Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đà Lạt Và Giấc Mộng Tây Phương Của Tôi

20/08/200900:00:00(Xem: 7162)

Đà Lạt Và Giấc Mộng Tây Phương Của Tôi

Trịnh Thanh Thủy
Có người hỏi tôi nghĩ sao về Đà Lạt sau chuyến về thăm quê hương mới đây. Tôi không biết thu câu trả lời sao cho gọn ngoài một nhận xét trực giác “Đà lạt thay đổi phát chóng mặt” . Ngoài Nha Trang với số lượng du khách và kỹ nghệ khách sạn phát triển tột bực thì Đà Lạt là thành phố thứ nhì làm tôi sững sờ trước sự rộn ràng đổi mới của nó.
Dưng không tôi tự hỏi, mình đã đón nhận sự tiến hoá thành phố thuộc địa Tây ngày xưa này bằng một tâm thức nào" Nhìn nó bằng mắt một du khách ngoại quốc hay bằng tâm thức xưa cũ của kẻ trở về nơi chốn đã ghi đậm ít nhiều kỷ niệm" Theo tôi, tâm thức hoài cổ sẽ bàng bạc hiện hữu không những ở các việt kiều như tôi mà còn ở những người Việt trong nước trước đây đã từng ghé thăm Đà Lạt nữa. Cái hồn Bà Huyện Thanh Quan, của “Chốn xưa xe ngựa” của “Người đâu bây giờ” nó mang mang, chao đảo, rin rít lòng người lắm. Tuy nhiên nỗi luyến lưu tôi, một khách du đôi lần ghé thăm, nay trở về sẽ khác hẳn với tình thương thắm thiết của những cư dân đã sinh ra và lớn lên nơi này, yêu từng con dốc, quý từng góc đồi.
Đà Lạt xưa và nay khác nhau nhiều, hệt như nước mình,đã cởi áo, thay y.  Nó đổi từng giây kiến trúc, biến từng nhịp sống, xoay từng cửa ô văn hóa con người. Đà Lạt trở mình lớn lên như một cô bé, bỏ nét thơ ngây, thay những hòn cuội ô quan trong túi áo ngày nào bằng chiếc gương con, hộp phấn màu, rùng mình thành thiếu nữ môi đỏ, mắt tím thời thượng. Nét quyến rũ của nàng khác hẳn năm xưa. Phong thái mới của nền kiến trúc lai tạp, cộng với thiết bị tiện nghi phong phú thế kỷ, thêm vào sự đông đúc phồn hoa thấm đậm đa văn hoá của du khách khiến Đà Lạt bỗng xôn xao áo lụa, chải chuốt điểm trang hơn. Niềm tiếc, nỗi nhớ, cái nhìn của người trở về chốn xưa là thương, là tưởng thưở hồn nhiên, hoài khuôn mặt đơn sơ, nuối dáng vẻ trắng trong cô bé tuổi hoa bướm ngày nào vậy.
Mấy mươi năm rồi, Đà Lạt xưa của tôi là Đà Lạt của kiến trúc Tây Phương, là Đà Lạt của những ngôi biệt thự nằm rất yên tĩnh, vắng vẻ, an bình và nên thơ. Của những cơn mưa dai dẳng rả rích, lay phay trải dài những con đường đất đỏ, ướt mềm con dốc nghiêng nghiêng. Những rừng thông và dương sỉ xanh ngắt che bóng một, hai cô sơn nữ vai gùi, tay xách, tay ôm bước vội bên đường. Đâu đó xa xa rải rác những ngôi nhà sàn chân cao thả khói ban chiều lơ lửng. Tôi nhớ những chuyến xe đò vun vút quẹo qua từng khúc quanh nguy hiểm, để tâm trí du khách đậu lại sợ hãi trên những ngôi miếu nhỏ thờ vong hồn người tử nạn ở góc đường. Và nhớ những dãy đồi trà ngan ngát xanh típ tắt cuối con đèo qua Bảo Lộc. Thương thương làm sao dàn xu xu đầy trái vươn mình bên từng khoảng vuông mênh mông toàn là bắp núi.
