Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Cuộc Chiến Nga-Ukraine: Lịch Sử Lâu Đời Và Lợi Ích Của Các Đường Hầm Trong Chiến Tranh

06/05/202200:00:00(Xem: 1270)

Picture1

Sự do dự của Putin trong việc điều quân lính tiến vào một mạng lưới rộng lớn của các đường hầm dưới lòng đất ở Mariupol cho thấy một điều: Đường hầm có thể là công cụ hiệu quả trong chiến tranh. Hình: Bản khắc của người Assyria mô tả cuộc bao vây một thành phố Ai Cập (Bảo tàng Anh, CC BY-SA)

 

Sự do dự của Putin trong việc điều quân lính tiến vào một mạng lưới rộng lớn của các đường hầm dưới lòng đất ở Mariupol cho thấy một điều: Đường hầm có thể là công cụ hiệu quả trong chiến tranh. Hình: Bản khắc của người Assyria mô tả cuộc bao vây một thành phố Ai Cập (Bảo tàng Anh, CC BY-SA)
 
Đối mặt với viễn cảnh phải điều quân đi tham chiến dưới lòng đất, tổng thống Nga Vladimir Putin đã khá là dè dặt. “Không cần phải chui nhủi trong mấy hầm mộ hoặc lây lất bò xuống lòng đất.” Ông nói với Bộ trưởng Quốc phòng khi ra lệnh hủy bỏ kế hoạch tấn công nhà máy thép ở thành phố cảng Mariupol của Ukraine vào ngày 21 tháng 4 năm 2022.

Dù có kế hoạch dự phòng không kém phần tàn bạo là vây nhốt các lực lượng Ukraine và chờ đợi, hoặc cũng có thể tiến hành những cuộc tấn công trên mặt đất trong khu vực, sự do dự của Putin trong việc điều động quân lính tiến vào một mạng lưới rộng lớn của các đường hầm dưới lòng đất cho thấy một điều: Đường hầm có thể là công cụ hiệu quả trong chiến tranh.

Thật vậy, kể từ khi cuộc chiến bắt đầu vào tháng 2 năm 2022, các báo cáo đã xuất hiện về việc quân trú phòng Ukraine sử dụng mạng lưới đường hầm dưới lòng đất trong nỗ lực ngăn chặn quân xâm lược Nga kiểm soát các thành phố lớn, cũng như làm nơi trú ẩn cho dân thường.

Theo Giáo sư Paul J. Springer, việc sử dụng các đường hầm như một chiến thuật phòng thủ và tấn công là một chiến lược đúng đắn. Các mạng lưới đường hầm cho phép các đơn vị nhỏ di chuyển mà không bị phát hiện từ trên không, và xuất hiện ở những vị trí bất ngờ để tấn công rồi cũng bất ngờ biến mất. Nếu không có bản đồ chi tiết tường tận về các lối đi dưới lòng đất, quân xâm lược có thể đối mặt với những cơn ác mộng, bị đánh lúc nào không hay, tổn thất quân lính, tinh thần sa sút và không thể hoàn thành việc mục tiêu… Những nỗi lo sợ đó có thể đã khiến Putin quyết định không điều quân tiến vào các đường hầm dưới lòng đất ở Mariupol.

Lịch sử xa xưa của đào hầm trong quân sự

Việc sử dụng các đường hầm và các hầm ngầm trong thời kỳ xung đột không có gì mới lạ.

Các đường hầm đã là một phần phổ biến của chiến tranh trong nhiều thiên niên kỷ. Từ thời cổ đại, các lực lượng quân lính đã biết đào đường hầm để có thể tấn công, làm suy yếu các vị trí công sự được phòng thủ tốt. Điều này đặt ra vấn đề cho các kỹ sư xây dựng khắc phục: họ sẽ xây các đoạn móng tường sâu và dài, hoặc đặt các chướng ngại vật khác dưới móng tường. Đánh sập đường hầm sẽ làm suy yếu phòng thủ. Và nếu đúng lúc, cuộc tấn công theo ngay sau đó có thể giúp đánh hạ công sự của đối phương, nắm chắc phần thắng.

Một trong những ví dụ lâu đời nhất của kỹ thuật này được mô tả trên các tác phẩm chạm khắc của người Assyria, có tuổi đời hàng nghìn năm. Trong khi bên trên có một số kẻ tấn công leo thang để xông qua tường thành, thì bên dưới, những kẻ khác đang đào móng các bức tường.
 
Quân đội La Mã có các kỹ thuật công trình phức tạp, như xây dựng các đường hầm có mái vòm. Quân phòng thủ La Mã cũng hoàn thiện nghệ thuật đào đường hầm phản công, để đánh chặn những đường hầm bị tấn công, ngăn ngừa các mối đe dọa. Khi thâm nhập vào một đường hầm của kẻ thù, họ làm ngập nó bằng loại khói có chất xút để đánh đuổi kẻ thù, hoặc tấn công bất ngờ.

