Hôm nay,  

Bên sóng Hồ Tây, Phùng Quán kể lại một đời thơ

08/02/202408:14:00(Xem: 857)

pquan

 

Mùa Thu, năm 1994, chúng tôi trở lại Hà-nội sau 40 năm xa cách. Một trong mục đích của chuyến đi này là đề gặp ông Nguyễn Hữu Đang, người đứng đầu trong nhóm Nhân Văn, sau khi đọc bài của Phùng Quán viết về chuyến đi thăm ông. Ông đã bị giam tại trại Cổng Trời gần 20 năm, đến đó là chỉ chờ chết, khó có thể trở về được. Nhưng ông không chết, được tha và lại bị quản thúc thêm 15 năm nữa. Chúng tôi không quên mang một túi ngủ về tặng ông. Điều may mắn là chúng tôi không những đã gặp được ông, mà còn gặp được hai nhà thơ trong nhóm Nhân Văn là Hoàng Cầm và Phùng Quán. Buổi sáng cuối cùng ở Hà-nội, Phùng Quán hẹn chúng tôi đến nghe thơ và thâu băng luôn thể. Trong hơn hai tiếng đồng hồ, Phùng Quán kể chuyện và đọc gần hai chục bài thơ mà nhiều bài chúng tôi chưa bao giờ được biết. Cuốn băng này, chúng tôi đặt tên là: “Bên Sóng Hồ Tây, Phùng Quán Kể Lại Một Đời Thơ”. Theo bà Bội Trâm, vợ của Phùng Quán, đây là cuốn băng thu thơ độc nhất của Phùng Quán từ trước đến nay. Phải được nghe Phùng Quán đọc thơ mới thấy thấm, cái giọng nửa Huế, nửa Hà-nội, rưng rưng, bi hùng, bão táp ấy vẫn còn mê hoặc chúng tôi suốt bao nhiêu ngày sau khi rời Hà-nội cho đến tận bây giờ. Phùng Quán thường đi đọc thơ ở các làng quê, chưa có ai đọc thơ, đọc chứ không phải ngâm, hay đến thế! Năm đó Phùng Quán 65, tôi kém ông 5 tuổi. Qua bao nhiêu năm, nay mới có dịp chép lại thành bài viết mà Phùng Quán đã đọc trong cuốn băng ghi âm để cống hiến cho độc giả và đóng góp thêm tài liệu về nhóm Nhân Văn. Tiếc rằng tôi đã phải rút ngắn bài viết, nên không chép lại được một số lớn các bài thơ, và một số bài đã bỏ một số đoạn.
 
***

Phùng Quán bắt đầu kể lại một đời thơ của mình như sau:                                    
    Hôm nay Hà-nội đã vào mùa cốm rồi! “Hà-nội mùa thu hương cốm bay”. Đó là câu thơ của Nguyễn Đình Thi. Hai vợ chồng tôi thấy chúng ta đã gần gũi, thân nhau rồi. Chúng ta tình cờ gặp nhau và thành bạn. Nhân thể, hôm nay lại có cả anh Đang, Nguyễn Hữu Đang, là một người tôi rất là yêu quý. Anh Đang là một người miền Bắc. Khi ông đứng trên đài lễ Tuyên ngôn Độc lập mùng 2 tháng 9 năm 1945, thì mình còn đi giữ trâu ở làng quê. Do cuộc cách mạng 19 tháng 8 1945, và sau đó hai anh em tôi lại có dịp ngủ chung giường với nhau, và sau đó còn trải qua bao nhiêu thăng trầm nữa. Tôi đi với ông vào khoảng năm tôi hai mươi tuổi. Khi đó tôi đang là người con yêu của Tổng Cục Chính Trị, đó là một nơi quân đội họ quý mình lắm. Nhưng lúc đó, mình nghĩ thế nào lại đi với Nguyễn Hữu Đang để cùng làm chuyện Nhân Văn, để đòi lấy sự tự do, vì mục đích của Nhân Văn chính là mang lại tính chất Nhân Quyền, thế thì phải đổi tất cả để làm việc đó. Chúng tôi đã gặp phải những tai họa, nhưng cuối cùng rồi cũng qua đi. Ba mươi năm rồi cũng qua đi.
    Hôm nay có bác Đang ngồi đây, tôi vẫn gọi bác Đang là một bậc hào kiệt của đất nước, và tôi cũng gọi ông là một bậc công thần. Đó là một người đã có công, đã góp sức xây dựng nên cái cuộc sống mà nhiều người mong ước. Trải qua năm tháng, bây giờ tôi đã già đi nhiều rồi, và nay thì chỉ biết nghêu ngao mấy bài thơ. Tôi nghĩ đến cái bài thơ đầu tiên mà tôi làm, đó là bước ngoặt. Tại sao, tôi đang là một người được quân đội rất yêu mến đủ thứ, tôi lại quyết định đi làm Nhân Văn với anh Nguyễn Hữu Đang. Tôi muốn làm trong sạch lý tưởng, và tôi thấy những người Nhân Văn đó là những người hào kiệt.
    Bài thơ đầu tiên của tôi là bài “Chống Tham Ô Lãng Phí”. Bài thơ này tôi làm năm tôi tôi 22 tuổi, vì tôi thấy tham nhũng là hiểm họa của đất nước, và tôi muốn kêu lên với đất nước này, hãy đề phòng tham nhũng. Nhưng lúc đó người ta không nghe, và người ta tin nói như thế là bôi đen chế độ. Chính bắt đầu từ đó, đất nước đã sa vào hiểm họa. Ba mươi năm sau thì ông Võ Văn Kiệt gọi đó là quốc nạn và cần phải lập một ban để chống tham nhũng, thì tôi cười và bảo rằng: “Một người lính 22 tuổi, ba mươi năm trước đã nói với các ông điều này mà các ông không tin. Người lính đó là người dự báo bằng linh cảm của mình trước sự tham nhũng, dối trá sẽ là hiểm họa của đất nước”. Sau đây là bài thơ đó:
 