Những địa danh gợi nhớ Đơn Dương,Trại Hầm, Trại Mát, Trạm Bò, Đèo Ngoạn Mục, Nhà thờ con gà, Chợ Hoà Bình và nhiều nhiều thứ đáng nhớ khác đọng lại trong trí tôi khi tôi theo bố ghé thăm Đà Lạt ngày xưa. Tôi yêu những trái thông khô phủ đầy mặt đất những nẻo đường qua. Tôi thích mứt khoai, mứt mận, bánh phồng loại nho nhỏ bằng bàn tay bán rong ở bến xe, trái bơ, khô nai và những thức vặt vãnh đặc sản khác của Đà Lạt. Trong trí cô bé Sài Gòn lúc ấy của tôi con gái Đà Lạt thật đẹp với những khăn phula, má đỏ, môi hồng. Nhìn dáng vẻ sang cả người thiếu nữ đứng bán sách khu phố gần chợ Hoà Bình bên nét điềm đạm người con trai da trắng, áo len đen thành phố sương, lòng tôi hay bất cứ du khách ghé chơi nào không thoáng nhen nhúm chút mơ hoa và mơ yêu"
Nói đến hoa, ai đến nơi này không mến chốn đất đỏ thiên đường của cỏ hoa chen sắc và cả hoa biết nói nữa. Có sống ở nơi cái nóng rịn rịt mồ hôi đuổi theo từng bước chân như Sài Gòn người ta mới cảm được nỗi hân hoan khi chạm nếm giọt mưa dầm lạnh lất phất đất cao nguyên. Mưa tưới tấm giọt phù sa dung nham ngày cũ làm nở vạn đoá hoa Đà Lạt. Cô bé say mê ngắm màu tím Pensés, Mimosa rực vàng. Để mắt êm ả rập rờn cánh bướm trên từng dậu Tigôn hồng nhạt bé xinh bờ tường những căn biệt thự. Óc bận rộn lay ký ức tìm câu chuyện cảm động đọc đâu đó về người con trai vì hái đóa tím dại cho người yêu mà té chết bờ vực sâu, trước khi chết còn thiết tha nhắn lại “Forget me not”. 
Từ ngàn xưa hình ảnh những cặp tình nhân đã gắn liền với đất trời Đà Lạt, nên mỗi khi nói đến đi hưởng tuần trăng mật người ta liền nhớ đến nơi này. Khung cảnh thơ mộng, khí hậu mát lạnh của Đà Lạt rất thích hợp với tình yêu. Lên Đà Lạt mà lên một mình để nhìn đồi núi mênh mông, tê tê với cái lạnh se da của sương, man mát với cái ướt của mưa phùn, hỏi ai không thấy mình cần một bờ vai ôm, một vòng tay ấm" Thoát sự cuốn hút nhộn nhịp của phố thị, buông giây bon chen của thành đô, tìm về một góc phố êm ả, ấy mới phút thú vị đời người. Khách có thể thả bộ loanh quanh trên những con đường tĩnh lặng và tìm ra mấy khi tâm mình được yên ắng mà lắng xuống một cách dịu dàng như thế.
Ghé cà phê Tùng để ngắm phố, ngắm người, nghe vài cung tơ Pháp cũ của Sylvie Vartan, Chirstophe, khách lãng du dễ để sóng lòng lao đao theo bước chân ai ngoài khung cửa. Cà phê Tùng đã có mặt ở Đà Lạt hơn nửa thế kỷ. Nằm ở trung tâm khu phố Hòa Bình, vị thế cà phê Tùng là lợi điểm hàng đầu của nó.  Chỉ cần nhìn qua khung kính, du khách có thể theo dõi bóng dáng các thiếu nữ thướt tha qua lại, nên nó một thời là nơi đóng đô của các cậu thanh niên và các đấng mày râu. Cái tên Tùng không những gợi hình những gốc tùng xanh ngắt mà còn khơi lại bao kỷ niệm, góc hồi ức của những chàng trai tha phương một chốn trở về ấm cúng. Đà Lạt có biết bao nhiêu quán cà phê, bao nhiêu nơi thanh lịch cho du khách dừng chân, tại sao những người muôn năm cũ có quay về lại chỉ muốn đến Tùng"  Muốn ngồi xuống bên bức tường ám khói, cạnh những bức tranh cũ ngấm vết thăng trầm mà tưởng lại những con người cũng tầng tầng ám khói.
Chiều nay tôi theo một người bạn đến Tùng, thăm lại những bức tranh úa màu thời gian của bác Đinh Cường, uống từng ngụm cà phê đăng đắng để nghe hồn nhỏ đều từng giọt. Tiếng thăm hỏi bà cụ chủ quán của anh bạn như mơ hồ, lãng đãng. Bà cụ kể ông cụ chết cách đây vài năm, khi đứng trước cửa quán bị một anh xe ôm lạc tay lái bay lên lề đường tông vào. Con cái giờ đi ra nước ngoài hết, cụ sống âm thầm trông coi cửa tiệm như một cái bóng khói ám dấu tường mỏi mệt.


