Hôm nay,  

Cái gọi là tâm linh

05/04/202400:00:00(Xem: 854)

xa loi toc 
Trong vài thập niên gần đây, thuật ngữ “tâm linh” trở nên rất thời thượng, tràn ngập khắp trên mặt báo chí, truyền thông, mạng xã hội, người người nói, nhà nhà nói. Nó trở thành từ cửa miệng của rất nhiều người trong đạo lẫn ngoài đời. Những tà sư, thầy cúng, các nhóm lợi ích kết hợp với những thế lực chính trị và thế lực ngầm ra sức phá rừng, xẻ núi, lấp ruộng… để làm những ngôi chùa, đền, miếu khổng lồ phục vụ cho cái gọi là du lịch tâm linh, hành hương tâm linh… Ngoài những ngôi chùa khổng lồ ấy ra còn có vô số chùa tư, đền, miếu, am, dinh, miễu...mọc lên như nấm sau mưa. Có một điểm chung là các cơ sở này thờ hằm bà lằng từ Phật, thánh thần, thiên, ông đồng bà cốt, cậu hoàng… và cả những nhân vật chính trị thế tục.
  
Chánh pháp hoàn toàn vắng mặt ở những nơi chốn này, có thể nói một cách chắc chắn rằng những nơi này chỉ toàn là tà pháp, loạn pháp, mê tín dị đoan. Những cơ sở này đánh trúng vào tâm lý quần chúng thích hưởng quả mà không chịu gieo trồng, thích những chuyện hoang đường kỳ bí, thích những lời mê hoặc mà không muốn nghe lời thật. Dòng người hành hương tâm linh, du lịch tâm linh đổ về ào ạt, điều này cũng có nghĩa là tiền vô như nước. Việc buôn thần bán thánh trở nên sôi động và mãnh liệt hơn bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử nước ta.
  
Trước khi nói về du lịch tâm linh, ta thử tìm hiểu một chút về chữ nghĩa. Theo các tôn giáo khác thì con người có linh hồn và cái linh hồn ấy sẽ được định đoạt bởi vị giáo chủ hay thượng đế đầy quyền năng. Nếu khi sống phải tin tuyệt đối theo các tín điều (không cần biết tín điều ấy đúng hay sai) thì sau khi chết sẽ được cho lên thiên đàng, còn giả như sống mà không tin thượng đế hay các tín điều ấy thì khi chết sẽ bị đày xuống hỏa ngục. Trong đạo Phật thì không có cái gọi là linh hồn. Con người là sự kết hợp của danh và sắc, là sự tụ hội của vô vàn nhân duyên nói theo từ ngữ khoa học là điều kiện cần và đủ. Con người tự chịu trách nhiệm về mọi hành động, lời nói và suy nghĩ của mình. Không có ai có quyền ban phước hay giáng họa cho ai, thăng hay đọa là tự bản thân mỗi người. Trong đạo Phật chỉ gọi là thần thức, từ này thật khó giải thích cho thấu đáo, tạm hiểu là phần phi vật chất, nó tùy thuộc vào hành nghiệp của con người (nói, làm, nghĩ). Tóm lại chẳng có cái hồn nào để gọi là linh, cái tâm thì thay đổi trong từng sát na, nó rất vô thường. Con người là sự kết hợp của vô vàn chúng duyên nên nó vô ngã. Làm gì có một cái linh hồn, đó chỉ là huyễn ngôn hoặc ngữ và vì thế cũng chẳng có cái gọi là tâm linh.
  
Du lịch nghĩa là người khách đi chơi một cách thanh lịch hay lịch lãm, lịch sự. Đằng này dòng người du lịch tâm linh chỉ là một đám ô hợp, ồn ào, thô lậu, mê muội… cứ nhìn vào thực tế và sự phản ảnh của mạng xã hội thì sẽ thấy rõ. Những kẻ du lịch tâm linh toàn là những người mê muội, hành xử thiếu văn hóa, tin xàm, nói nhảm, làm bậy. Tâm đâu có linh, nếu linh đã không làm vậy, đấy là tâm mê, tâm loạn, tâm bất tịnh… Người đi chơi, đi lễ với cái tâm mê như vậy thì sao linh được? Đừng nói là linh thiêng, linh lợi còn chưa có, nếu linh lợi thì họ đã không hành xử mê muội và thô lậu như thế. Chữ linh này chỉ có thể là linh tinh mà thôi!
  