Chống Tham Ô Lãng Phí 
 
Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ quấn rẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai, tay máu ròng ròng
Bới đồn giặc
 
Tôi đã đi qua
Những xóm làng Kiến An, Hồng Quảng
Nước biển dâng cao, ướp muối các cánh đồng
Hai mùa rồi, lúa không có một bông
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ
Tôi đã gặp
Những em thơ còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám và rau
Mới tháng Ba đã ngóng mau đến Tết!
Để được ăn no có thịt
Một ngày… một ngày
 
Tôi đã đi giữa Hà nội
Những đêm mưa lất phất
Đường mùa Đông nước nhọn tựa dao găm
Chị em công nhân đổ thùng
Run lẩy bẩy chui hầm xí tối
Vác những thùng phân
Thuê một vạn một thùng
Mấy ai dám vác?
Các chị suốt đêm quần quật
Sáng ngày vừa đủ nuôi con
 
Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của nhân dân lao động
Đang buộc bụng, thắt lưng để sống
Để dựng xây, kiến thiết nước nhà
Để yêu thương, nuôi nấng chúng ta
Vì lẽ đó
Tôi quyết tâm rời bỏ
Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa
Những vần thơ trang kim vàng mã
           dán lên quân trang đẫm mồ hôi và
                                    máu tươi của Cách Mạng!
 
Như công nhân
Tôi quyết đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Vào lũ người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả
 
Các đồng chí ơi
Tôi không nói quá
Về Nam Định mà xem
“Đài xem lễ” họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió
Mồ hôi máu đỏ bốc rêu
Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!
 
Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng
Nhớ “Đài xem lễ” tôi xót bao nhiêu
Đất nước đêm nay không đếm hết người nghèo
Thiếu cơm thiếu áo…
 
Bọn tham ô, lãng phí, quan liêu
Đảng đã phê bình trên báo
Còn bao tên chưa biết ai hay
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy…
Chúng nảy nòi, sinh sôi như dòi bọ!
Khắp nước đâu đâu chẳng có!
 
Đến một ngày Đảng muốn phê bình tất cả
E phải nghìn số báo Nhân Dân!
 
Tôi đã dự những phiên tòa xử tội
Những con chuột mặc áo quần bộ đội
Đục cơm khoét áo chúng ta
Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ
Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói
Những mẹ già, em trai, chị gái
Còng lưng rỏ máu lấn vành đai
 
Trung ương đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt
Có tôi!
Đi trong hàng ngũ tiên phong.
 
Sau đó họ hỏi tôi: “Ai xui anh làm? Giai cấp tư sản đã mua chuộc anh bằng tiền, bằng gái đẹp để làm bài thơ ấy để bôi đen chế độ!” Tiền lúc đó thì tôi không cần, vì tôi mới in xong cuốn Vượt Côn Đảo, mà tiền nhuận bút mới nhận được chừng bẩy chục cây vàng (?). Đây là lần đầu tiên họ trả tiền nhuận bút gấp năm lần. Tôi 22 tuổi, còn quá trẻ, tiền không biết để làm gì. Còn gái đẹp, trông tôi cũng không đến nỗi xấu trai thiếu gì người yêu. Không ai mua chuộc tôi cả. Đó là điều tôi cảm nhận thấy, không ai tin và họ đều buộc tội tôi: Anh phải nhận tội với đảng, ai xúi dục anh?” Tôi bị kiểm điểm lâu quá, và tính thích ham chơi, để còn đi đọc thơ. Cuối cùng thì tôi định cứ nhận tội bừa đi, nhưng sau nghĩ lại, như thế rất nguy hiểm. Làm như thế không hay, và tôi nhớ lời mẹ tôi dặn, và tôi làm bài thơ thứ hai là Lời Mẹ Dặn. Đó là một lời tuyên ngôn và tôi sẽ nhớ suốt đời. Bài thơ như thế này:
 
Lời Mẹ Dặn
 
Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tầm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
 
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc:
Con ơi! Trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.
Mẹ ơi! Chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi! Một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
 
Từ đấy người lớn hỏi tôi:
 Bé ơi, bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời
Bé yêu những người chân thật.
 
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vờị
In lên vết son đỏ chói.
 
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
 
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
 
Bài thơ này được đăng trên báo Văn của Hội Nhà Văn Việt Nam, mà Nguyên Hồng làm Tổng biên tập. Ngay sau đó ông bị kiểm điểm ghê gớm lắm, Cách hai tháng sau thì trên báo Nhân Dân có một bài thơ, bài thơ đó có khoảng trên một trăm câu, với đầu đề là Lời Mẹ Dặn Có Phải Là Một Bài Thơ Chân Thật. Bài thơ này dài, có những đoạn như thế này:
 
Nếu ai yêu gái điếm cao bồi
Ghét những nơi thầy hiền bạn tốt
Nói yêu quân bán nước thương nòi
Quen học thói gà đồng mèo mả
Hóa ra thân chó má chim mồi
 
