72 tuổi) rành cái nết của con nước sông Hậu hơn ai hết. Nói theo ông, con nước “cũng có lúc vui, lúc buồn, lúc hờn giận”. Thế nhưng lần này, ông Tư Hài tỏ ra lo lắng: “Chưa bao giờ nước sông Hậu lại thay đổi lạ kỳ như năm nay. Đến tháng này mà con nước còn trong khe, màu nước mỗi ngày thêm xanh, trong như nước biển”.
TNO thuật lại rằng sau khi ra giữa sông Hậu, đoạn gần cầu Cần Thơ để múc một xô nước sông lên, ông Tư Hài nói: “Ngày xưa nước múc như vậy, phải lấy cục phèn lóng cho phù sa lắng xuống đáy rồi mới dùng được. Còn bây giờ, nước trong veo như chẳng có gì”.
Theo ông Tư Hài, cách đây chừng 5 năm trở về trước, khi bước qua tháng 4 - 5, nước sông Hậu đã ngầu đỏ phù sa. Dòng nước mang theo rong, tảo, các loài thủy sinh được người dân gọi là “trứng nước” bao phủ khắp sông. Chỉ cần lấy tay vốc nước sông lên là có thể thấy “trứng nước” lợn cợn đầy trong đó.
Phù sa, trứng nước cũng chính là môi trường, là nguồn thức ăn dinh dưỡng giúp cá tôm lớn nhanh, sinh sản nhiều. Nhờ vậy, đã một thời những người làm nghề lưới cá như ông luôn sống khỏe. Cũng theo ông Tư Hài, xưa kia, những vườn bưởi Năm Roi đặc sản xứ Mỹ Hòa tươi tốt là nhờ nước sông Hậu dẫn vào mương trong vườn để rễ cây lấy dinh dưỡng tử lớp bùn dưới mương đắp lên gốc cây, cây luôn xanh tươi, cho trái mấy chục năm không cỗi.
Còn ông Nguyễn Văn Diều (60 tuổi, ngụ xóm Đáy) buồn rầu nói đã lâu rồi, ông không còn thấy con nước son (nước lũ lớn, đỏ ngầu phù sa), chỉ còn “dăm ba” con nước bạc (phù sa ít). Có những loại cá mất tăm mấy năm trời như cá phèn, cá út, cá lạt... “Tôi chẳng rõ nguyên nhân do đâu, chỉ thấy khi trứng nước không còn, dòng nước trong, xanh hơn thì cá tôm cũng ít dần, có loài mất tích luôn”, ông Diều lo lắng.
TNO nêu ý kiến của TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và tài nguyên thiên nhiên - Trường ĐH Cần Thơ, nhìn nhận những gì người dân thấy là một thực tế có cơ sở khoa học. Khi lượng phù sa ít đi, nước sông Hậu chắc chắn sẽ trong hơn và sự thay đổi đó là hiểm họa đe dọa sự sống còn của cả vùng đồng bằng.
Theo TS Ni, phía sau sự “biến sắc” của sông Hậu là thảm trạng ĐBSCL đang mất nguồn phù sa bồi đắp mà không cách nào thay thế được. Và không ai khác, chính những đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông là nguyên nhân dẫn đến thực trạng này.
“Để hình dung mức độ tai hại của suy giảm phù sa, trước tiên phải hiểu phù sa không chỉ có vật liệu mịn như bùn, sét, vật liệu lơ lửng hòa tan trong nước mà thành phần quan trọng nhất là vật liệu thô gồm cát, sỏi chìm. Viên sỏi có khi phải mất cả trăm năm mới trôi được từ thượng nguồn về đồng bằng. Nhưng nếu thiếu vật liệu thô này chắc chắn không thể hình thành nên đất. Nghiên cứu của tôi cho thấy đã 7 năm qua, cát, sỏi từ thượng nguồn không còn về ĐBSCL, gần như chúng đã bị chặn lại hoàn toàn bởi các đập thủy điện”, ông Ni nói.
Tại một diễn đàn Bảo tồn và phát triển bền vững ĐBSCL được tổ chức hồi giữa năm 2015, ông Marc Goichot, chuyên gia Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), cũng đã chia sẻ là năm 1992, lượng phù sa trên sông Mê Kông ghi nhận được khoảng 160 triệu tấn/năm, nhưng đến năm 2014, con số này chỉ còn khoảng 75 triệu tấn/năm, tức đã giảm trên 50%. Ông M. Goichot cũng cho rằng đập thủy điện chính là nguyên nhân làm giảm đáng kể sự di chuyển phù sa bồi đắp cho ĐBSCL.
TNO ghi nhận ý kiến của Th.S Kỷ Quang Vinh, chánh văn phòng Biến đổi khí hậu Cần Thơ, cho hay mất đi phù sa mới chỉ là “một nửa tấn bi kịch” ở ĐBSCL, một nửa còn lại là tình trạng sụt lún đất. “Một nghiên cứu từ năm 2000 - 2010 cho thấy mỗi năm bình quân ĐBSCL bị sụt lún 1 - 2 cm. Tiến trình này chắc chắn nhanh hơn khi khai thác nước ngầm quá mức, khai thác đất làm đất co lại và cả quá trình sụt lún tự nhiên”, ông Vinh nói.
