Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khôi Nguyên Nobel Văn Chương 2020 Louise Glück Sinh Ra Để Làm Thơ

23/10/202000:00:00(Xem: 761)
 
Khoi Nguyen Nobel Van Chuong cv

Hình vẽ khôi nguyên Nobel Văn Chương 2020 Louise Glück.

(www.nobelprize.org


Ngày 8 tháng 10 năm 2020 Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố nhà thơ người Mỹ Louise Glück đã được chọn để trao Giải Thưởng Nobel Văn Chương  năm 2020. Trong thông báo chọn hoa khôi Nobel Văn Chương năm 2020, Thư Ký Thường Trực của Viện Hàn Lâm Thụy Điển là Mats Malm nói rằng nhà thơ Louise Glück được trao giải là “vì giọng thơ không thể nhầm lẫn của bà với vẻ đẹp khắc khổ làm cho sự hiện hữu của cá nhân thành phổ quát,” theo trang mạng của Ban Tổ Chức Giải Nobel www.nobelprize.org
 
Vậy nhà thơ Louise Glück là người như thế nào và sự nghiệp thơ văn của bà ra sao?
 
Cuộc đời của nhà thơ Louise Glück
 
Louise Glück có tên họ đầy đủ là Louise Elisabeth Glück. Bà sinh ngày 22 tháng 4 năm 1943 tại Thành Phố New York. Bà là người con gái lớn trong gia đình có hai người con gái còn sống. Cha bà là thương gia Daniel Glück và mẹ bà là người nội trợ Beatrice Glück, theo www.en.wikipedia.org.

Mẹ của bà Glück là con của gia đình gốc Do Thái-Nga, trong khi ông bà nội của bà là người gốc Do Thái-Hung Gia Lợi, đã di cư tới Hoa Kỳ trước khi cha của bà được sinh ra, và họ cuối cùng đã làm chủ một tiệm tạp hóa tại New York. Cha của Glück có hoài bảo muốn trở thành một nhà văn, nhưng lại đi vào con đường kinh doanh với một người anh em rể. Họ cùng nhau thành đạt khi phát minh ra con dao X-Acto. Mẹ của Glück đã tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Wellesley. Trong thời thơ ấu của bà, cha mẹ bà đã dạy bà huyền thoại Hy Lạp và các câu chuyện cổ tích như cuộc đời của Joan of Arc. Bà đã bắt đầu làm thơ từ lúc còn bé.

Khi đến tuổi vị thành niên, Glück đã bị chứng bệnh tâm thần chán ăn, mà đã trở thành một thách thức vào cuối tuổi vị thành niên sang đến những năm tuổi thanh xuân của bà. Bà mô tả chứng bệnh này, trong một bài viết, như là kết quả của nỗ lực để khẳng định sự độc lập của bà đối với người mẹ. Ở bài viết khác, bà đã nối kết chứng bệnh này với cái chết của người chị, một sự kiện đã xảy ra trước khi bà sinh ra đời. Trong mùa thu của năm học lớp 12 tại Trường Trung Học George W. Hewlett High School, tại thành phố Hewlett, tiểu bang New York, bà đã bắt đầu điều trị theo phân tâm học. Vài tháng sau đó, bà đã nghỉ học để tập trung vào sự phục hồi, dù vậy bà vẫn tối nghiệp vào năm 1961. Với quyết định đó, bà đã viết rằng, “Tôi hiểu rằng vào lúc đó tôi sắp chết. Điều tôi biết một cách rõ ràng, trực quan hơn, là tôi không muốn chết.” Bà đã trải qua 7 năm sau đó để điều trị, mà bà tin là đã giúp bà vượt qua cơn bệnh và dạy bà cách suy nghĩ.