Họ chửi tàn bạo như thế đó, tôi có cái tư liệu đó, và người ký tên bài thơ ấy là Trúc Chi. Tôi có một thằng bạn là Trúc Chi ở Hải Phòng, người Phú Khánh, Nha Trang. Tôi đọc bài thơ ấy, thấy sôi máu quá. Sau đó tôi xuống Hải Phòng để gặp Trúc Chi. Trúc Chi bằng tuổi tôi, đang dạy cấp 3, tôi nói với Trúc Chi: “Này Trúc Chi, tao với mày là người làm thơ, mày có quyền đấu tranh, mày có quyền phê bình, có quyền bút chiến, nói thế nào cũng được, nhưng mày có quyền gì lăng mạ tao trên mặt báo! Mày phải xin lỗi tao đi, nếu không tao sẽ chơi võ, tao chơi văn chán lắm rồi. Tao sẽ chơi võ với mày”. Trúc Chi xem bài thơ, và bảo tôi như thế này: “Tôi nói thật với Quán, mình không bao giờ làm một bài thơ đê tiện, giọng lưỡi hạ cấp đến thế được”.
    Thế thì Trúc Chi là ai? Tôi không biết và tôi sẽ tự tìm lấy. Một trong những mục đích của đời tôi là phải tìm cho ra Trúc Chi là ai. Hỏi thì người ta không nói, vì đây là báo Nhân Dân. Tìm để làm gì, nếu gặp tôi sẽ nói với Trúc Chi rằng: “Anh phải xin lỗi tôi đi, không thì tôi sẽ thách đấu với anh đấy. Như các thi sĩ Nga, Put-Kin, Lép-Mông-Tốp, thế kỷ thứ 19 để bảo vệ danh dự của nhà thơ. Nhưng tôi báo cho anh biết, nếu anh muốn đấu dao, tôi đấu dao. Anh muốn đấu gươm, tôi đấu gươm. Anh muốn đấu súng, tôi đấu súng. Những nhà thơ Nga như Put-Kin 37 tuổi, Lép-Mông-Tốp 27 tuổi đấu súng đã chết. Nhưng tôi báo trước cho anh biết, Put-Kin, Lép-Mông-Tốp đều bị kẻ địch bắn hạ, nhưng tôi sẽ bắn hạ anh vì tôi là lính trinh sát, tôi là xạ thủ, kiện tướng của cấp trung đoàn. Để hạ một người, tôi chỉ bắn một phát thôi, một phát là đủ”.
    Tôi sẽ nói với anh ta như thế. Hai mươi năm tôi lầm lũi đến các thư viện, các tủ sách để tìm kiếm xem Trúc Chi là ai. Đến năm 1979, tôi mới tìm ra Trúc Chi, chính là Hoàng Văn Hoan. Hoàng Văn Hoan lúc đó là Ủy Viên Bộ Chinh Trị, trưởng ban gì đó của đảng, có cả hình ở đó. Tôi chưa kịp thách đấu, thì y đã chạy trốn sang Trung Quốc rồi, và y đã bị kết tội là tên Trần Ích Tắc. Như thế, chứng tỏ rằng sau 25 năm, anh ta chính là kẻ phản bội. Cái công việc của y như thế nào tôi không cần biết, nhưng như thế y đã chạy trốn rồi.
    Sau đó thì tôi bị sa vào họa, và anh Đang cũng thế. Bác Đang bị đưa đi giam tại Trại Cổng Trời, còn tôi thì bị đi lao động cải tạọ 15 năm, nay đây mai đó. Lúc trở về, họ viết về tôi trong mục chân dung các nhà văn, tôi trở thành người câu cá trộm rất nổi tiếng ở Nghi Tàm, Hồ Tây. Tổng kết, tôi đã câu trộm hơn bốn tấn cá rưỡu. Tôi quyết định sẽ ra chợ Đồng Xuân đập đầu tự thú và nói như Ráp-kô-ni-kốp, tác giả cuốn Tội Ác và Trừng Phạt là: “Tôi là kẻ có tội”. Thế nhưng, khi định ra thì chợ Đồng Xuân đã cháy rồi. Đây chỉ là một câu chuyện đùa, nhưng cũng là một chi tiết hay. Tôi đi lang thang cho đến năm 1963 thì lấy vợ sanh con, nhưng đó là chuyện riêng. Lúc đó viết văn thì không ai in, thế thì ngồi làm thơ lại. Tôi rất quý các vần thơ ấy và anh em ở đây họ cũng yêu lắm. Năm 30 tuổi, tôi muốn tự sát, lúc đó tôi chưa có vợ. Tôi nghĩ chết cho rồi, không còn muốn sống nữa. Tôi rất thích câu thơ của một nhà thơ Nga Es-si-nin gửi cho mẹ. Đó là một nhà thơ đã tự sát mà tôi đã treo ảnh ở nhà:
 
 Mẹ ơi quán rượu hôm nào
Tim con ai đó cắm vào một gươm
Tám năm mong một điều này
Mẹ đến sáng ngày đừng đánh thức con
Cho con một giấc ngủ ngon
Với niềm kiêu hãnh với hồn khát khao
 
Cái câu này mới là câu ghê gớm:
 
 Mẹ đừng dậy phép nguyện cầu
Con không già được nữa đâu mẹ à!
 
Tôi nghĩ ra nhiều cách tự sát đặc biệt, như bằng cách treo cổ. Tôi nghiên cứu về các cách tự sát, cách nào là tốt nhất, như cắt động mạch, như treo cổ, bắn vào mình, xem cách nào ngon nhất. Người ta thường treo cổ, đó là cách chính. Như người treo cổ đứng trên một cái ghế, và người ta đá cái ghế đi, và như thế lùi vào cái thế không lùi được nữa. Ông Vi Huyền Đắc cũng treo cổ ở miền Nam, Saigon để tự sát. Ông dựng một chồng sách, và ông đá chồng sách đó đi thì cũng là thế cả, thay bằng cái ghế là chồng sách. Một thi sĩ Nga là Esenin, ông ta thì không thế, ông ngồi trong một cái ghế trước lò sưởi, dùng cà vạt thắt vào cổ và buộc vào chân ống lò sưởi. Ngồi như thế và giằng cổ ra mà chết, chết như thế mới khủng khiếp, và nếu muốn ông ta có thể lùi được. Nhưng trước khi chết, ông ta có viết lại bằng cách cắt máu để viết thành thơ trên một tờ giấy:
 