Picture2
Đường hầm

Thành quả của việc đào hầm phòng thủ đã khiến các kỹ sư châu Âu thời Trung cổ thiết kế ra các cách để ngăn chặn chiến thuật. Họ xây lâu đài trên nền móng bằng đá, làm cho mọi nỗ lực đào bới sẽ chậm hơn nhiều; không chỉ vậy, bao quanh các bức tường là những con hào để các đường hầm cần phải đào sâu hơn.

Đào hầm là một khía cạnh quan trọng của các cuộc vây hãm trong suốt thế kỷ 13, nhưng cuối cùng nó đã bị thay thế bởi sự ra đời của pháo thuốc súng - một cách hiệu quả hơn để chọc thủng các công sự.

Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ 19, những tiến bộ trong khai thác mỏ và xây dựng đường hầm đã dẫn đến sự trỗi dậy trong các phương pháp tiếp cận chiến tranh dưới lòng đất.

Trong Cuộc chiến Krym vào những năm 1850, phe tấn công của quân Anh và Pháp đã cố gắng đào hầm dưới các công sự của Nga trong trận Sevastopol. Mười năm sau, Ulysses S. Grant cho phép đào đường hầm bên dưới lực lượng phòng thủ của Quân miền Nam tại cuộc bao vây của Petersburg, Virginia. Trong cả hai trường hợp, các kho thuốc súng lớn được đặt trong các khoang ngầm dưới lòng đất ở các vị trí trọng yếu, và được kích nổ để phối hợp với cuộc tấn công của bộ binh bên trên.

Đào hầm trong thời đại không quân

Thế kỷ 20, khi mà chiến tranh ngày càng phụ thuộc vào máy bay, các nhà chiến lược quân sự lại chuyển sang sử dụng các đường hầm, vì chúng không thể bị phát hiện từ trên không, và tránh được bom.

Trong Thế chiến I, đào hầm là cách để phát động các cuộc tấn công bất ngờ vào Mặt trận phía Tây, có khả năng vượt qua hệ thống chiến hào của phía bên kia và không bị các quan sát viên trên không phát hiện. Đặc biệt, Ypres nổi bật ở Bỉ bị tàn phá bởi chiến tranh là địa điểm của hàng trăm đường hầm do các thợ mỏ của Anh và Đức đào, và những câu chuyện kinh hoàng về cuộc chiến dưới lòng đất cung cấp một trong những nét vẽ đáng sợ nhất của cuộc chiến khủng khiếp đó.

Trong Thế chiến II, quân đội Nhật Bản tại các khu vực bị chiếm đóng ở Thái Bình Dương đã xây dựng các mạng lưới đường hầm rộng khắp, giúp lực lượng của họ tránh bị tấn công từ trên không và các cuộc bắn phá của hải quân từ các lực lượng Đồng minh. Trong các cuộc tấn công đổ bộ ở những nơi như Philippines và Iwo Jima, các lực lượng của Hoa Kỳ và quân Đồng minh đã phải đối đầu với một loạt các mạng lưới đường hầm của Nhật Bản. Cuối cùng, họ phải dùng đến chất nổ có sức công phá cao để phá sập các lối vào đường hầm, nhốt hàng nghìn quân Nhật bên trong.

Địa đạo Củ Chi, mạng lưới đường hầm ở vùng lân cận Sài Gòn, là một phần thiết yếu trong chiến lược du kích, và cũng là một điểm tham quan du lịch nổi tiếng hiện nay. Một số đường hầm đủ lớn để chứa các cơ sở bệnh viện và doanh trại; chúng đủ vững chắc để chịu được bất cứ cuộc bắn phá hạt nhân nào, trong thời gian ngắn. Hệ thống địa đạo không chỉ bảo vệ các máy bay chiến đấu Việt Nam trước sức mạnh không quân của Hoa Kỳ, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tấn công du kích.

Hầm để chống khủng bố

Trong thế kỷ 21, các đường hầm đã được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của các tổ chức khủng bố. Trong cuộc chiến Afghanistan, các đặc nhiệm quân sự sớm phát hiện ra rằng al-Qaida đã củng cố một loạt mạng lưới đường hầm nối tới các hang động tự nhiên trong vùng Tora Bora.
Không chỉ giúp che giấu di chuyển quân lính và nguồn cung cấp, chúng còn tỏ ra vững vàng trước hầu như mọi loại vũ khí của liên minh. Các khu phức hợp bao gồm hệ thống lọc không khí để ngăn ngừa ô nhiễm hóa chất, cũng như các kho chứa lớn và thiết bị liên lạc tinh vi cho phép lãnh đạo al-Qaida duy trì quyền kiểm soát đối với những người theo dõi của họ.

