Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Văn Học Press Trân Trọng Giới Thiệu Tập Truyện "Có Những Đêm Trăng Vỡ" của Vũ Đình Kh

17/01/202113:46:00(Xem: 794)


 

NC_Cover_PreOrder.jpg


Trân trọng giới thiệu:
 CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ

Tập truyện

VŨ ĐÌNH Kh

VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2021


Tựa: Đoàn Nhã Văn

Tranh bìa: Đinh Trường Chinh

Thiết kế bìa: Lê Giang Trần


356 trang, ấn phí: US$20.00


Tìm mua trên BARNES & NOBLE

Keyword: co nhung dem trang vo

Hoặc bấm vào đường dẫn sau:


https://www.barnesandnoble.com/w/co-nhung-dem-trang-vo-vu-dinh-kh/1138639133?ean=9781666236989 


VHLogo_Caybut.jpg

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978

email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press


***

CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ

hay là nhịp đập của vùng đất mang tên Diên Khánh



– Đoàn Nhã Văn

 

Khi bị bứng ra khỏi quê hương, người ta thường hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Là nhà văn, khi phải viết bên ngoài xứ sở, không khí trong tác phẩm của họ thường ẩn hiện một vùng đất, một thổ ngơi, hay in đậm nét một nhân vật của địa phương đã ám ảnh họ suốt một thời mới lớn. Vũ Đình Kh cũng không ra ngoài thông lệ đó.


Vũ Đình Kh đã viết về quê hương thu nhỏ của mình với một giọng văn nhẹ nhàng và đượm ngọt. Cái ngọt của những đợt trái đầu mùa nơi quê hương ông: Thành. Địa danh chỉ có một chữ duy nhất, nhưng nếu ai đã đi dọc đất nước đều nhớ, đó là ngã ba Thành. Hướng bắc chạy ra Ninh Hòa. Hướng Nam về vùng Cam Ranh, Phan Rang, và hướng đông về thành phố biển Nha Trang. Cũng tại nơi đây, trước kia đã xảy ra những trận đánh long trời lở đất, dai dẳng giằng co, giữa binh lính hai bên: Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh. Cửa Thành Đông, Tây, bây giờ chỉ còn lại những rêu phong, mà ngay cả người dân sinh ra và lớn lên ở đây cũng hiếm khi chú ý đến một vùng đất mang đầy những dấu tích lịch sử cùng bước chân của những người đi trước giữa một thời chinh chiến điêu linh. Không xa Thành là bao, nơi con sông Cái, nhà cách mạng Trần Quý Cáp đã ngã xuống, đem máu mình nuôi dưỡng những niềm tin trong một thời loạn lạc. Rộng thêm một chút, đó là cả vùng đất Diên Khánh mà Vũ Đình Kh đã có chút tham vọng mang cái tên Diên Khánh, mang quê hương mộc mạc, đượm thắm tình người vào những trang chữ của mình. Ở đó, không chỉ cho một cái tên sống lại, mà còn mở ra những rung cảm, để thấy rằng mỗi vùng đất của quê hương luôn ẩn chứa những sức sống tiềm tàng. Ông đã thành công, vì đã tạo được nhiều xúc cảm và để lại không ít những ray rứt nơi bạn đọc, qua nhiều truyện ngắn, trong đó có “Những Mùa Ớt Trong Đời” và “Gió Sang Mùa”. Cũng có thể nói rằng: chính không khí đầy tình người của vùng đất này đã nuôi dưỡng và làm nên những trang chữ mang tên Vũ Đình Kh.


Rời quê hương để đi về hướng mặt trời, lòng ai cũng đều xát muối. Riêng hoàn cảnh của Vũ Đình Kh có khác với nhiều người trong chúng ta, bởi thân phận trước khi ra đi của ông. Nhưng cũng chính ở cái đặc biệt này, chúng ta được cơ hội nhìn lại, được biết rõ thêm về cuộc sống, được bước sâu vào vùng suy nghĩ và tâm trạng của những người thanh niên vào đời sau 1975, nhất là ở giai đoạn chuyển mùa 1975-1979.  Tuổi trẻ vào đời, không có sự chọn lựa, họ phải mang màu áo lính, của chính quyền mới. Truyện ngắn Vũ Đình Kh dựng lại những mảng đời rất tiêu biểu của thanh niên trong giai đoạn này.  Sau hơn 20 năm nhìn lại, ông cho chúng ta thấy một bao dung, đầy tình người. Ở nhiều đoạn, trong nhiều truyện, ông tạo cho người đọc những cái sững sờ, như truyện ngắn “Niềm Đau” chẳng hạn.