Ở đời này chết chẳng có gì là mới
Nhưng sống cũng chẳng có gì mới hơn
 
Cả nước Nga rùng mình về cái chết khủng khiếp của một thiên tài. Tôi coi ông ấy như là một hiện tượng rất là ghê gớm. Tôi nghiên cứu xong các cách tự sát, nhưng tôi nghĩ lại, nếu mình chết đi thì ai minh oan cho mình. Thế thì tôi phải viết, và tôi phải viết như thế nào để chứng minh rằng tôi là một vệ quốc quân, chứ tôi không phải là một kẻ phản động. Như truyện em Mười hi sinh trên đài quan sát, phút cuối cùng đã cố gọi về trung đoàn trưởng để cố minh oan rằng, em không phải là Việt gian, em là vệ quốc quân như trong truyện tôi đã viết Tuổi Thơ Dữ Dội. Tôi cũng đã tìm ra Hoàng Văn Hoan và tôi cũng đã trở lại được nơi đã bị đuổi đi, đã bị ly khai bởi quân đội.
 
Có những phút ngả lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy
 
Cái thời gian 30 năm tai họa dài bằng cái thời gian Robinson ở trên hoang đảo, mà con Quyên, con gái tôi nó nói một lời cũng thấy hay là: “Bố ạ, Robinson ở trên hoang đảo mà xung quanh là biển, nhưng bố lại đơn độc giữa một biển người, 30 năm không ai đến thăm, không ai đến hỏi. Giữa một biển người đơn độc còn kinh khủng hơn là đơn độc trên một hoang đảo”. Trong thời gian 30 năm đó thì tôi nghĩ là phải học, nhưng học ai bây giờ và tôi nghĩ không còn ai dậy mình nữa. Cha mẹ thì không có, quân đội thì đi rồi, thành bơ vơ, thôi thì học với cây cỏ. Tôi thích cây cỏ là vì thế. Đầu tiên tôi học cây Vạn niên thanh. Cái cây mà lá cứ cắm vào nước là có thể lên tốt tươi. Tôi nói: “À cái cây Vạn niên thanh này lạ, tôi chịu thua ông rồi đó.
    Có một thời gian tôi ở Nghi Tàm, trời mùa đông rét khủng khiếp. Nhiều lúc nghĩ tại sao mình cứ bị ăn mặc rách rưới như thế này mãi. Nhìn thấy vợ trong túp lều tranh đang tháo chiếc áo len cũ để đan cho đứa con mới sinh một áo tay dài nối thêm. Tôi có làm một bài thơ về Đỗ Phủ, để đọc cho vợ nghe. Nghi Tàm là một vùng đối diện với căn nhà này qua Hồ Tây. Bây giờ là nơi du lịch, có khách sạn Thắng Lợi. Hồi đó, chỗ ấy là một xóm trồng hoa hoang vu, và tôi đã sống hai mươi năm ở đó. Đêm thì rét, trăng chưa mọc, không thể ngủ được, biết làm sao cho qua đêm. Giường thì giường cá nhân, chăn thì chăn trấn thủ, màn thì màn bộ đội. Vợ tôi bảo tôi: “Thôi thì cứ để em đan áo, còn anh mang thơ Đỗ Phủ ra đọc cho em nghe”. Đỗ Phủ có một câu như thế này: “Mưa Thu mái nhà tốc”. Nhà của Đỗ Phủ bị gió làm tốc hết, và trẻ con thì lại đến cướp lá gianh lợp nhà rồi chạy. Khổ quá, ông không làm sao đuổi được bọn trẻ con để lấy lại lá gianh. Ông có làm bài thơ, và bài này là bài thơ lớn của ông có câu:
 
Ước gì ta xây được nhà ngàn gian
Để che chở cho tất cả kẻ sĩ trong thiên hạ
 
Lúc đó tôi đọc hai câu thơ này, thì tôi nghĩ tôi không phục ông Đỗ Phủ lắm, vì như thế ông vẫn là xoàng. Phải che chở cho người nghèo trong thiên hạ, nếu chỉ cho kẻ sĩ không thôi thì thường quá. Nhưng bây giờ tôi đã gần 70 tuổi rồi, cũng ngấm đòn rồi. Khi 30 tuổi, thì chỉ thích che chở cho mọi người, đến bây giờ thì nghĩ lại không thể che chở cho tất cả, vì chỉ che chở cho kẻ sĩ không thôi cũng khó rồi. Mình chỉ làm được có thế thôi, đừng nói dóc. Đây là một bài học, những người tuổi trẻ thường thích sắp xếp lại thế gian. Nghe thấy vợ nói thế, tôi thấy rất là cảm động, và làm bài thơ sau:
 