Là một người dân cố cựu ở xóm Đáy (nằm cặp sông Hậu, đoạn gần cầu Cần Thơ, thuộc xã Mỹ Hòa, TX.Bình Minh, Vĩnh Long), gần cả đời gắn bó với nghề sông nước nên ông Tư Hài (Dương Công To, 72 tuổi) rành cái nết của con nước sông Hậu hơn ai hết. Nói theo ông, con nước “cũng có lúc vui, lúc buồn, lúc hờn giận”. Thế nhưng lần này, ông Tư Hài tỏ ra lo lắng: “Chưa bao giờ nước sông Hậu lại thay đổi lạ kỳ như năm nay. Đến tháng này mà con nước còn trong khe, màu nước mỗi ngày thêm xanh, trong như nước biển”.
TNO thuật lại rằng sau khi ra giữa sông Hậu, đoạn gần cầu Cần Thơ để múc một xô nước sông lên, ông Tư Hài nói: “Ngày xưa nước múc như vậy, phải lấy cục phèn lóng cho phù sa lắng xuống đáy rồi mới dùng được. Còn bây giờ, nước trong veo như chẳng có gì”.
Theo ông Tư Hài, cách đây chừng 5 năm trở về trước, khi bước qua tháng 4 - 5, nước sông Hậu đã ngầu đỏ phù sa. Dòng nước mang theo rong, tảo, các loài thủy sinh được người dân gọi là “trứng nước” bao phủ khắp sông. Chỉ cần lấy tay vốc nước sông lên là có thể thấy “trứng nước” lợn cợn đầy trong đó.
Phù sa, trứng nước cũng chính là môi trường, là nguồn thức ăn dinh dưỡng giúp cá tôm lớn nhanh, sinh sản nhiều. Nhờ vậy, đã một thời những người làm nghề lưới cá như ông luôn sống khỏe. Cũng theo ông Tư Hài, xưa kia, những vườn bưởi Năm Roi đặc sản xứ Mỹ Hòa tươi tốt là nhờ nước sông Hậu dẫn vào mương trong vườn để rễ cây lấy dinh dưỡng tử lớp bùn dưới mương đắp lên gốc cây, cây luôn xanh tươi, cho trái mấy chục năm không cỗi.
Còn ông Nguyễn Văn Diều (60 tuổi, ngụ xóm Đáy) buồn rầu nói đã lâu rồi, ông không còn thấy con nước son (nước lũ lớn, đỏ ngầu phù sa), chỉ còn “dăm ba” con nước bạc (phù sa ít). Có những loại cá mất tăm mấy năm trời như cá phèn, cá út, cá lạt... “Tôi chẳng rõ nguyên nhân do đâu, chỉ thấy khi trứng nước không còn, dòng nước trong, xanh hơn thì cá tôm cũng ít dần, có loài mất tích luôn”, ông Diều lo lắng.
TNO nêu ý kiến của TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và tài nguyên thiên nhiên - Trường ĐH Cần Thơ, nhìn nhận những gì người dân thấy là một thực tế có cơ sở khoa học. Khi lượng phù sa ít đi, nước sông Hậu chắc chắn sẽ trong hơn và sự thay đổi đó là hiểm họa đe dọa sự sống còn của cả vùng đồng bằng.
Theo TS Ni, phía sau sự “biến sắc” của sông Hậu là thảm trạng ĐBSCL đang mất nguồn phù sa bồi đắp mà không cách nào thay thế được. Và không ai khác, chính những đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông là nguyên nhân dẫn đến thực trạng này.
“Để hình dung mức độ tai hại của suy giảm phù sa, trước tiên phải hiểu phù sa không chỉ có vật liệu mịn như bùn, sét, vật liệu lơ lửng hòa tan trong nước mà thành phần quan trọng nhất là vật liệu thô gồm cát, sỏi chìm. Viên sỏi có khi phải mất cả trăm năm mới trôi được từ thượng nguồn về đồng bằng. Nhưng nếu thiếu vật liệu thô này chắc chắn không thể hình thành nên đất. Nghiên cứu của tôi cho thấy đã 7 năm qua, cát, sỏi từ thượng nguồn không còn về ĐBSCL, gần như chúng đã bị chặn lại hoàn toàn bởi các đập thủy điện”, ông Ni nói.
Tại một diễn đàn Bảo tồn và phát triển bền vững ĐBSCL được tổ chức hồi giữa năm 2015, ông Marc Goichot, chuyên gia Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), cũng đã chia sẻ là năm 1992, lượng phù sa trên sông Mê Kông ghi nhận được khoảng 160 triệu tấn/năm, nhưng đến năm 2014, con số này chỉ còn khoảng 75 triệu tấn/năm, tức đã giảm trên 50%. Ông M. Goichot cũng cho rằng đập thủy điện chính là nguyên nhân làm giảm đáng kể sự di chuyển phù sa bồi đắp cho ĐBSCL.
TNO ghi nhận ý kiến của Th.S Kỷ Quang Vinh, chánh văn phòng Biến đổi khí hậu Cần Thơ, cho hay mất đi phù sa mới chỉ là “một nửa tấn bi kịch” ở ĐBSCL, một nửa còn lại là tình trạng sụt lún đất. “Một nghiên cứu từ năm 2000 - 2010 cho thấy mỗi năm bình quân ĐBSCL bị sụt lún 1 - 2 cm. Tiến trình này chắc chắn nhanh hơn khi khai thác nước ngầm quá mức, khai thác đất làm đất co lại và cả quá trình sụt lún tự nhiên”, ông Vinh nói.
Send comment



