Hôm nay,  

Uống Rượu, Bia Có Thể Làm Tăng Nguy Cơ Bị Ung Thư Vú

14/06/202400:00:00(Xem: 1189)

iStock-1206509403
Nhiều chiến dịch quảng cáo thường sử dụng hình ảnh những người phụ nữ thành đạt và quyến rũ, vui vẻ nhấm nháp chút rượu trong các buổi tiệc tùng, sau một ngày làm việc căng thẳng. Tuy nhiên, ẩn sau đó là những tác hại khôn lường, chẳng hạn như nguy cơ ung thư vú… (Nguồn: pixabay.com)

Nhiều phụ nữ không nhận ra rằng những ly rượu, ly bia mà họ thường uống cùng bạn bè, hoặc để thư giãn trong “giờ nhậu của mẹ” (wine mom moment, một số bà mẹ thích nhâm nhi vài ly rượu hoặc lon bia để thư giãn sau khi bận rộn chăm sóc con cái và gia đình) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tuy điều này có vẻ không vui, nhưng lại là sự thật: Rượu, bia thực sự có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
 
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Học Viện Quốc Gia về Lạm Dụng Rượu và Nghiện Rượu (NIAAA), so với những người không uống rượu, chỉ một ly rượu mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú từ 5% đến 9%.
 
Vào năm 2021, các nhà nghiên cứu về rượu và ung thư đã thực hiện một nghiên cứu với hơn 5,000 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên trên khắp Hoa Kỳ, để tìm hiểu xem họ biết gì về mối liên quan giữa rượu và ung thư vú, cùng với những thông tin về thói quen uống rượu và các vấn đề về sức khỏe của họ.
 
Nhóm nghiên cứu đã rất ngạc nhiên khi biết rằng chỉ 1/4 phụ nữ biết rằng rượu, bia là yếu tố gây nguy cơ ung thư vú. Điều đáng lo ngại hơn nữa là có 35% phụ nữ không tin rằng có bất kỳ mối liên quan nào giữa rượu, bia và bệnh ung thư vú. Và có 40% khác không chắc chắn.
 
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy sự hiểu biết về mối liên quan này khác nhau dựa trên độ tuổi, trình độ học vấn và chủng tộc.
 
Những phụ nữ trẻ hơn, có trình độ học vấn cao hơn, và những người phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến rượu, bia thường sẽ biết rõ hơn về mối liên quan giữa rượu, bia và nguy cơ ung thư vú. Những phụ nữ cao niên, người có trình độ học vấn thấp hơn, và những người đã không uống rượu, bia trong một năm, thường sẽ ít biết về việc rượu có thể gây ung thư vú hơn. Phụ nữ gốc da đen thường ít nhận thức được nguy cơ giữa rượu và ung thư vú hơn so với phụ nữ gốc da trắng.
 
Bớt uống rượu để giảm nguy cơ ung thư vú
 
Dù các nhà nghiên cứu, viên chức y tế và nhiều chuyên gia khác đã cố gắng cảnh báo về các tác hại của rượu, bia, và nguy cơ bị ung thư vú, nhưng có vẻ như thông điệp này vẫn chưa đến được với hầu hết mọi người.
 
Ngoài ra, còn có nhiều lầm tưởng phổ biến về lợi ích của rượu, bia, và nhiều người không muốn thừa nhận rằng uống rượu, bia có thể gây hại cho sức khỏe.
 
Để giải quyết vấn đề, cần có chiến dịch truyền thông toàn diện để giúp nâng cao nhận thức về tác hại của rượu, bia và mối liên quan với ung thư vú. Các chiến dịch giáo dục cũng nên nhắm đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau để giúp họ hiểu rõ hơn về nguy cơ này.
 
Bên cạnh đó, các chính sách về quảng cáo và tiếp thị rượu, bia cần được kiểm soát chặt chẽ hơn và việc tăng thuế đối với rượu, bia có thể góp phần giúp giảm tác hại liên quan đến rượu, bia. Một vấn đề nhức nhối hiện nay là tiếp thị rượu, bia thường nhắm mục tiêu vào phụ nữ, cố tình tán dương việc phụ nữ uống rượu, bia là một hình ảnh hấp dẫn mà phớt lờ các nguy cơ sức khỏe.
 
Ngày nay, tìm đến rượu, bia để giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống có vẻ như là một việc rất đỗi bình thường. Nhưng trước khi “mở nắp,” quý vị hãy suy nghĩ kỹ về tác hại của rượu, bia đối với sức khỏe của mình, để có thể đưa ra lựa chọn sáng suốt cho bản thân.
 