Du lịch tâm linh là một sự cưỡng ép ngôn ngữ, mị ngôn xảo ngữ, dùng thuật ngữ du lịch tâm linh để lừa gạt mọi người, dụ khị mọi người đi chơi, đi lễ ở những cơ sở kinh doanh đội lốt ngôi chùa hay cơ sở tôn giáo. Dòng người đi du lịch tâm linh này chẳng có linh cũng chẳng lịch tí nào. Những tà sư nặng danh văn lợi dưỡng, những thế lực ngầm, những nhóm lợi ích… hốt bạc lời to, tiền vào đầy túi, chỉ có văn hóa, đạo pháp và đức tin là thiệt hại nặng nề, thụt lùi lạc hậu. Chánh pháp bị bôi bác bóp méo. Chánh pháp bị lu mờ. Những bậc chân tu, những người hành đúng chánh pháp bị đẩy lùi, bị cô lập, bị cấm bế…
  
Làm du lịch tâm linh đã phá hoại môi trường tự nhiên một cách kinh khủng. Những chùa, đền, miếu và những khu du lịch tâm linh chiếm đất cả công lẫn tư, phá núi, phá rừng, phá ruộng đồng… để dựng nên những cơ sở khổng lồ này. Chỉ có những thế lực ngầm đứng đằng sau những dự án ấy là hốt bạc đầy túi.
  
Đã có một thời mê muội hủy diệt tôn giáo, cho tôn giáo là thuốc phiện hay ru ngủ quần chúng. Bây giờ thì lại mê muội khuếch trương tôn giáo bằng mọi giá, tuy nhiên tôn giáo được cho phép phải là tôn giáo có định hướng, có chỉ đạo từ trên, từ trong, từ phía sau. Bây giờ quả thật dùng tôn giáo để ru ngủ quần chúng. Chùa giả, chùa tư, miễu, am, phủ, dinh, đồng cô bóng cậu, hầu đồng, trục vong, bói toán, cúng sao giải hạn, xin xăm… là “tôn giáo” thịnh hành hiện nay, phát triển như vũ bão. Những ngôi chùa bề thế như tử cấm thành, những lễ hội rền rang đầy màu sắc âm thanh khiến nhiều người cứ ngỡ là tự do hành hoạt, chánh pháp phục hưng… Thật sự đó chỉ là chiêu trò tinh vi vừa gạt được người nhẹ dạ, vừa thu được lợi ích lớn cả về tiền bạc lẫn tô vẽ mặt mày. Những chùa to Phật lớn đồ sộ, cái sau phải to và lớn hơn cái trước, phải đạt kỷ lục này nọ, phải bằng chất liệu mắc tiền… đã mê hoặc quần chúng, dẫn dắt người dân xa rời chánh pháp, quên đi thực trạng xã hội, đẩy người ta vào con đường mê tín, ăn chơi, hưởng thụ, tin vào thần thánh ma quỷ, cầu phước, giải tội...
  
Du lịch tâm linh hiện nay là một ngành kinh doanh béo bở đã thành công lớn. Những dòng người đi lễ mua đủ thứ  dịch vụ, mua đủ loại sản phẩm mang tính “tâm linh”, nhét tiền vào các pho tượng, bỏ tiền vào các quỹ công đức mà không biết tiền ấy sẽ vào túi ai. Những kẻ chủ trương làm du lịch tâm linh đã thành công, đã mê hoặc con người ta, những kẻ du mà chẳng lịch, giàu mà chẳng sang, chẳng trí mà cũng không thức, pháp mà chẳng chánh… và cuối cùng thì chẳng tâm mà cũng chẳng linh.

Hiện thực du lịch tâm linh đã và đang xảy ra như thế, càng ngày càng lôi thôi hơn, mục đích chính trị, mưu đồ tư lợi, trí trá dẫn dắt… Tà sư, những kẻ hành nghề tôn giáo kết hợp với thế lực chính trị thế tục và những lực lượng ngầm đã đạt được mục tiêu và đã thu lợi cực kỳ lớn. Chỉ có chánh pháp, văn hóa, thiên nhiên và đời sống tinh thần con người là bị thiệt. Cứ cái đà du lịch tâm linh như hiện nay, không biết mai này chánh pháp, con người, văn hóa, môi trường thiên nhiên sẽ còn biến dạng như thế nào nữa đây?
  
Đành rằng thịnh – suy là quy luật tự nhiên, thăng – trầm là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên ở đây có sự tác động thúc đẩy của con người, làm cho cái quá trình trầm và suy tệ hại hơn, diễn ra nhanh hơn.
 
– Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành 1223 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Rượu có chi cay mà uống rượu phải đưa cay. Tôi phân vân về chữ “đưa cay” này. Gọi quách một cách trực tiếp như dân miền Nam: nhậu là phải có mồi. Như đi câu cá. Cá đớp mồi cá sẽ lên bàn nhậu. Nhậu một hồi sẽ “quắc cần câu”. Quắc cần câu là… xỉn, thân hình đi đứng liêu xiêu cong như cái cần câu cá. Xỉn quắc cần câu có biệt tài tự về tới nhà, lăn ra ngủ, khi tỉnh dậy chẳng nhớ cái chi chi. Tại sao người quắc cần câu lại có biệt tài như người mộng du vậy? Mỗi khi con người trải nghiệm được một thứ mới, thùy trước trán sẽ lưu giữ những thông tin này theo dạng trí nhớ ngắn hạn. Sau đó hồi hải mã nằm ở não trước sẽ ghi những thông tin ngắn hạn này để tạo thành ký ức dài hạn. Đường truyền từ thùy trước trán tới hồi hải mã cần có những neuron thần kinh đặc biệt dẫn lối. Say xỉn khiến những neuron này không còn hoạt động. Vậy là xỉn xong ngủ dậy chẳng còn nhớ mô tê gì hết!
Tôi quen biết khá nhiều văn nghệ sĩ, đủ thứ hạng: vang danh năm châu bốn biển, khiêm nhường quận lỵ làng xã, làng nhàng phường khóm, tổ dân phố. Đa phần không như tôi tưởng hồi còn trẻ, họ chả phải là những á thánh mà chỉ là những con người với đầy đủ cung bật tốt xấu. Có anh đóng rất tròn vai trò người chồng, người cha mẫu mực trong gia đình, có chú chân chỉ hạt bột, cơm nhà quà vợ và … sòng phẳng đến độ, trong mắt nhìn bạn bè, là những gã keo kiệt, xem cắc bạc như bánh xe bò, tính toán chi li từng tách cà phê, từng điếu thuốc.
Trung tâm lọc máu, nơi tôi đến “làm việc”, khá qui mô, gồm nhiều nhân viên: văn phòng, tiếp tân, kỹ thuật, lao công dọn dẹp vệ sinh, bác sĩ, trợ lý, y tá… Riêng đội ngũ y tá gồm 6 người, trong số này có hai người cho tôi nhiều ấn tượng nhất: Một anh Mỹ đen cao to như con gấu, chí ít cũng 250 ký, khó đăm đăm, ít khi cười, phát ngôn cộc cằn. Nói chung, thoạt nhìn tôi không ưa nổi, và sợ, tay này lụi kim (mỗi lần 2 mũi, kim to như cây tăm xỉa răng, cách nhau khoảng 2cm, một mũi hút máu ra đưa vào máy lọc chất dơ rồi trả lại cơ thể qua mũi thứ hai. Cứ thế luân lưu hơn ba tiếng)
Hồi học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) tôi có một thằng bạn tên Thái Hải, con trai bác sĩ kiêm thi sĩ Thái Can, nó giống tôi ở cái tính “ba nhe” (phương ngữ miền Trung chỉ những bọn trẻ rắn mắt, cứng đầu, nghịch phá), nhưng khác tôi 180 độ: hắn học cực giỏi, tôi cực dốt! Hơn sáu mươi năm, tôi lang bạt kỳ hồ, thỉnh thoảng về quê nhưng chỉ như khách trọ, chỉ lưng bữa nửa tháng lại ra đi, nên không có cơ hội gặp bạn bè xưa, cũng có nghĩa kể từ ngày còn oắt con cho đến bây giờ tôi chưa gặp lại người bạn thời niên thiếu. Nghe nói sau này hắn cũng là bác sĩ như ông thân sinh. Phải thôi, học giỏi như nó, không nối nghiệp cha mới lạ.
Có thể khẳng quyết, trong dòng văn học Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, chắn chắn Song Thao là nhà văn viết Phiếm uyên bác và mạnh mẽ. Ông đi nhiều, đọc nhiều, viết chuyên cần. Chỉ trên mười năm ông đã trình làng 31 tập Phiếm, mỗi tập trên 300 trang. Đề tài của ông đa dạng, bao quát, từ cây kim sợi chỉ đến vũ trụ bao la với lỗ đen, mặt trăng, sao hỏa, phi thuyền…, đến chuyện đời thường, những địa danh ông từng đặt chân đến. Chúng ta sẽ còn được đọc nữa những tập Phiếm sẽ ra trong tương lai.