Và hoạt động đào hầm trong và xung quanh Gaza tiếp tục cung cấp một công cụ để Hamas đưa máy bay chiến đấu vào lãnh thổ Israel, đồng thời cho phép người Palestine vượt qua sự phong tỏa của Israel đối với biên giới của Gaza.

Đường hầm của Liên Xô và Ukraine

Ngày nay, nhiều đường hầm đang được sử dụng trong nỗ lực bảo vệ đất nước của Ukraine được xây dựng từ thời Chiến Tranh Lạnh.

Để chống lại lợi thế không quân và vệ tinh do Hoa Kỳ và NATO nắm giữ, quân đội Liên Xô đã đào những con đường ngầm dưới các trung tâm dân cư chính.

Các hệ thống dưới lòng đất là những nơi trú ẩn nhất định cho dân thường trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công hạt nhân, và cho phép các lực lượng quân sự di chuyển. Chính những đường hầm kết nối phần lớn cơ sở hạ tầng công nghiệp ở Mariupol ngày nay - và đã trở thành công cụ chính của lực lượng Ukraine.

Các thành phố khác của Ukraine cũng có hệ thống tương tự, một số có niên đại hàng thế kỷ. Ví dụ, Odesa, một cảng quan trọng khác của Biển Đen, có mạng lưới đường hầm trải dài hơn 2,500 km. Ban đầu, nó đùng để khai thác đá vôi - và cho đến nay, không có bản đồ nào đầy đủ chi tiết của các đường hầm này.

Trong trường hợp Nga tấn công Odesa, kinh nghiệm về các lối đi ngầm có thể là một tài sản vô cùng quý giá đối với quân phòng thủ. Hơn 1,000 lối vào hầm mộ chắc chắn sẽ khiến những kẻ tấn công phải khựng lại trước khi ra tay vào thành phố - giống như các đường hầm dưới nhà máy thép ở Mariupol, đã buộc Putin phải cân nhắc lại kế hoạch của mình.
 