VB biên dịch
Nguồn: “Your favorite drink can cause breast cancer – but most women in the US aren’t aware of alcohol’s health risks” được đăng trên trang TheConversation.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Marian Cleeves Diamond (1926-2017) là nữ khoa học gia người Mỹ chuyên về não. Bà và nhóm làm việc của bà lần đầu tiên đã công bố bằng chứng cho thấy não có thể thay đổi theo kinh nghiệm và cải thiện theo sự bồi bổ, điều mà ngày nay gọi là khả năng thay đổi của hệ thần kinh để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài (neuroplasticity), theo một bài viết đăng trên trang nhà Đại Học UC Berkeley.“Nghiên cứu của bà cho thấy tác động của việc bồi bổ lên sự phát triển của não – một sự hiểu biết đơn giản nhưng có sức mạnh mà đã thay đổi thế giới, từ cách chúng ta nghĩ về chính mình tới cách chúng ta nuôi dạy con cái của chúng ta,” theo giáo sư về sinh học của Đại Học UC Berkeley George Brooks, cũng là một đồng viện của bà Diamond. “Tiến Sĩ Diamond cho thấy về mặt cơ thể học, lần đầu tiên, những gì chúng ta hiện nay gọi là khả năng thay đổi để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài của não bộ.
Khi các biến thể mới của Covid đang lan rộng tại Hoa Kỳ, nhiều người sẽ cảm thấy lo lắng cho kế hoạch đi chơi hè của mình. Hướng dẫn mới từ CDC có thể khác một chút so với trước đây. Dưới đây là những điều cần biết nếu quý vị thấy lo lắng, hoặc nghĩ mình có thể bị nhiễm Covid-19 trong mùa hè này.
Khoảng 80 năm trước, ngay sau khi những liều penicillin đầu tiên được sử dụng, vi khuẩn đã bắt đầu tìm cách lẩn tránh, chống lại các loại thuốc kháng sinh (hay trụ sinh, antibiotic). Kể từ đó, cuộc chiến trường kỳ và khốc liệt giữa các loại vi khuẩn nguy hiểm và con người kéo dài đến tận ngày nay. Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng, xét về những khía cạnh quan trọng, con người đang yếu thế trong cuộc chiến này.
Trong những tháng gần đây, hai loại thuốc Ozempic và Wegovy đã trở nên rất nổi tiếng vì giúp mọi người giảm cân nhiều và nhanh. Tuy nhiên, khi giảm cân trong một thời gian ngắn, một số người đã nhận thấy những thay đổi bất ngờ trong ngoại hình của mình, đặc biệt là khuôn mặt. Hiện tượng này được gọi là “mặt Ozempic” (Ozempic face).
Các bác sĩ tim mạch có thể sẽ có đánh giá khác nhau về độ tuổi của bệnh nhân trong việc quyết định liệu có nên làm bypass cho họ hay không. Hầu hết mọi người đều cho rằng bệnh nhân trên 80 tuổi không nên làm bypass cho tim vì kết quả thường không được khả quan như bệnh nhân ở độ tuổi trẻ hơn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu, suy nghĩ này nên được thay đổi, các bác sĩ không nên chỉ dựa vào tuổi tác mà từ chối phẫu thuật làm bypass cho bệnh nhân.
Một nghiên cứu mới đã tiết lộ về phản ứng miễn dịch của con người khi đối mặt với SARS-CoV-2 và các bệnh truyền nhiễm khác. Hơn bốn năm kể từ khi Covid-19 được tuyên bố là đại dịch với tổng số ca bệnh trên toàn thế giới vượt quá 775 triệu, các nhà khoa học đang làm sáng tỏ những phản ứng miễn dịch cụ thể giúp một số người dường như không bị nhiễm virus.
Các nhà nghiên cứu đã có phát hiện đáng chú ý về một loại protein mang tên UCP1, có khả năng truy ngược lại hơn 100 triệu năm về trước và vẫn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện tại. Protein này hoạt động như một máy phát nhiệt, giúp cho các loài động vật có vú có thể sống trong những môi trường có khí hậu lạnh. 120 triệu năm trước, tổ tiên của các loài động vật có vú đã xuất hiện. Nhờ vào công nghệ gen hiện đại, các nhà nghiên cứu từ Đại học Stockholm và Viện Wenner-Gren đã có thể phân tích cấu trúc gen của protein UCP1 từ nhiều loài động vật. Nhờ đó, họ đã có thể tái tạo cách mà protein này được hình thành trong các tế bào sống và khảo sát sự hoạt động của phiên bản cổ đại UCP1 so với phiên bản hiện tại, đặc biệt là ở con người.
Để tìm hiểu thêm về các sinh hoạt sắp tới của Hội Ung Thư Việt Mỹ hoặc ghi danh cho các sinh hoạt, quý vị vui lòng liên lạc 714-751-5805, gửi email đến info@vacf.org, hoặc vào trang mạng www.vacf.org. Địa chỉ của văn phòng là 17150 Newhope Street, Suite 201, Fountain Valley, CA 92708.
Có lẽ không có giai đoạn nào trong cuộc đời trưởng thành của phụ nữ mang lại nhiều thay đổi đáng kể về sức khỏe như ở độ tuổi 50. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi. Cả giai đoạn mãn kinh lẫn những năm tiền mãn kinh đều gây ra nững thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không chuẩn bị sẵn tâm lý cũng như cách đối phó với những thay đổi này.
Một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh sẽ giúp bảo vệ cơ thể, chống lại bệnh tật và các tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, đối với 1/10 người và đa số là phụ nữ, hệ thống miễn dịch gặp trục trặc và tấn công các tế bào của cơ thể, gây ra hơn 80 loại bệnh tự miễn dịch, chẳng hạn như lupus, đa xơ cứng (multiple sclerosis) và bệnh phong thấp (rheumatoid arthritis). Một số nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ thường mắc các bệnh tự miễn dịch nhiều hơn nam giới; nguyên nhân có thể là do có một cơ chế bị lỗi, khiến quá trình tắt nhiễm sắc thể (NST) X trong tế bào diễn ra không đúng cách. Trong các tế bào của phụ nữ, một trong hai NST X được tắt bớt hoạt động. Nếu quá trình này không diễn ra đúng cách, có thể dẫn đến các vấn đề liên quan đến hệ thống miễn dịch và góp phần vào sự phát triển của các bệnh tự miễn dịch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.