Đêm Nghi Tàm, Đọc Thơ Đỗ Phủ Cho Vợ Nghe
 
Ngoài trời trăng như tuyết
Trắng lạnh đến thấu xương
Trong nhà vách trống toang
Gió ra vào thoả thích...
Hồ khuya sương tĩnh mịch
Trộn nước lẫn cùng trời
Con dế chân bờ giậu
Nỉ non hoài không thôi...
Tựa lưng ghế cành ổi
Vai khoác áo bông sờn
Tôi ngồi đọc Đỗ Phủ
Vợ vừa nghe vừa đan...
Đỗ Phủ tự Tử Mỹ
Thường xưng già Thiếu Lăng
Sinh ở miền đất Củng
Cách ta hơn ngàn năm
Thơ viết chừng vạn trang
Chín nghìn trang thất lạc
Người đời sau thu nhặt
Còn được hơn ngàn bài
Chỉ hơn ngàn bài thôi
Nỗi đau đã Thái Sơn
Nếu còn đủ vạn trang
Trái đất này e chật!...
 Thơ ai như thơ ông
Lặng im mà gầm thét
Trang trang đều xé lòng
Câu câu đều đẫm huyết...
Thơ ai như thơ ông
Mỗi chữ đều như róc
Từ xương thịt cuộc đời
Từ bi thương phẫn uất
Thơ ai như thơ ông
Kể chuyện mái nhà tốc
Vác củi làm chuồng gà...
Đọc lên trào nước mắt!
Giữa tuyết trong đò con
Đỗ Phủ nằm chết đói
Đắp mặt áo bông sờn
Kéo hoài không kín gối.
Ngàn năm nay sông Tương
Sóng còn nức nở mãi
Khóc chuyện áo bông sờn
Đắp mặt thơ chết đói!...
Giật mình trên tay vợ
Bỗng nẩy một hạt sương
Hạt nữa rồi hạt nữa
Tôi nghẹn dừng giữa trang.
 Kéo áo bông che vai
Ngồi lặng nghe sương rơi
Con dế chân bờ giậu
Nỉ non hoài không thôi!...
Vụng về... tôi dỗ vợ:
Em ơi đừng buồn nữa
Qua rồi chuyện ngàn năm
Bao nhiêu nước sông Tương...
 Miệng nói nhưng lòng nghĩ:
Ôi thân phận nhà thơ
Khác nào thép không rỉ
Ngàn năm cũng thế thôi!...
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Em ơi, nếu Đỗ Phủ
Vai khoác áo lông cừu
Bụng no đến muốn mửa
Viết sao nổi câu thơ
Ngàn năm cháy như lửa:
Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường xương chết buốt.
Em ơi, nếu Tử Mỹ
Nhà ở rộng mười gian
Rào sắt với cổng son
Thềm cao đá hoa lát
Chắc ông không thể làm
Mưa thu mái nhà tốc.
Em ơi, nếu Thiếu Lăng
Cặp kè vợ béo nứt
Một bước là ngựa xe
Đứng đi quân hầu chật
Đời nào ông lắng nghe
Tiếng gào và tiếng nấc
Bà cụ xóm Thạch Hào
Gái quê tân hôn biệt...
Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt!
Chính vì thế em ơi
Nhân loại ngàn năm qua
Máu chảy như sông xiết
Cũng là để cho Thơ
Sẽ không còn phải viết
Những Hành qua Bành Nha
Vô gia Thuỳ Lão biệt...
Cũng là để cho Thơ
Sẽ không còn phải chết
Giữa tuyết, trong đò con...
Đắp mặt áo bông sờn.
Đừng buồn nữa em ơi
Chuyện ngàn năm... ngàn năm
 
Làm xong bài thơ, tự nhiên tôi mệt, ngủ thiếp đi và tôi thấy Đỗ Phủ hiện ra trong giấc mơ của tôi. Ông mặc áo bông sờn, trông xanh xao vàng vọt. Tôi hỏi ông: “Ông Đỗ Phủ ơi, một thiên tài như ông mà làm sao đến nông nỗi ấy!”. Đỗ Phủ đã trầm ngâm nói với tôi:
 
Không Đề

Tôi có quyền gì được no hơn nhân dân tôi một miếng ăn
Lành hơn nhân dân tôi, không một tấm áo
Tôi có quyền gì được rộng hơn nhân dân tôi một tấc đất nhà ở
Tôi có quyền gì được lên xe xuống ngựa
Khi gót chân của nhân dân tôi nứt nẻ bụi đường
Dù tôi là một thiên tài, dù tôi là một thi nhân
Dù tôi ở chót vót trên đỉnh cao của quyền lực
Thì tôi có quyền gì!...
                                                                                      *
Sau này tôi bình tĩnh trở lại. Mọi chuyện rồi cũng thế thôi! Tuân Nguyễn, bạn tôi có lúc bị chín, mười năm tù. Sau đó, rời vào Nam và bán lại căn buồng đang ở, và bảo tôi làm một bài thơ tặng. Tôi có nói: “Thôi thì bạn cứ đi đi, Đây là bài thơ tôi tặng bạn”:
 
Có Nơi Nào Trên Trái Đất Này
 
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ nhà thơ như ở đây
Ba thước vuông, sáu nhà thơ ngồi, hai phải đứng
Vì không đủ chỗ
 
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ đắng cay như ở đây
Chín người có mười cuộc đời rạn vỡ
Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ đam mê như ở đây
Yêu nhau phải vào nhà thương điên
Thơ đến phải chịu cùm tay
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ cô đơn như ở đây
Một đám trẻ bơ vơ không nhà cửa
Sống bằng thơ đau với rượu cay
Có nơi nào trên trái đất này
Mật độ yêu thương như ở đây
Mỗi tấc đất có một người quỳ gối
Dâng trái tim và nước mắt cho nỗi đau của cả loài người
Có nơi nào trên trái đấy này
Có nơi nào trên trái đất này
Có nơi nào trên trái đất này…
 
Sau này Tuân Nguyễn mất, tôi có để ảnh trên bàn thờ. Thiêng lắm! Càng về cuối đời, mình càng ngày càng già, hết cái giọng tức giận, chỉ ngồi uống rượu làm vui. Tôi làm cái chòi, đặt tên là Chòi Ngắm Sóng, trước chỉ là cái chòi bằng tre, chứ không được như thế này đâu. Bạn bè đến đây đông lắm. Một hôm tôi nói với các bạn: “Nếu ai có thơ gì về sóng thì dán lên tường liếp, hồi đó không có tường vách như thế này. Chòi trước kia làm bằng tre, chỉ có chỗ để sáu người ngồi đủ. Thơ về sóng thì ngắn thôi, chứ cái chòi nhỏ như thế này, thơ mà dài thì nó sẽ chòi ra ngoài. Trong các bạn, có Lê văn Vịnh ở Saigon ra, anh ta nói: “Anh là người đầu têu ra, thì anh phải làm câu đầu tiên đi”. Tôi bèn làm câu đầu tiên, vì thấy bên kia hồ là Bộ Chính Trị của đảng:
 