Những năm trên dưới hai mươi, tôi xem văn chương là một thứ đạo, những cuốn sách, những thi phẩm không khác kinh thánh, các nhà văn, nhà thơ ngang bằng các giáo chủ. Tôi mê văn chương, tôn sùng những người tạo ra nó. Bước vào tuổi trung niên, say mê vẫn còn, nhưng bình tĩnh hơn, chừng mực hơn. Cho đến khi phần lớn đời mình gắn liền với sách vở như nghiệp dĩ, văn chương, ban đầu tôi viết vì nhu cầu nội tâm, muốn tỏ lộ những buồn vui đau đớn hài mãn… qua chữ nghĩa, trước tiên cho mình, thứ đến cho người, với mong muốn xẻ chia.
Tuần này tôi trân trọng giới thiệu Đỗ Kh. Nhà văn Đỗ Kh., hẳn không xa lạ gì với người yêu văn chương tiếng Việt, ở hải ngoại nói riêng, trong nước nó chung. Ba mươi bốn năm trước, Đỗ Kh. (lúc bấy giờ ông còn ký bút hiệu Đỗ Khiêm) là tác giả đầu tiên tôi chọn để trình làng nhà xuất bản Tân Thư do tôi chủ trương. CÂY GẬY LÀM MƯA cũng là tác phẩm đầu tiên tác giả này đến với thế giới văn chương tiếng việt. Ngoài CGLM, Tân Thư còn in của ông một tập truyện nữa, KHÔNG KHÍ THỜI CHƯA CHIẾN. Với bút pháp rất riêng cộng kiến thức và trải nghiệm sâu rộng qua những chuyến đi khắp mọi nơi trên hành tinh này, Đỗ Kh. cho chúng ta những bài viết lý thú.
Mặt trời như chiếc nong đỏ ối sắp chạm mái ngói phủ rêu của dãy phố cổ. Bức tường bên trái loang lổ, tróc lở, chồng chéo những dòng chữ thô tục cạnh các bộ phận sinh dục nam nữ đủ cỡ đủ kiểu vẽ bằng than hoặc mảnh gạch vỡ. Bức tường thấp, có chiếc cổng gỗ đã mất hẳn màu sơn, xiêu vẹo, quanh năm nằm trong vị thế mở ngõ. Chiếc cổng dẫn vào ngôi miếu nhỏ. Bên trong miếu, trên bệ thờ bằng xi măng hai ba bài vị chẳng hiểu viết gì, chẳng biết thờ ai. Trước bài vị, lư hương chỉ toàn chân nhang. Từ lâu không còn ai đến đây hương khói, ngôi miếu đã biến thành giang sơn riêng của dơi, chuột cùng các loại côn trùng. Cạnh ngôi miếu, một tàn cổ thụ rậm lá với những rễ phụ chảy thõng thượt, bò ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1994, dưới thời Bill Clinton. Khởi từ dấu mốc đó Việt Nam dần dần thân thiện hơn với người anh em “sen đầm đế quốc” này, thời kỳ ngăn sông cách chợ đã được khai thông, nhiều người xuất ngoại thăm thân nhân, du lịch hoặc công tác. Giới văn nghệ sĩ không ngoại lệ. Thuở đó gần như tháng nào tôi cũng đón ít nhất một văn, thi, nhạc, họa… sĩ. Phải chăng tại fake news, một người nhà quê như tôi bỗng biến thành “tay chơi” có số má dưới mắt nhìn các vị cầm cọ, cầm bút trong nước?
Hầu hết mọi người già thường mắc phải chứng quên những chuyện gần, nhưng lại nhớ những chuyện xưa, có khi hàng sáu bảy chục năm trước. May mắn (hay xui xẻo?), tôi có một trí nhớ khá tốt, dù gần hay xa tôi đều không quên. Tuy nhiên tôi lại vướng phải nhược điểm là chỉ nhớ sự việc nhưng lại không nhớ thời điểm. Nhược điểm này theo tôi từ ngày thơ trẻ cho đến hôm nay. Khác hẳn một vài người quen, chả hạn nhà văn Hoàng Khởi Phong, anh có một trí nhớ xuất chúng về những con số. Số điện thoại, số nhà của ai đó, chỉ nhìn hoặc nghe qua một lần là ghim ngay vào não, nhiều năm sau, hỏi, anh trả lời vanh vách. Nhà văn Cung Tích Biền cũng không kém, xuất thân là giáo sư dạy sử, ngoài những chi tiết liên quan đến chuyên môn như tên, đế hiệu các vị vua, ngày lên ngôi, ngày chết, những hành trạng của họ suốt thời gian trị vì, và mọi biến cố lịch sử… trải dài từ thời lập quốc, bốn nghìn năm trước, đến bây giờ. Như Hoàng Khởi Phong, anh nhớ rõ mọi con số, kể cả những chi tiết liên quan.