Do bệnh tật, Glück đã không ghi danh học đại học toàn thời gian. Bà mô tả quyết định bỏ qua việc học đại học để điều trị là cần thiết: “… tình trạng cảm xúc của tôi, sự nghiêm ngặt hành xử thái quá và sự lệ thuộc điên rồ vào nghi thức đã làm cho việc học không thể thực hiện.” Thực tế, bà đã lấy lớp học về thơ tại Trường Cao Đẳng Sarah Lawrence College và, từ năm 1963 đến 1966, bà đã ghi danh vào lớp học làm thơ tại Trường Tổng Hợp của Đại Học Columbia University, nơi đã cung cấp chương trình học vị cho những sinh viên không truyền thống. Trong khi ở tại đó, bà đã học với Léonie Adams và Stanley Kunitz. Bà đã ghi nhận các giáo viên này là những người cố vấn quan trọng trong việc bà phát triển như một nhà thơ.
 
Sự nghiệp văn chương
 
Sau khi rời trường Columbia không có bằng cấp, Glück đã sống bằng nghề một thư ký. Bà kết hôn Charles Hertz Jr. vào năm 1967. Cuộc hôn nhân đã chấm dứt trong ly dị. Vào năm 1968, Glück xuất bản tuyển tập thơ đầu tiên của bà, “Firstborn,” mà đã nhận được một số quan tâm phê bình tích cực. Tuy nhiên, rồi bà trải qua thời gian dài ngưng viết lách, chỉ là để chữa trị, theo bà cho biết, sau năm 1971, khi bà bắt đầu dạy thơ tại Trường Goddard College ở Vermont. Những bài thơ mà bà đã làm trong thời gian này được tuyển lựa in trong cuốn sách thứ hai của bà, “The House on Marshland” vào năm 1975, mà nhiều phê bình đã xem đó như là tác phẩm đột phá của bà, dấu hiệu “khám phá của một dòng thơ đặc biệt” của bà.

Khoi Nguyen Nobel Van Chuong 02a

Khôi nguyên Nobel Văn Chương 2020 Louise Glück.

(www.commons.wikimedia.org)


Vào năm 1973, Glück đã sinh người con trai tên là Noah, với người bạn trai John Dranow, một tác giả đã bắt đầu chương trình viết văn mùa hè tại Trường Goddard College. Năm 1977, bà và Dranow đã kết hôn. Năm 1980, Dranow và Francis Voigt, chồng của nhà thơ Ellen Bryant Voigt, đồng sáng lập trường tư nhân New England Culinary Institute, là một trường đại học làm kinh doanh. Glück và Bryant Voigt là những người đầu tư sớm nhất vào trường này và phục vụ trong ban giám đốc của trường.

Trong năm 1980, tuyển tập thơ thứ ba của Glück là cuốn “Descending Figure” đã được xuất bản. Thi phẩm này đã nhận được một số phê bình về âm điệu và chủ đề: thí dụ, nhà thơ Greg Kuzma cáo buộc Glück là “người thù ghé trẻ em” vì tuyển tập thơ đã được phổ biến rộng rãi hiện nay của bà, “The Drowned Children.” Tuy nhiên, trên đại thể, thi phẩm này được đón nhận tốt. Cùng năm này, một trận hỏa hoạn đã thiêu hủy căn nhà của Glück tại Vermont, khiến cho bà mất hết tất cả tài sản.

Ý thức được bi kịch đó, Glück đã bắt đầu làm thơ mà sau đó đã được in trong tuyển tập thắng giải của bà, “The Triumph of Achilles” vào năm 1985. Viết trong báo The New York Times, tác giả và nhà phê bình Liz Rosenberg mô tả tuyển tập thơ này như là “rõ hơn, trong hơn, và sắc nét hơn” tác phẩm trước của Glück. Nhà phê bình Peter Stitt thì viết trong báo The Georgia Review tuyên bố rằng tuyển tập thơ này đã cho thấy Glück nằm trong “số những nhà thơ quan trọng của thời đại chúng ta.” Từ tuyển tập, bài thơ “Mock Orange,” được xem là bài ca nữ quyền, được gọi là một “mảnh tuyển tập” vì nó thường xuyên xuất hiện trong các tuyển tập thơ và các khóa học đại học.