Nghe bà cụ khơi lại những vết bụi trên lớp tro quá vãng, anh bạn tôi bùi ngùi thăm hỏi những cư dân Đà Lạt thân quen cũ. Cụ ngao ngán nói giờ chỉ còn đủ đếm trên đầu ngón tay. Hiện nay Đà Lạt đang ngập lụt với dân định cư muốn chuyển hộ khẩu từ Bắc,Trung và miền Tây vào. Bây giờ, phỏng chừng, Đà Lạt có khoảng 26% dân miền Bắc nhập cư, 22% Trung, 18% miền Tây, 14% Dân tộc và 38% cư dân Đà Lạt cũ. Thật ra thì từ bao thế kỷ trước Đà Lạt đã là một thành phố toàn dân nhập cư, người dân tộc mới là dân chính gốc Đà Lạt. Anh bạn tôi an ủi cụ, người đến kẻ đi, đất lành chim đậu, mật độ dân số cao, thành phố mới phát triển nhanh và tiến hoá chứ bác ơi. Nhưng có điều sự phát triển, kéo theo kiến trúc xây dựng hỗn loạn quá, trông rối mắt và mất đi đường nét thẩm mỹ lai Pháp ngày trước. Gần đây có một bài báo phàn nàn về Đà Lạt ngổn ngang tình trạng xây dựng trái phép. Hằng năm có thêm hàng trăm căn nhà xây không phép được mọc lên mà chính quyền và ngành chức năng ở đây gần như chỉ đứng bên lề. Tình trạng này góp phần phá vỡ quy hoạch của thành phố Đà Lạt, làm bộ mặt thành phố xấu đi.
Cụ ngồi thở than và dẫn dụ anh bạn tôi đổ cái nhìn về quá khứ, về thế giới đen trẳng những ngày anh bạn tôi thơ thẩn chờ ai cổng trường Lycee Yersin. Phút ấy tôi mới chợt nhận ra nét “rất Tây” của anh bạn mình. Tôi tự hỏi có phải cái Tây của phố núi và những từ ngữ:  Pasteur, Lycée, Grand, Petit, Couvent, Oiseaux, Domaine de Marie...v...v..., trong đời sống hàng ngày đã nhiễm vào con người Đà Lạt làm cho cư dân Đà Lạt ngày đó có một nếp văn hoá rất thoáng và cởi mở không "  Còn các chàng trai Đà Lạt bị ảnh hưởng những cung cách Tây mà trở nên rất ga lăng, rất Tây không"
Có lẽ tâm thức hoài cổ và hoài Tây của bà cụ cũng là tâm thức của những cư dân Đà Lạt xưa. Trong một bài báo tôi tình cờ đọc, có một thanh niên hiến đời mình vào thú sưu tầm đồ cổ và gia dụng dùng trong các ngôi biệt thự Pháp cũ. Anh sở hữu một bộ sưu tập đồ cổ khoảng 3.000 món. * Điều làm nên sự khác biệt của tay chơi này với những nhà sưu tầm khác là tính địa phương của cổ vật. Hầu hết chúng là những món gắn liền với đời sống xã hội của Đà Lạt từ những ngày đầu khu nghỉ mát cao nguyên được người Pháp thành lập.
Điều đáng quý là dù sống một cuộc sống kham khổ, thiếu trước hụt sau anh vẫn không bán những cổ vật ấy đi. Anh lưu giữ chúng như lưu giữ những hình ảnh phản chiếu của một thời quá vãng, một thưở văn hoá Việt nam dập dìu những tiếng Lơ, La, Moa, Toa đậm đà màu  thuộc địa.
Anh bạn nhân câu chuyện kể thêm về niềm “tự hào dân tộc” của mình. Ngày xưa, có một bài báo ở đất Nam(ý nói đất Sài Gòn cũ), đánh giá Đà Lạt là thành phố “trí thức” nhất miền Nam. Sự đánh giá đúng hay sai này “tùy thuộc vào người đối diện”nhưng tiêu chuẩn được đặt ra là “So với dân số, Đà lạt là thành phố có tỷ lệ trường cấp đại học cao nhất. (ý nói Việt Nam Cộng Hoà trước 75).
Miền Nam trong thập niên 60, chỉ có bốn trường đại học thì Đà Lạt đã chiếm một tức Viện Đại Học Đà Lạt, còn ba Viện kia là Đại Học Sài Gòn, Vạn Hạnh và Huế (Khi ấy chưa có Đại học Minh Đức ở Sài Gòn và Đại Học Cần Thơ ở Cần Thơ) . Ngoài ra Đà Lạt còn 3 đại học quân sự là Trường Võ Bị Đà Lạt, Trường Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt (Lúc đầu học trình các trường này ngắn hơn nhưng sau cùng thì học trình cho cả 2 trường đều là 4 năm tức tương đương bậc Cử Nhân) và Trường Đại Học Tham Mưu cho các sĩ quan Trung Cấp (từ Trung uý cho đến Trung tá).