Quyền lực và thi nhân, cách nhau một hồ sóng
 
Tiếp theo, tôi muốn nói cái lý do tại sao tôi lại làm cái chòi ngắm sóng này. Có cái lý do của nó:
Một hôm tôi lấy rượu ra, rót hai chén đợi bạn đến, nhưng chẳng thấy ai đến cả. Nhìn ra chỉ thấy núi Ba Vì xanh lơ trước mặt. Thôi thì mời ông một chén vậy:
 
Mời Rượu
 
Mời bác Ba Vì xích lại đây
Ta cùng túy lúy ngắm sóng say
Tôi đùa bác đấy, đừng tưởng thật
Bác xích lại gần tôi cũng gay.
Bác là Ba Vì, tôi Phùng Quán
Bác lắm khách, tôi càng lắm bạn
Toàn bợm rượu coi trời bằng chai
Họ nhầm lung tung bác với tôi.
 
Bác đẹp ngang tang, tóc còn xanh
Gái Đông Đô xướt mướt thư tình
Gửi nhầm địa chỉ tôi chết dở
Bà vợ tôi sẽ nổi cơn ghen!
Thôi bác cứ ngồi yẻn ở đó
Còn tôi cứ tĩnh tọa ở đây
Tôi thì làm thơ, bác làm núi
Nhớ nhau tưới rượu xuống Hồ Tây
 
Tôi có nói với anh Đang như thế này, cái vụ Nhân Văn có hàng trăm người tham gia, nhưng tất cả đều bỏ cuộc. Bây giờ chỉ còn sót lại có ba người cuối cùng là anh Đang, tôi và anh Phùng Cung. Ba người sẽ không bao giờ bỏ cuộc. Chúng tôi sẽ đi đến cùng, đây là những người không bỏ cuộc. Chúng tôi muốn thực hiện điều Hemmingway nói: “Con người có thể bị tiêu diệt, nhưng thể bị khuất phục”. Tất cả thơ tôi làm là cốt để dinh dưỡng tinh thần, nếu không có thể mình sẽ bị hủy hoại. Miếng thép ba mươi năm mà không bị rỉ thì cũng nát bét vì không dùng đến. Ba mươi năm, một nhà văn không viết, thì cũng bị sét rỉ. Tôi và Nguyễn Hữu Đang ba mươi năm, đáng lẽ phải bị tan như cây cỏ. Chúng tôi đã không bị, và chúng tôi quyết định trở lại với tất cả.
    Anh Đang có nhắc đến bài thơ Đỗ Phủ, làm tôi nhớ hôm hai vợ chồng tôi gặp Tố Hữu. Tôi ngại gặp Tố Hữu vì ông ta là cậu tôi. Trong bài thơ đó có câu: “Em ơi nếu Đỗ Phủ, nhà ở rộng, tường cao cửa sắt” thì ông ấy tưởng mình đả kích ông ấy, nhưng té ra ông ấy lại bảo tôi: “Phùng Quán viết bài ấy hay lắm!” Ông ấy khen tôi, lần đầu ông ấy khen tôi, tôi cảm động lắm. Như thế những nhà thơ cũng có những ý nghĩ giống nhau. Tôi có viết một bài “Xông Đất Nhà Thơ Tố Hữu”. Cụ Đang nói bài này làm rung chuyển dư luận, Phùng Quán được hai lần nhuận bút, vì bài được đăng hai lần. Câu chuyên như thế này: Sáng mùng một Tết, mình thường hay có cái lệ đầu năm xông đất. Trâm hỏi tôi, năm nay mình đi xông đất ai, tôi nói, mình đi xông đất Tố Hữu đi, ông ấy là cậu mình. Ba mươi năm rồi không gặp, năm nay mình đến xông đất thử xem thế nào. Tôi chào ông: “Cậu ạ!” Bố Tố Hữu với bà ngoại tôi là anh em ruột, họ gần chứ không phải họ xa”. Tố Hữu hỏi tôi: “Thế sao ba mươi năm nay cháu không đến?” “Thưa cậu, cháu biết đó là lỗi. Hôm nay cháu đến là để tạ cái lỗi ấy. Có điều là ba mươi năm trước cháu đến, khi cậu còn là bậc Tam Công, có quyền hành, nếu cháu đến người ta sẽ tưởng Phùng Quán đến cầu cạnh Tố Hữu điều gì, hay Tố Hữu gọi Phùng Quán đến để giao một công việc gì. Dù cháu chỉ đến thăm cậu thôi, nhưng người ta không tin. Miệng lưỡi thế gian dữ dằn lắm cậu ạ!” Sau đó, tôi dùng một từ, một từ rất neutre: “Nhưng bây giờ mọi chuyện đã xong rồi!” Đó là chữ “xong”, tôi tính mãi vì nó neutre. Ông nói với tôi: “Thôi được rồi, ngồi đây!” Rồi ông giới thiệu: “Đây là cháu tôi, ăn bánh kẹo mứt đi!” Tôi nói: “Xin phép cậu, cháu không thích ăn của ngọt, cậu có gì ngon cho cháu uống thì cháu thích lắm”. Đoạn tôi hỏi ông: “Năm nay cậu có làm thơ không?” “Cậu có làm một bài, nhưng một bài ngắn thôi”. Tố Hữu nói: “Ờ tôi có làm một bài thơ gọi là bài “Anh Bộ Đội Mua Đồng Hồ” “Đề tài lạ, cậu đọc đi!” Tố Hữu đọc:
 
Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thật giả không rành anh đừng lo
Hỏi o bán hàng, o tủm tỉm
Giả mà như thiệt khó chi mô
 
Tôi thích quá, bèn nói: “Thưa cậu, con không hay họa thơ, nhưng con thích bài thơ này lắm!” Tôi nghĩ thế này, bẩy mươi tuổi đầu rồi, cậu mới ngấm cái đòn giả thật. Cái đòn giả thật nó ghê gớm lắm! Mình đã ngấm cái đòn giả thật này năm 25, mà bây giờ 70 tuổi, ông ấy mới thấm đòn giả thiệt. Tôi nói tiếp: “Cậu cho cháu họa lại bài thơ này được không?” Tôi nghĩ chính cô bán đồng hồ này cũng là người từ trước biết đồng hồ giả hay thật. Đây là bài họa của tôi:
 
Tôi cũng là người chơi đồng hồ
Năm tao bẩy tuyết bị họ lừa
Thiệt giả không rành dễ mất mạng
Xá chi năm bẩy chiếc đồng hồ
 
Câu chuyện này xẩy ra năm 1991, tạp chí Cửa Việt có đăng bài này của tôi, và đây là bài đầu tiên tôi viết lại. Dư luận người ta rất chú ý, sau đó tờ Tiền Phong thấy thú vị quá, họ đăng lại vì thế được hai lần nhuận bút. Cuối cùng ông ấy nói như thế này, khi tiễn tôi ra về, lúc ra đến cửa, ông khoác vai Trâm một bên và tôi một bên, cùng đi xuống thềm. Lúc đó mọi người đã về hết rồi, ông quay lại bảo như thế này: “Trâm này, thằng Quán nó dại!” Tôi chưa hiểu ý ông lắm. Ông đi lừng khừng ra đến cửa, ông nói tiếp: “Mà cậu cũng dại!”
    Kể đến đây, cả Phùng Quán và ông Đang cùng cười lớn hể hả.
    Đã có năm chén rượu vừa uống lúc nãy, lưỡi mình trở nên phóng túng, tôi cười và nói: “Cậu ơi, điều đó cậu đã biết từ 55 trước rồi, ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần!”
    Tôi đối với Hoàng Cầm, có điều đặc biệt như thế này. Chúng tôi gặp nhau ở Điện Biên Phủ, lúc ấy tôi là một người lính vô danh tiểu tốt thôi, không có gì. Nhưng có một kỷ niệm này và thành thân nhau. Hồi đo, lính Điện Biên Phủ đều được cụ Mao tặng mỗi chiến sĩ một cái ca để đựng nước. Quà tặng của cụ Mao chủ tịch, ai cũng quý cái ca đó lắm. Hôm đó ông Hoàng Cầm, ông ấy cũng coi thường thôi, ông ta ra suối rửa mặt và đánh rơi cái ca xuống vực nước sâu. Tôi tiếc cái ca đó quá, liền nhào xuống, lặn và lấy lên. Cái vực sâu 3m như thế mà tôi lấy lên được cái ca, vì đó là món quà của cụ Mao. Hồi đó, tôi yêu cụ Mao như thế, đúng là một thằng cuồng tín, một thằng fanatic.
    Cả đến Văn Cao, tôi yêu ông vô cùng. Ông Văn cao cũng bị kẹt trong vụ Nhân Văn. Khi ông Văn Cao 60 tuổi, từ trước không ai tổ chức cho ông gì cả. Đây là lần đầu tiên, hội Văn Nghệ tổ chức cho ông một đêm kỷ niệm ngày sinh nhật 60 tuổi. Tôi và Trâm đến, hôm đó Văn Cao mặc complet, và bà Văn môi son, má phấn đang đuợc tặng hai bông hồng to. Tôi và Trâm đi vào, mang một cây mía chặt ở vườn nhà, và một trái đu đủ. Tôi nói với mọi người: “Tôi là khách không được mời, nhưng yêu Văn Cao là quyền của tất cả mọi người. Tôi yêu Văn Cao như một người lính. Vợ chồng tôi hôm nay đến, chúc thọ anh Văn Cao, và tôi xin tặng anh một cây mía. Cây mía này tôi chặt ở vườn nhà, để nguyên cả lá, để chứng tỏ rằng tôi không phải đi mua ở chợ Đồng Xuân. Anh cầm lấy cây mía này, anh chống gậy anh đi. Còn tặng chị Văn quả đu đủ.
Thế là anh chị Văn Cao phải bỏ hoa ra để cầm lấy quà tặng. Ông Văn Cao cầm cây mía và bà Văn Cao cầm quả đu đủ. Tôi nói tiếp: “Nhưng điều quan trọng nhất là tôi xin tặng anh một bài thơ”. Họ đông người lắm, muốn ngăn mình mà không được. Cướp diễn đàn, cướp micro mà. Tất cả đều ngồi yên lặng, tôi lại nói tiếp: “Anh Văn Cao ơi, tôi xin giới thiệu với các bạn, anh Văn Cao là một nhạc sĩ, nhưng cũng là một thi sĩ, một thi sĩ lớn. Văn Cao lại là một họa sĩ nữa.
Bài thơ của tôi như thế này, để mừng anh Văn Cao sáu mươi tuổi:
 
Anh Là Ai Và Anh Từ Đâu Tới
 
Anh là ai và anh từ đâu tới
Anh đến từ Suối Mơ, từ Thiên Thai
Từ mối tình bi thảm của Trương Chi
Tiếng hát hòa nước mắt, kết tinh thành ngọc trai…
 