Năm 1984, Glück làm giảng viên cao cấp trong Phân Khoa Anh Ngữ của Đại Học Williams College tại tiểu bang Massachusetts. Năm sau đó, cha bà qua đời. Sự mất mát này thúc giục bà khởi sự làm tuyển tập thơ mới, “Ararat” vào năm 1990, tựa đề của tuyển tập nói đến ngọn núi trong câu chuyện về lũ lụt của Sáng Thế Kinh. Viết trong báo The New York Times vào năm 2012, nhà phê bình Dwights Garner gọi tuyển tập này là “cuốn sách chứa đầy đau đớn và buồn rầu của thi ca Mỹ đã được xuất bản trong vòng 25 năm qua.” Sau tuyển tập thơ này, Glück đã cho ra một trong những cuốn sách nổi tiếng và được đánh giá cao nhất là cuốn “The Wild Iris” vào năm 1992, mà trong những bài thơ của tuyển tập, mô tả những bông hoa trong vườn trong cuộc đối thoại với người làm vườn và một thiên thần về bản chất của cuộc đời. Nhà xuất bản Weekly tuyên bố đó là một “cuốn sách quan trọng” cho thấy “vẻ đẹp tuyệt vời của thơ.” Nhà phê bình Elizabeth Lund, viết trong báo The Christian Science Monitor, cho rằng tuyển tập thơ đó là “một tác phẩm quan trọng.” Tuyển tập này đã đưa bà nhận Giải Thưởng Pulitzer vào năm 1993, tạo dựng danh tiếng của Glück như là một nhà thơi Mỹ lỗi lạc.

Khoi-Nguyen-Nobel-Van-Chuong-03

Hình bìa tuyển tập thơ “The Wild Iris” của nhà thơ Louise Glück. 


Trong thập niên 1990s Glück đã thành công về văn học, nhưng cũng là thời kỳ khó khăn của cuộc sống cá nhân. Hôn nhân của bà với John Dranow đã gãy đổ trong ly dị, bản chất khó khăn đã ảnh hưởng vào mối quan hệ kinh doanh của họ, đưa đến kết quả là việc Dranow rời bỏ chức vụ của ông tại Viện New England Culinary Institute. Glück đã truyền trải kinh nghiệm của bà vào việc sáng tác, vào một thời kỳ sung mãn của sự nghiệp của bà. Vào năm 1994, bà xuất bản tuyển tập tiểu luận có tên “Proofs & Theories: Essays on Poetry” [Chứng Minh và Lý Thuyết: Các Tiểu Luận Về Thơ]. Rồi sau đó bà xuất bản tuyển tập thơ về bản chất của tình yêu và sự suy sụp của một hôn nhân có tên “Meadowlands” vào năm 1996. Tiếp theo bà cho ra đời 2 tuyển tập khác là “Vita Nova” vào năm 1999 và “The Seven Ages” vào năm 2001.

Vào năm 2004, phản ứng với cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, Glück xuất bản một bài thơ dài như một cuốn sách có tựa đề “October.” Được chia ra làm 6 phần, bài thơ dựa trên thần thoại Hy Lạp để khám phá các khía cạnh của chấn thương và đau khổ. Cùng năm đó, bà đã được vinh danh trong chương trình Rosenkranz Writer in Residence – là chương trình mang các tác giả, nhà phê bình, nhà viết kịch, ký giả, nhà viết biên kịch, nhà viết tiểu luận và bình luận xã hội -- tại Đại Học Yale.

Kể từ khi tham gia giảng dạy tại Đại Học Yale, Glück đã tiếp tục xuất bản thơ. Các cuốn sách của bà được xuất bản trong thời kỳ này gồm “Averno” năm 2006, “A Village Life” năm 2009, và “Faithful and Virtuous Night” năm 2014. Vào năm 2012, việc xuất bản tuyển tập các bài thơ giá trị của bà trong nửa thế kỷ, có tên “Poems: 1962-2012,” được gọi là “một sự kiện văn học.” Tuyển tập các tiểu luận khác của bà có tên “American Originality” đã xuất hiện vào năm 2017.
 