Đà Lạt lại có 2 đại học thần học của Công giáo là Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế và Giáo Hoàng Học Viện. Đặc biệt nơi này được giảng dạy bởi các giáo sư thần học ngoại quốc. Có khoảng trên 100 giáo sư từ phương Tây sang cư ngụ và giảng dạy. Nói tóm lại, nếu xét các định chế cấp bậc đại học ở đủ mọi lãnh vực thì Đà Lạt có thể dám chiếm tới 40 tới 50% tổng số của cả miền Nam thời ấy. Đó là chưa kể Đà Lạt có tới 4 hoặc 5 trường trung học chương trình Pháp vốn được xem là có giá trị cao ở đất Nam.
Tôi theo anh bạn đi thăm lại những ngôi trường cũ anh kể, nhìn lại nơi chốn “vang bóng một thời” của bao nhiêu mầm non đất nước ngày xưa đã mài đũng quần mòn ghế gỗ. “Vật đổi sao dời”, tên trường đổi, có trường không còn. Anh bạn ngậm ngùi nhìn từng hàng ghế. Cái nhìn anh thẳm sâu hun hút dãy hành lang. Cánh cửa ký ức của anh có lẽ đang rộng mở đón hình ảnh cậu bé ôm cặp da ngây ngô, mặc đồng phục, đứng xếp hàng sau các bạn lần lượt vào lớp.
Hôm sau, anh bạn dẫn tôi viếng cao nguyên Lâm Viên. Tôi và anh hì hục leo dốc đồi của đỉnh Liang Bang. Lên được một đoạn khá rộng rãi, tôi đứng vắt vẻo trên cao nhìn xuống thung lũng xanh rờn điểm sọc đỏ, màu của đất thịt, thấy lòng lâng lâng và thanh thản lắm. Lác đác đâu đó những vệt khói lam vắt ngang lưng trời trông cao nguyên màu mỡ đẹp khôn tả. Hít đầy phổi không khí sạch và thơm, tôi bỗng dưng cảm được cái ơn đất trời thiêng liêng kỳ diệu. Anh bảo tôi, thở đi vì chỉ nơi này mới có hương của phấn thông, hương của ban mai và hò hẹn. Phía bên kia trái núi là một cảnh đời khác, không khí ô nhiễm và thiên nhiên bị phá hoại đến tàn nhẫn. Theo ngón tay anh chỉ xa mút mắt, tôi thấy bóng những người dân tộc cần cù lao tác bên những thửa vườn hay ruộng xanh non. Anh nói nhà, đất của họ đã bị lấy đi, bị biến thành đất quy hoạch để bán cho các kẻ có tiền. Họ bị đuổi sâu vào trong núi, bên những chung cư xây vội. Những ngôi nhà sàn nên thơ giờ đã lần hồi biến mất. Người ta còn đuổi họ đi để lấy chỗ khai thác Bauxite. Giọng anh buồn khi chạm đến nỗi đau tứa máu của Lâm Viên. Tôi thấy được rừng thông bị tàn phá để lấy gỗ. Thác Cam Ly cạn kiệt không còn nước đổ. Đi tới đâu cũng nghe nơi này bị bán cho ngoại quốc, nơi kia bị sang cho ngoại kiều.  Khuôn mặt anh sụp xuống trong góc nhìn màu xám về Đà Lạt.
Sự thay đổi của Đà Lạt hôm nay làm giật mình kẻ trở về. Cái náo nhiệt xô bồ của phố xá đông nhộn làm vui tai người mới tới. Nét duyên dáng nồng nàn của miền núi và tính đa văn hoá của con người do sự tụ hội của du khách đến từ các nơi, tạo cho Đà Lạt một bản sắc đặt thù rất riêng. Nhịp tăng trưởng không ngừng của dân cư, kiến trúc và du khách,kích thích tăng trưởng kinh tế, thương mại, ngành du lịch, và nó còn kéo theo các ngành nghề khác nữa như giao thông, vận tải, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật.  Nhưng chính tiềm năng dồi dào tài nguyên thiên nhiên đã hại Đà Lạt. Nó quyến rũ sự chiếm hữu của con người. Người ta đến để tận dụng khai thác và hủy hoại nó. Cái thuyết “tài mệnh tương đố” có phải đúng trong trường hợp này.
Bất cứ sự phát triển nào cũng có hai mặt tiêu và tích cực. Tuy nhiên, theo tôi dù cho Đà Lạt có thay đổi đến đâu đi nữa. Tâm thức hoài cổ của cư dân ngày cũ có vằng vặc cao vợi mấy tầng đi nữa. Tình mến yêu Đà Lạt của mọi người vẫn còn nguyên đấy. Chỉ cần một bức tranh, một bài hát, một nhắc nhở ân cần, tấm lòng người đi xa sẽ sẵn sàng quay lại để nhớ về và thương mến. Có lẽ Đà Lạt mãi mãi là bông hoa miền cao nở rộ trên triền đồi ký ức của những kẻ phải lưu vong xa xứ.
Trịnh Thanh Thủy

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.