Việt Báo phỏng dịch theo bài viết của Paul J. Springer, Giáo sư Khoa Nghiên cứu Quân sự trường Hàng không, một chuyên gia về lý thuyết và lịch sử quân sự, được đăng trên trang TheConversation.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Đỗ Gia- một gia đình thân hữu lâu đời với nhà văn Doãn Quốc Sỹ - đã thực hiện audio book và bắt đầu đưa lên youtube, để người Việt khắp nơi trên thế giới có thể nghe đọc một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn lão thành này.
Tôi không lo rằng tác phẩm nghệ thuật thực sự có giá trị sẽ bị hủy hoại. Các tác phẩm văn học có thể trường tồn một phần là vì chúng đủ sức nặng để được đọc và ngẫm trước những thăng trầm của hiện tại. Lập luận này có thể được đưa ra với bất kỳ tác phẩm vĩ đại nào trong văn học Nga, nhưng với tư cách là học giả chuyên nghiên cứu về các tác phẩm của Leo Tolstoy và Fyodor Dostoevsky, tôi sẽ nói về những tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của họ.
Thực hành đạo lý từ bi giác ngộ, người con Phật nếu im lặng không lên án tham-sân-si thì cũng không cổ võ ủng hộ lòng tham, hận thù và vọng tưởng độc tài, độc tôn; không lên án chiến tranh, chiếm đoạt thì cũng không ca tụng ngợi khen sự khích động chiến tranh, giết người, tổn hại sinh mệnh và tài sản của kẻ khác.
Vương mạnh dạn quyết định biến nỗi đau Việt và những tổn thương giữa các thế hệ thành vẻ đẹp. "Để trở thành một con đập thiệt hại," Vương tiếp tục viết trong bài thơ "Not Even This." "Tôi nghĩ, sự tồi tệ của mình sẽ không thể xâm nhập vào thế giới và nhanh chóng trở thành anh hùng của mình." Quyết định rằng "từ nay sẽ là niềm vui", bài thơ kết thúc bằng sự tái sinh của Vương. Hình ảnh vượt qua những thương tích giữa các thế hệ, anh viết:" Những ngọn đèn rực sáng chung quanh tôi thành một khí hậu trắng xóa / và tôi bay bổng, ướt đẫm máu, ra khỏi mẹ, vào thế giới, gào thét / và có đủ." […] Trong bài thơ "Nothing", người kể xúc tuyết với người bạn đời, Peter: "Người đàn ông này và tôi, lấy những gì sẽ biến mất, bỏ qua một bên, cho trống chỗ." Người kể chứng kiến cảnh Peter âm thầm đương đầu với lịch sử của gia đình mình, cách anh ta hiểu tên anh được đặt theo tên của ông chú, em của bà nội, người Do Thái, đã chết khi chạy trốn Stalin.
Tháng Ba 2019, ba tháng trước khi cuốn sách “Một Thoáng Rực Rỡ Chốn Nhân Gian” (On Earth We’re Briefly Gorgeous) của Ocean Vương phát hành, anh gọi cho nhà xuất bản từ bệnh viện: “Tôi không thể nào đi tour ra mắt sách được,” anh nói: “Mẹ tôi bị ung thư. Mọi thứ đều chấm dứt.” Lần đầu tiên bà Hồng, mẹ anh, vào bệnh viện cấp cứu với cơn đau dữ dội sau lưng, anh không bên cạnh Mẹ. Bệnh viện gởi bà về nhà với dải băng nóng dán sau lưng. Ocean Vương, lúc đó đang sống tại Northampton, Mass., cùng với Peter, đến thăm bà và đưa bà trở lại phòng cấp cứu, lần này, bác sĩ làm thử nghiệm và sau đó báo kết quả bà bị ung thư vú, giai đoạn thứ tư. Ung thư đã di căn vào xương sống, tủy sống của bà.
Cuối năm 2019 Nhà Perrin ấn hành cảo luận Nam Phuong, La denière impératrice du Vietnam của giáo sư François Joyaux, là nghiên cứu sau cùng của giới sử gia Pháp về hoàng hậu Nam Phương. Trước tiên có sự khác biệt trong tước hiệu: Nhà Nguyễn và các sách tiếng Việt đều viết Hoàng hậu nhưng phía Pháp luôn viết Impératrice là Nữ hoàng. Do trong mắt Tây phương, Đại Nam là một đế quốc mà Ai Lao và Cao Miên đã thần phục. Trong hồi ký L’Indochine française: Souvenirs xuất bản vào năm 1905, toàn quyền Paul Doumer từng viết: “Nếu chúng ta không đến kịp để ngăn chặn, phần số của Thái Lan đã kết thúc trong tay Đại Nam.” Pháp cũng luôn xem Trung kỳ và Nam kỳ là hai thuộc địa của nhà Nguyễn. Quốc sử quán triều Nguyễn ngược lại, phải tuân thủ quốc sách xin cầu phong và nhận tỉ ấn của Thanh triều (chỉ xem Đại Nam là vương quốc An Nam), nên không thể có danh xưng hoàng đế và nữ hoàng. Phải đến 1945, trong tuyên ngôn độc lập đầu tiên, Bảo Đại mới đặt tên nước là Đế Quốc Việt Nam.
Cao Bá Quát tự Chu Thần (bậc thần tử của nhà họ Chu) sống vào thế kỷ thứ 19, người sau này xếp bút nghiên đứng lên phất cờ chống lại triều đình nhà Nguyễn ở Mỹ Lương...
Sài Gòn có con đường nối liền hai đường song song Bùi Viện và Phạm Ngũ Lão, nối khúc gần rạp hát Thái Bình ngày xưa với khúc đuôi của Phố Tây Bùi Viện. Con đường không dài hơn 2km đâm ra bến xe buýt mới Sài Gòn, chỗ trước đây nằm trong khu ga xe lửa Sài gòn tên là Đỗ Quang Đẩu. Cái tên Đỗ Quang Đẩu của con đường nầy ngày nay hình như vẫn còn, vẫn mang tên cũ... Nhưng Đỗ Quang Đẩu là ai, sao lại có tên đường ngay một vùng rất gần với những khu tấp nập của Sài gòn? -- Học giả Nguyễn Văn Sâm, nổi tiếng với những công trình biên khảo văn chương nghệ thuật đặc thù Nam bộ, cho chúng ta câu trả lời qua bài viết sau. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Đối với quần chúng bình dân, những giáo nghĩa cao siêu về Tánh Không (Śūnyatā) mà Bồ Tát Quán Tự Tại đã giảng cho Tôn Giả Xá Lợi Phất trong Bát Nhã Tâm Kinh là triết lý cao thâm khó thấu hiểu và thực hành trong cuộc sống hàng ngày. Đối với quần chúng bình dân, một Bồ Tát Quan Thế Âm trong hình ảnh của Quan Âm Thị Kính hay Quan Âm Diệu Thiện sẽ gần gũi, dễ cảm thông, dễ tiếp nhận, và dễ được ảnh hưởng sâu đậm hơn.
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, một học giả không xa lạ trong cộng đồng người Việt hải ngoại, cho biết ông vừa hoàn thành việc phiên âm và giới thiệu một cuốn sách xưa hơn 100 năm, cuốn Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca. Dưới đây là Lời Tựa của cuốn sách. Việt Báo trân trọng iới thiệu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.