Cõi thơ của Glück
 
Glück nổi tiếng với lời thơ có độ chính xác ngôn ngữ và giọng điệu khắc khổ. Nhà thơ Craig Morgan Teicher đã mô tả bà như là một nhà thơ “kiệm lời, khó nuốt, và không phung phi.” Học giả Laura Quinney đã cho rằng việc bà sử dụng cẩn thận chữ nghĩa đã đẩy Glück vào “hàng của những nhà thơ Mỹ là những người tạo giá trị sự cô đọng chữ nghĩa dữ dội,” từ Emily Dickinson tới Elizabeth Bishop. Thơ của Glück hiếm khi sử dụng vần điệu, thay vì vậy thơ bà dựa vào sự lập lại, câu thơ vắt dòng, và những kỹ thuật khác để tạo vần điệu.

Nhiều học giả và nhà điểm sách đã thảo luận phải chăng nhà thơ Glück được đánh giá đúng như là nhà thơ riêng tư, vì nợ đối với việc sử dụng ngôi thứ nhất phổ biến trong thơ của bà và chủ đề riêng biệt của chúng, thường được cảm hứng bởi các sự kiện trong đời tư của Glück. Học giả Robert Baker, trong bài “Versions of Ascesis in Louise Glück's Poetry,” cho rằng Glück “chắc chắn là nhà thơ riêng tư trong một vài ý nghĩa cơ bản,” trong khi nhà phê bình Michael Robbins, trong bài “The Constant Gardener: On Louise Glück,” thì lại bảo rằng thơ của Glück, không giống thơ của các nhà thơ riêng tư như Sylvia Plath hay John Berryman, “tùy thuộc vào sự hư cấu của sự riêng tư.” Nói cách khác, bà không thể là nhà thơ riêng tư, theo Robbins, nếu bà không nói với khán giả. Thêm nữa, Quinney cho rằng, đối với Glück, thơ riêng tư là “đáng ghét.” Những người khác nói rằng thơ của Glück có thể được xem như là tự truyện, trong khi kỹ thuật sử dụng thần thoại và nhiều cá tính sống khác nhau làm cho thơ bà còn hơn là những riêng tư.

Khoi Nguyen Nobel Van Chuong 04

Hình bìa tuyển tập thơ đầu tay “Firsborn” của nhà thơ Louise Glück.

( www.biblio.com


Trong khi tác phẩm của nhà thơ Glück có chủ đề đa dạng, các học giả và nhà phê bình xác định nhiều chủ đề quan trọng. Nổi bật nhất, có thể nói thơ của Glück tập trung vào sự chấn thương, khi bà đã viết qua suốt sự nghiệp văn chương của bà về cái chết, sự mất mát, sự từ chối, sự thất bại của các mối quan hệ, và các nỗ lực điều trị và sự đổi mới. Học giả Daniel Morris, trong tác phẩm “The Poetry of Louise Glück: A Thematic Introduction,” cho rằng ngay dù thơ của Glück sử dụng hạnh phúc truyền thống hay hình ảnh bình dị cũng “cho thấy sự tỉnh thức của tác giả về cái chết, về sự mất mát vô tội.”