Viết về cuộc sống trên xứ người, Vũ Đình Kh đi thật cặn kẽ vào một điều mà ông cho là quan trọng nhất trong đời người: Niềm tin. Khi mất niềm tin, con người mất tất cả. Vũ Đình Kh dựng một nhân vật Ba Lan, Ivan, vì mất niềm tin đã để cuộc đời mình rớt xuống bùn nhơ, chẳng thèm đi làm, để khỏi phải đóng thuế, khỏi phải nặng gánh cấp dưỡng vợ con, sau khi đã ly dị trong một hoàn cảnh thương tâm. Và từ đó, nhân vật này có một lối sống khá đặc biệt và có một lối “trả thù” lạ lùng. Viết về những mối tình ngang trái trong một cộng đồng mới trên xứ người, ông cho thấy đằng sau những nụ cười trìu mến là những thủ đoạn, lọc lừa. Những thủ đoạn ấy được thực hiện đối với bạn bè thân nhất, và ngay cả với người phối ngẫu tật nguyền. 


Ra đi là có một niềm hy vọng để quay về.  Mỗi người có một cách thế trở về khác nhau. Riêng Vũ Đình Kh, ông trở về và nhìn lại quê hương với những niềm đau rát buốt. Nhìn cái tụt hậu mà quặn tấc lòng. Nhìn cái dối trá chung quanh để thấy cả một xã hội quay cuồng trong cơn lốc. Ở đó, tình cảm giữa người với người, ngày càng co lại, để thay vào đó là những giành giật, những tha hóa, những tầm nhìn hạn hẹp, và nhất là những buông tuồng, sợ sống không đến ngày mai. Trước một xã hội đã tạo nên những con người như mất dần, có khi mất hẳn, nhân tính, Vũ Đình Kh đã không ngần ngại dựng lại điều đó trên trang sách của mình dù biết rằng nó là con dao hai lưỡi trong nghệ thuật. Ở đây, đôi lúc ông châm biếm, lắm khi ông nhoẻn cười, nhưng là những cái cười gượng, nát lòng, khi nhìn dâu bể tang thương.


Truyện của Vũ Đình Kh chuyên chở nhiều nét đặc thù của xã hội: một bên trong Việt Nam và một cộng đồng bên ngoài Việt Nam. Sống trên xứ người, sầu muộn bởi ngăn cách, đã đành. Bước đi trên quê hương, mà nghe những niềm đau thốn lên từ tâm can, dậy lên từ phế phủ mới là điều đáng nói. Đi giữa nơi chôn nhau cắt rún mà như đi vào một vùng đất chưa bao giờ đặt chân đến. Ông thấy mình bơ vơ giữa chốn chợ đông. Ông thấy mình lạc lõng giữa phố phường chật hẹp. Ông thấy mình lẻ loi giữa phố xá đầy người. Vì thế, khi đọc Vũ Đình Kh, ta bắt gặp những cái cô đơn: cô đơn trong suy nghĩ, cô đơn trong tiềm thức, cô đơn đến lặng người của một kẻ trở về mảnh đất xưa, nơi bắt đầu tiếng khóc vào đời, nơi nuôi dưỡng những tấm lòng quê, nơi ẩn chứa muôn vàn kỷ niệm, mà không có được một cảm thông, một chia sẻ.


Khi vẽ những chiếc mặt nạ gớm ghiếc trong cõi nhân sinh; khi ném những cái nhìn ghê tởm vào những thay trắng đổi đen; khi muốn xóc tung quá khứ của một đời người; ở tập truyện ngắn này, Vũ Đình Kh muốn  bước về tương lai, muốn nhìn về phía trước với cái nhìn đẹp hơn và người hơn. Giọng văn của ông trong những truyện ngắn này như chậm lại và có khi giãn ra như một vết chùng, để kéo dài nỗi buồn man mác, lắm cảnh thương tâm, đã tấp vào những cuộc đời vốn chứa đầy những vết cắt.


Cho dù mở ra và đóng lại ra sao đi nữa, chúng ta sẽ không ngạc nhiên thấy Vũ Đình Kh nuôi dưỡng và nâng niu những trang chữ bằng nhịp đập trái tim mình. Vì thế chữ nghĩa dễ tạo được rung cảm ở người đọc cùng một góc nhìn. Nhưng ngược lại, có khi nó làm người khác dị ứng, khi đứng ở một góc độ khác. Và, như tôi đã thấy, ông chấp nhận điều này, bước thoải mái về hướng mình muốn bước.


CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ không phải là tập truyện đầu tay của Vũ Đình Kh. Tuy nhiên, tập truyện này đã chứng nghiệm cái “tình” mà Vũ Đình Kh đã dành cho một vùng đất mang tên Diên Khánh. Mà Diên Khánh là một vựa trái cây của Khánh Hòa. Phải chăng, vì yêu từng hòn sỏi quê hương, yêu từng ngọn cỏ, luống rau nơi mình khôn lớn, yêu từng con dế của những buổi thiếu thời, v.v., mà ông đã viết tắt hai chữ Khánh Hòa, làm bút hiệu cho mình?


Những tấm lòng nặng tình với quê hương như thế, dù sống bất kỳ nơi đâu trên trái đất này, đều rất đáng được trân trọng. 


(2000, hiệu đính 2020)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lawrence Ferlinghetti, nhà thơ, nhà xuất bản, họa sĩ và nhà hoạt động chính trị là người đồng sáng lập tiệm sách nổi tiếng City Lights tại thành phố San Francisco và trở thành biểu tượng của thành phố này, đã qua đời ở tuổi 101, theo bản tin của báo The Guardian tường thuật hôm 23 tháng 2 năm 2021. Theo The Guardian, nhà thơ Ferlinghetti đã qua đời tại tư gia vào tối Thứ Hai, 22 tháng 2 do bệnh liên quan tới phổi. Ông là nhà thơ thuộc Thế Hệ Beats (Beat Generation) vào giữa thập niên 1950 ở Mỹ. Đây là thế hệ chịu ảnh hưởng sâu sắc Thiền và tư tưởng Phật Giáo. Qua nhiều năm ông đã xuất bản nhiều tác phẩm của các nhà văn và nhà thơ thuộc Thế Hệ Beats như Allen Ginsberg, Jack Kerouac, Gregory Corso, William S. Burroughs, Diane diPrima, Michael McClure, Philip Lamantia, Bob Kaufman, và Gary Snyder. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông “A Coney Island of the Mind,” do New Directions xuất bản vào năm 1958, là một tuyển tập thơ đã được dịch sang 9 thứ tiếng và bán ra hơn một triệu bản.
Vậy là tác giả “Mật Đắng” của chúng ta đã trở thành góa bụa. Tôi không nghĩ trong đầu ông, trong tim ông, trong cõi lòng già nua héo úa của ông, có giây phút nào nghĩ đến rồi đây mình có thể thành “góa bụa”.
Sử truyện kể rằng ở nước Đại Việt vào thời Nhà Trần, có vị minh quân đã hai lần đánh bại đoàn quân viễn chinh hung hãn của Hốt Tất Liệt, người Mông Cổ sáng lập và cai trị nhà Nguyên ở Trung Hoa. Nhưng vị minh quân này đã không ở ngôi cửu trùng để tế thế an bang bằng con đường chính trị của bậc đế vương mà khoác áo nâu sòng xuất gia đầu Phật và sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm để đem giáo pháp giác ngộ của Phật Đà giải khổ cho muôn vạn chúng sinh. Vị minh quân và tổ sư ấy chính là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài cũng là nhà thơ kiệt xuất để lại nhiều áng thơ văn trác tuyệt đóng góp cho nền văn học nước nhà. Hơn bảy thế kỷ sau khi Tổ Sư Trần Nhân Tông viên tịch, có một nhà thơ Việt ở gần tuổi ‘xưa nay hiếm’ (thất thập cổ lai hy) sống tha hương nơi xứ người mà tất dạ lúc nào cũng không rời cái nôi văn hóa và văn học của dòng giống Lạc Việt nên đã ngày đêm chuyên cần dịch thơ chữ Hán của Tổ Sư ra tiếng Việt để cho con cháu đời sau nhớ lấy di sản của tiền nhân.
Câu thơ cuối đối với tôi là câu thơ hay nhất "Rất hồn nhiên đụng cái mịt mù…" . Bỗng dưng làm tôi nhớ câu thơ hóm hỉnh của Mai Thảo "Đặt tay vào chỗ không thể đặt... Cười tủm còn thương chỗ đặt nào".
Hình ảnh chiếc thuyền không, ghếch mình lên cát chính là ẩn dụ “qua sông bỏ bè” được nói trong kinh Phật (2). Nhìn chiếc thuyền mà man mác hoài niệm cổ nhân một thời. Hoài niệm ở đây không phải là nỗi buồn thông thường của thế nhân. Chỉ là cảm khái về một hành trạng, một tâm thức xả ly siêu tuyệt tương ứng với sở hành sở đắc của tự thân.
