Hôm nay,  

Tại Sao Nhiều Người Lại Thích Bẻ Khớp Kêu Rôm Rốp? Liệu Đó Có Phải Là Thói Quen Xấu?

31/05/202400:00:00(Xem: 1019)

be khop
Bẻ các khớp cho kêu rôm rốp không gây ra bệnh viêm khớp như nhiều người vẫn nghĩ. Nhưng bẻ khớp ở những vùng quan trọng như cổ, cột sống mà không đúng cách có thể gây ra những tác hại khôn lường. (Nguồn: pixabay.com)

Cảm giác từ việc bẻ các khớp ngón tay cho kêu rôm rốp có thể rất khác nhau tùy theo từng người. Có người thấy rất ‘đã,’ thậm chí là bị ghiền, cũng có người thấy khó chịu hoặc sợ hãi. Dù việc bẻ khớp thường được nhiều người coi là một thói quen không tốt, nhưng nếu có thể hiểu được cơ chế hoạt động đằng sau việc bẻ khớp, ta sẽ hiểu tại sao lại có nhiều người ‘ghiền’ đến vậy.
 
Tại sao việc bẻ khớp lại mang lại cảm giác thỏa mãn cho một số người?
 
Âm thanh ‘rôm rốp’ mà chúng ta nghe bị bẻ các khớp ngón tay thực ra không phải là âm thanh khớp bị bẻ, bị nứt như nhiều người lầm tưởng. Toàn bộ khớp được bọc trong bao khớp (joint capsule), bên trong phần bao khớp có một loại dịch lỏng gọi là hoạt dịch (synovial fluid). Phần hoạt dịch này có chứa bọt khí (hay bong bóng khí), chủ yếu là carbon dioxide và nitơ. Matthew Cavanaugh, một bác sĩ chỉnh hình làm việc tại Lafayette, Louisiana, giải thích: “Khi ta bẻ khớp, việc kéo căng bao khớp đến giới hạn chuyển động cuối cùng sẽ tạo ra một loại áp suất thấp bên trong bao khớp, giống như môi trường chân không, khiến các bọt khí bị bể ra. Tốc độ bẻ khớp là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra âm thanh rôm rốp. Khi ta bẻ khớp nhanh, giống như các chuyên gia chỉnh hình thường làm, áp lực được tạo ra trong bao khớp nhanh chóng, làm cho các bong bóng khí bể nhanh hơn.”
 
Nếu chỉ là bọt khí bị bể thôi thì sao lại… đã ghiền đến thế? Rojeh Melikian, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình cột sống tại Trung tâm DISC Sports and Spine Center ở California, cho biết, việc bẻ khớp thực sự có thể tạo ra một cảm giác giải phóng về mặt vật lý, tạm thời giảm căng thẳng và cảm giác cứng nhắc trong khớp và tăng khả năng vận động của khớp. Một lý thuyết phổ biến là động tác bẻ khớp một cách bất ngờ cũng có thể kích thích các dây thần kinh xung quanh khớp, giúp giải phóng hoocmon endorphin và giảm đau. Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn chưa được chứng minh.
 
Nhưng cảm giác của việc bẻ khớp không chỉ là về sinh lý học, mà còn có một khía cạnh tâm lý. Hành động bẻ khớp có thể trở thành một thói quen gây ra hiệu ứng giống với giả dược, khiến người ta thấy thoải mái dù không có bằng chứng khoa học chứng minh. Một số người chỉ thích nghe âm thanh rôm rốp từ việc bẻ khớp chứ không nhất thiết phải tự bẻ các khớp ngón tay của chính mình. Họ thường tìm xem các clip ASMR (Autonomous Sensory Meridian Response, xin tạm dịch là phản ứng kích thích cảm giác tự động, các loại âm thanh hay hiện tượng khiến người ta cảm thấy dễ chịu, thoải mái) trên TikTok về bẻ khớp.
 
Vậy, bẻ khớp có hại không?
 
Bẻ khớp không làm tăng nguy cơ bị bệnh viêm khớp, dù quý vị vẫn thường nghe người ta truyền tai nhau về những cảnh báo này. Theo các nghiên cứu từ năm 1998, không có mối liên quan đáng chú ỳ nào giữa thói quen bẻ khớp ngón tay và bệnh viêm xương khớp ở tay.
 
Melikian cho biết thêm: “Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thói quen bẻ khớp ngón tay có thể khiến người ta bị sưng phù tay nhiều hơn và sức cầm nắm yếu hơn,” dù vẫn chưa rõ lý do vì sao sức cầm nắm lại bị ảnh hưởng.
 