***
 
Thời gian cũng đã dài quá, và cuốn băng thâu cũng gần hết, chị Bội Trâm có nhắc chồng đọc một bài thơ cuối cùng mà chị cho là quan trọng, đó là bài “Tình Tuyệt Vọng”. Phùng Quán nói tiếp: “Đây kể như là kết thúc, tôi đọc một bài thơ tình, tôi yêu nàng tha thiết, nhưng nàng đã phản bội tôi”:
    Chúng tôi mang cuốn băng từ Hà nội vào Saigon trên chuyến tầu tốc hành Bắc-Nam và trở về Mỹ. Ít tháng sau, chúng tôi được tin Phùng Quán ngã bệnh, bệnh sơ gan đã đến thời kỳ chót, Trong những ngày cuối cùng, Phùng Quán có trao đổi với chúng tôi bẩy lá thư, mà tôi đã viết thành bài “Những lá thư cuối cùng của một nhà thơ”. Phùng Quán qua đời ngày 22 tháng 1 năm 1995. Ngàn người đã đưa tiễn một nhà thơ trong nhóm Nhân Văn, hơn nửa cuộc đời bị chế độ vùi giập, đến cõi an bình…
 

Nguyễn Công Khanh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhà sư, nhà thơ, nhà thư pháp Thích Nhuận Tâm cho biết sau khi thầy hoàn tất Lớp hướng dẫn thư pháp tại Huntington Beach, California cuối tuần này, Thầy sẽ bay sang Houston, Texas để sẽ hướng dẫn một lớp thư pháp dự kiến sẽ mở ra tại Tịnh Xá An Nhiên ở Houston.
Bài thơ Lời tình buồn được nhạc sĩ Vũ Thành An phổ nhạc năm 1967, khi nhạc sĩ và thi sĩ Chu Trầm Nguyên Minh cùng đang theo học lớp Sĩ quan tại quân trường Lam Sơn, Đồng Đế, đến nay đã trở thành một trong những ca khúc vượt thời gian, được thể hiện qua những giọng ca: Tuấn Ngọc, Khánh Ly, Bằng Kiều…
Trong một bối cảnh đất nước nhiễu nhương, hỗn loạn, nhà văn thường đóng một vai trò quan trọng bằng cách sử dụng ngôn từ của mình để phản ánh, phê bình, truyền cảm hứng và đôi khi thậm chí thách thức hiện trạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhà văn phản ứng với những biến động khác nhau, cho dù đó là xã hội, chính trị hay văn hóa...
Tết và Xuân, Xuân và Tết, thời điểm kỳ lạ trong một năm. Vừa trông chờ vừa mong đừng đến. Vừa lưu luyến rét đông vừa háo hức xuân ấm. Vừa khép kín đoàn tụ gia đình vừa chan hoà xôn xao lễ hội. Vừa lặng lẽ hoài niệm chuyện riêng tư vừa hân hoan cùng nhau “nâng chén ta chúc nơi nơi”...
Nhà hiền triết người Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895-1986) qua đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai Valley, Quận Ventura, Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông đã chọn làm quê hương thứ hai từ năm 1922 cho đến khi ông mất, dù ông không ở đó thường trực. Tính đến tháng 2 năm nay, 2024 đã tròn 38 năm kể từ ngày ông lìa bỏ trần gian. Krishnamurti là một trong những nhà hiền triết có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 20. Cuốn “The First and Last Freedom” của ông được Giáo sư Phạm Công Thiện dịch sang tiếng Việt từ trước năm 1975 ở Sài Gòn với tựa đề “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” là một trong những cuốn sách tôi rất yêu thích đọc từ thời còn niên thiếu. Nhân tìm đọc lại một số bài giảng và bài viết của Krishnamurti, tôi tình cờ gặp được bài thơ “Song of the Beloved” (Bài Ca Về Người Yêu), nhưng không thấy ghi ông đã làm từ bao giờ. Có lẽ bài ca này ông làm vào những lúc về nghỉ ngơi tịnh dưỡng ở Ojai, vì bài đó nói lên lòng yêu thích thâm thiết của ông đối với thiên nhiên,
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch...
Người viết chơi với Phạm Thiên Thư từ những năm học trung học đệ nhất cấp khoảng 58-59. Thư đến nhà tôi ở ấp Cả Trắc, khu Ông Tạ và chúng tôi thường kéo nhau ra quán cà phê vợt ở đầu ngõ đi vào ấp. Trong những lần uống cà phê, Thư nói sôi nổi về việc lập học hội Hồ Quý Ly, để thực hiện việc nghiên cứu, viết văn, làm thơ. Mục đích là tiến tới làm một tập san văn nghệ...
Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo...
Nước Mỹ thế kỷ XX cống hiến cho nhân loại sự phong phú và đa dạng của các trào lưu, chủ đề và tiếng nói trong văn học. Một số tác giả và tác phẩm kinh điển đã xuất hiện trong thời kỳ này, góp phần phát triển truyền thống văn học có từ những thế kỷ trước. Riêng trong lĩnh vực tiểu thuyết, văn học hiện đại, thịnh hành vào đầu thế kỷ XX ở Châu Âu với kỹ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của James Joyce và Virginia Woolf, lan rộng sang Mỹ, tìm cách tách rời các hình thức truyền thống thế kỷ XIX để cách tân và hình thành một dòng văn học mới với phong cách độc đáo, táo bạo và mở ra những cánh cửa thú vị bất ngờ cho người đọc đi vào ngôi nhà nghệ thuật. Kỷ nguyên văn học hiện đại phương Tây bắt đầu từ hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX và, không thể nghi ngờ, Mỹ là quốc gia có những đóng góp to tát. Các tiểu thuyết gia lớn trong thời kỳ này, ta có thể nhắc đến F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway và William Faulkner.
Bước đi như vậy rõ ràng là không cần lưu dấu; nhưng chính là bước đi siêu tuyệt của bậc đại nhân, đại sĩ: không dấu tích mà lại tràn đầy công đức, lợi ích cho dân tộc, đạo pháp và nhân loại nhiều thế kỷ sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.