Những ngày rộn ràng của Tết Tân Sửu đã qua. Nhưng dư hương của ngày Tết vẫn còn đâu đây, bởi vì theo truyền thống người Việt Nam ngày Rằm Tháng Giêng là Lễ Thượng Ngươn đi liền theo sau ngày Tết Nguyên Đán để cầu an cho mọi người và mọi nhà. Nói đến tục lệ ngày Tết của người dân Việt có liên quan đến ước nguyện cho một năm mới nhiều an lành và phúc lợi thì không thể không nói đến tục xin xăm, xin keo, bấm quẻ, xem số tử vi, v.v...Ngày đầu năm ở các chùa, các đình thờ hay tại những nơi có đông người tụ tập như các lễ hội Tết, chúng ta thường gặp hình ảnh những ông/bà thầy bói đội khăn đóng, đeo kính râm ngồi đâu đó để gieo quẻ coi bói cho thân chủ đầu năm, hoặc hình ảnh của những người thành tâm hai tay bưng ống đựng thẻ xăm lắt đều cho đến khi một thẻ xăm văng ra. Có người còn xem chữ ký, lật lá bài, hay xem tướng mặt và bàn tay để tiên đoán vận mệnh cát hung cho thân chủ hay cho người quen vào dịp đầu năm.Cũng trong dịp đầu năm, với tính cách quy củ và hàn lâm hơn, đâu đó không thiếu
Số là tôi có cái may từ nhỏ đã được nghe rất nhiều câu ca dao trong lời hát ru từ những người xung quanh từ dưới quê cho tới thị thành. Nghe riết rồi thuộc, rồi thấm hồi nào không hay, rồi lâu lâu lôi ra nghiền ngẫm: ‘sao ông bà mình hồi xưa hay vậy ta? Nói câu nào trúng câu đó!’
Có lẽ vì vậy mà một năm con chuột vừa qua có quá nhiều biến động và khủng hoảng, từ đại dịch vi khuẩn corona làm chết hơn 2 triệu người trên toàn thế giới đến vụ bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tạo ra một thời kỳ ảo vọng và phân hóa trầm trọng trong lịch sử của Xứ Cờ Hoa. Đại dịch đã thay đổi tận gốc các phong tục tập quán và lối sống của con người. Ngày nay đi đâu cũng thấy mọi người đeo khẩu trang, đứng cách nhau hơn một mét rưỡi, ngần ngại khi đi gần người khác, tránh xa khi thấy người nào đó ho, nhảy mũi. Sinh hoạt kinh tế cũng đã có nhiều thay đổi. Các cơ sở thương mại đóng cửa quá lâu đã phải dẹp tiệm luôn. Đa phần con người chuộng mua hàng qua mạng, ít có người muốn đi mua sắm ở các thương xá như lúc trước, bằng chứng là ngày Thứ Sáu Đen (Black Friday) trong cuối tháng 11 năm 2020 số người đi mua sắm đã sút giảm đáng kể trong khi số người mua qua mạng đã tăng vọt. Sự sa sút của kinh tế đã làm cho ngày càng có nhiều người nghèo hơn, đói khổ hơn và do dó nhu cầu trợ giúp thực phẩm
Thấm thoát đã 45 mùa xuân lướt qua đời mình, từ ngày tôi bắt đầu chập chững những bước tị nạn trên xứ người. Ký ức mùa xuân của tôi như dòng sông chảy ngược về nguồn, lúc vun vút, khi chậm rãi luân lưu giữa chập chùng biển hồ dĩ vãng. Theo chân gia đình ra khỏi trại Pendleton thuộc Quận San Diego, tiểu bang California, tôi về định cư ở thành phố của Những Thiên Thần (Los Angeles)vào những ngày tháng cuối năm 1975. Mùa xuân Bính Thìn 1976 đầu tiên trên miền đất hứa Hoa Kỳ, bố tôi dẫn gia đình đến thăm ngôi chùa Việt Nam toạ lạc ở đường Berendo của thành phố này. Mẹ tôi là người hái những chiếc lá lộc non đầu năm để cầu nguyện cho gia đình và cuộc sống tương lai không biết sẽ ra sao trên vùng đất mới. Ngày ấy tôi chưa đủ trưởng thành để xao xác với niềm nhớ quê hay trằn trọc với những hoài vọng luyến thương canh cánh như bố mẹ tôi. Tôi chỉ biết dõi theo những khuôn mặt ưu tư trĩu nặng của khách dâng hương đang thành kính khấn vái trên chiếc chiếu cói trải trước Phật Đường. Từ đó Chùa Việ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.