Một nghiên cứu năm 2017 trên tạp chí Hand Surgery & Rehabilitation đã so sánh 35 người thường xuyên bẻ khớp ngón tay (ít nhất 5 lần mỗi ngày) với nhóm người không bẻ, và phát hiện rằng trong khi những người thường xuyên bẻ khớp có phần sụn đầu xương bàn tay (phần sụn xung quanh các khớp trên các đốt ngón tay) dày hơn những người không bẻ, nhưng sức cầm nắm của họ lại không bị ảnh hưởng tiêu cực.
 
Tuy nhiên, việc bẻ khớp không phải là không có tác hại gì. Các khớp lớn hơn, chẳng hạn như cổ và cột sống, cần được thực hiện một cách cẩn thận. Các vùng này rất phức tạp và dễ bị chấn thương cũng như hiệu ứng phụ, chẳng hạn như đau đầu, cảm giác tê rần, châm chích ở chân tay và chóng mặt nếu không được thực hiện đúng cách. Trong những trường hợp nghiêm trọng, thao tác bẻ khớp ở phần cột sống cổ thậm chí có thể dẫn đến hiện tượng phình tách động mạch (arterial dissection), hay thành động mạch bên trong bị rách, có thể dẫn đến đột quỵ.
 
Tự bẻ khớp, nếu sử dụng lực quá lớn hoặc làm không đúng cách, có thể gây tổn thương cho dây chằng, cơ bắp hoặc dây thần kinh, vì các khu vực như cổ và cột sống là “những cấu trúc phức tạp, thường xuyên phải chịu nhiều áp lực và căng thẳng.” Cột sống cũng bao quanh phần tủy sống rất nhạy cảm, tập trung nhiều dây thần kinh. Nên nếu tự mình vặn, bẻ cột sống, có thể gây nguy hiểm cho tủy sống và các dây thần kinh xung quanh. Để giảm thiểu nguy cơ tổn thương, chúng ta nên áp dụng “lực đẩy tốc độ cao, biên độ thấp” – tức là một động tác vặn mình nhẹ nhàng, nhanh chóng và chỉ vặn vừa vừa, không quá căng.
 
Vấn đề quan trọng khi tự bẻ khớp là nguy cơ sử dụng lực không đúng hoặc vặn, đẩy khớp sai hướng. Miễn là chúng ta thực hiện theo các chuyển động tự nhiên của khớp, thì tự bẻ khớp là khá an toàn. Thí dụ như khi bẻ khớp đốt ngón tay, các ngón tay không xoắn ốc mà chỉ uốn cong, nên khi bẻ khớp ta không được xoắn, vì có thể khiến dây chằng bị căng quá mức, gây tổn thương và viêm khớp. Nếu tự bẻ khớp mà thấy bất kỳ đau đớn nào, hãy ngừng bẻ ngay lập tức và đi khám bác sĩ.
 
Mặc dù phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra thói quen bẻ khớp ngón tay không có bất kỳ ảnh hưởng nghiêm trọng nào về lâu dài, nhưng nhiều người vẫn giữ quan điểm rằng thói quen này là không tốt. Có thể là do họ lo ngại về những tác hại tiềm ẩn chưa được phát hiện của việc bẻ khớp.

Cung Đô biên dịch
Nguồn: “Why cracking your knuckles is so satisfying—and if it’s really a bad habit” được đăng trên trang Nationalgeographic.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Marian Cleeves Diamond (1926-2017) là nữ khoa học gia người Mỹ chuyên về não. Bà và nhóm làm việc của bà lần đầu tiên đã công bố bằng chứng cho thấy não có thể thay đổi theo kinh nghiệm và cải thiện theo sự bồi bổ, điều mà ngày nay gọi là khả năng thay đổi của hệ thần kinh để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài (neuroplasticity), theo một bài viết đăng trên trang nhà Đại Học UC Berkeley.“Nghiên cứu của bà cho thấy tác động của việc bồi bổ lên sự phát triển của não – một sự hiểu biết đơn giản nhưng có sức mạnh mà đã thay đổi thế giới, từ cách chúng ta nghĩ về chính mình tới cách chúng ta nuôi dạy con cái của chúng ta,” theo giáo sư về sinh học của Đại Học UC Berkeley George Brooks, cũng là một đồng viện của bà Diamond. “Tiến Sĩ Diamond cho thấy về mặt cơ thể học, lần đầu tiên, những gì chúng ta hiện nay gọi là khả năng thay đổi để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài của não bộ.
Khi các biến thể mới của Covid đang lan rộng tại Hoa Kỳ, nhiều người sẽ cảm thấy lo lắng cho kế hoạch đi chơi hè của mình. Hướng dẫn mới từ CDC có thể khác một chút so với trước đây. Dưới đây là những điều cần biết nếu quý vị thấy lo lắng, hoặc nghĩ mình có thể bị nhiễm Covid-19 trong mùa hè này.
Khoảng 80 năm trước, ngay sau khi những liều penicillin đầu tiên được sử dụng, vi khuẩn đã bắt đầu tìm cách lẩn tránh, chống lại các loại thuốc kháng sinh (hay trụ sinh, antibiotic). Kể từ đó, cuộc chiến trường kỳ và khốc liệt giữa các loại vi khuẩn nguy hiểm và con người kéo dài đến tận ngày nay. Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng, xét về những khía cạnh quan trọng, con người đang yếu thế trong cuộc chiến này.
Trong những tháng gần đây, hai loại thuốc Ozempic và Wegovy đã trở nên rất nổi tiếng vì giúp mọi người giảm cân nhiều và nhanh. Tuy nhiên, khi giảm cân trong một thời gian ngắn, một số người đã nhận thấy những thay đổi bất ngờ trong ngoại hình của mình, đặc biệt là khuôn mặt. Hiện tượng này được gọi là “mặt Ozempic” (Ozempic face).
Các bác sĩ tim mạch có thể sẽ có đánh giá khác nhau về độ tuổi của bệnh nhân trong việc quyết định liệu có nên làm bypass cho họ hay không. Hầu hết mọi người đều cho rằng bệnh nhân trên 80 tuổi không nên làm bypass cho tim vì kết quả thường không được khả quan như bệnh nhân ở độ tuổi trẻ hơn. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu, suy nghĩ này nên được thay đổi, các bác sĩ không nên chỉ dựa vào tuổi tác mà từ chối phẫu thuật làm bypass cho bệnh nhân.
Một nghiên cứu mới đã tiết lộ về phản ứng miễn dịch của con người khi đối mặt với SARS-CoV-2 và các bệnh truyền nhiễm khác. Hơn bốn năm kể từ khi Covid-19 được tuyên bố là đại dịch với tổng số ca bệnh trên toàn thế giới vượt quá 775 triệu, các nhà khoa học đang làm sáng tỏ những phản ứng miễn dịch cụ thể giúp một số người dường như không bị nhiễm virus.
Các nhà nghiên cứu đã có phát hiện đáng chú ý về một loại protein mang tên UCP1, có khả năng truy ngược lại hơn 100 triệu năm về trước và vẫn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện tại. Protein này hoạt động như một máy phát nhiệt, giúp cho các loài động vật có vú có thể sống trong những môi trường có khí hậu lạnh. 120 triệu năm trước, tổ tiên của các loài động vật có vú đã xuất hiện. Nhờ vào công nghệ gen hiện đại, các nhà nghiên cứu từ Đại học Stockholm và Viện Wenner-Gren đã có thể phân tích cấu trúc gen của protein UCP1 từ nhiều loài động vật. Nhờ đó, họ đã có thể tái tạo cách mà protein này được hình thành trong các tế bào sống và khảo sát sự hoạt động của phiên bản cổ đại UCP1 so với phiên bản hiện tại, đặc biệt là ở con người.
Để tìm hiểu thêm về các sinh hoạt sắp tới của Hội Ung Thư Việt Mỹ hoặc ghi danh cho các sinh hoạt, quý vị vui lòng liên lạc 714-751-5805, gửi email đến info@vacf.org, hoặc vào trang mạng www.vacf.org. Địa chỉ của văn phòng là 17150 Newhope Street, Suite 201, Fountain Valley, CA 92708.
Có lẽ không có giai đoạn nào trong cuộc đời trưởng thành của phụ nữ mang lại nhiều thay đổi đáng kể về sức khỏe như ở độ tuổi 50. Ở Hoa Kỳ, độ tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi. Cả giai đoạn mãn kinh lẫn những năm tiền mãn kinh đều gây ra nững thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau trong cơ thể. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ không chuẩn bị sẵn tâm lý cũng như cách đối phó với những thay đổi này.
Nhiều phụ nữ không nhận ra rằng những ly rượu, ly bia mà họ thường uống cùng bạn bè, hoặc để thư giãn trong “giờ nhậu của mẹ” (wine mom moment, một số bà mẹ thích nhâm nhi vài ly rượu hoặc lon bia để thư giãn sau khi bận rộn chăm sóc con cái và gia đình) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Tuy điều này có vẻ không vui, nhưng lại là sự thật: Rượu, bia thực sự có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.