Mối quan hệ giữa sức mạnh đối kháng của cuộc sống và cái chết trong tác phẩm của Glück cho thấy chủ đề thông thường khác của bà: sự ước muốn. Nhà thơ Glück thường viết rõ về nhiều hình thái của ước muốn – thí dụ, ước muốn yêu và để ý, ước muốn minh mẫn, hay ước muốn khả năng truyền đạt sự thật – nhưng sự tiếp cận của bà đối với ước muốn được đánh dấu bởi sự mâu thuẫn. Học giả Morris, trong tác phẩm nói ở trên, cho rằng thơ của Glück, mà thường theo quan điểm trái ngược, phản ảnh “mối quan hệ mâu thuẫn của chính bà với thân phận, quyền lực, cái chết, giới tính, và trên tất cả là ngôn ngữ.” Nhà văn Robert Boyer, trong tác phẩm “Writing Without a Mattress: On Louise Glück,” đã mô tả sự mâu thuẫn của Glück đối với ước muốn như là kết quả của “sự tự tra vấn kịch liệt.” Ông cho rằng “thơ của Glück ở chỗ tốt nhất là thường di chuyển giữa sự chùn lại và khẳng định, trực giác và phản ảnh… đối với một nhà thơ là người có thể thường có vẻ tầm thường và không ảo tưởng một cách bướng bỉnh, bà đã phản ứng mạnh mẽ trước sự lôi cuốn của sự kỳ diệu hàng ngày và sự trỗi dậy đột ngột của cảm xúc chế ngự.” Sự căng thẳng giữa những ước muốn xung đột nhau trong tác phẩm của Glück thể hiện cả trong sự giả định về các cá tính khác nhau từ bài thơ này sang bài thơ khác trong các tiếp cận khác nhau của bà đối với mỗi tuyển tập thơ của bà. Điều này đã khiến cho học giả James Longenbach, trong bài viết “Louise Glück's Nine Lives,” cho rằng “sự thay đổi là giá trị cao nhất của Louise Glück” và “nếu sự thay đổi là điều bà khao khát nhất, thì nó cũng là điều bà chống lại nhất, là điều khó khăn nhất đối với bà, là sự chiến thắng vất vả nhất.”

Chủ đề thơ khác của Glück là thiên nhiên có mặt trong nhiều bài thơ của bà. Nổi tiếng nhất là trong “The Wild Iris,” những bài thơ mô tả trong một khu vườn nơi những đóa hoa có tiếng nói thông minh, cảm xúc. Tuy nhiên, học giả Morris cho thấy rằng tác phẩm “The House on Marshland” cũng quan tâm đến thiên nhiên và có thể được đọc như là đọc lại của truyền thống Lãng Mạn của thơ thiên nhiên.  Trong tác phẩm “Ararat” cũng vậy, “hoa trở thành ngôn ngữ của buồn bã,” hữu ích cho việc tưởng niệm và cạnh tranh giữa những người buồn rầu để xác định “quyền sở hữu của thiên nhiên như là một hệ thống biểu tượng ý nghĩa.” Như thế, trong tác phẩm của Glück thiên nhiên là điều gì đó được xem là quan trọng và chấp nhận. Như nhà văn và nhà phê bình Alan Williamsion, trong tác phẩm “On Louise Glück: Change What You See,” chỉ ra rằng đôi khi nó cũng có thể cho thấy sự tuyệt diệu, như khi, trong bài thơ “Celestial Music,” người diễn thuyết nói rằng “khi bạn yêu thế giới thì bạn nghe nhạc trời,” hay khi, trong “The Wild Iris,” thiên thần nói qua những thay đổi thời tiết.
 
Đọc vài bài thơ của Glück
 
Sau đây xin trích dịch một vài bài thơ của nhà thơ Louise Glück để cống hiến cho độc giả. Trước hết là bài “The Red Poppy” [Đóa Anh Túc Đỏ]. Bài thơ này xuất hiện đầu tiên trong tuyển tập thơ “The Wild Iris” của nhà thơ Glück được Nhà Xuất Bản Ecco Press ấn hành vào năm 1992.
 
Đóa Anh Túc Đỏ
 
Điều tuyệt vời
là không có
phiền lòng. Những cảm giác:
ồ, tôi có những thứ đó; chúng
điều khiển tôi. Tôi có
chúa trên trời
gọi là mặt trời, và mở ra
cho ông, cho ông thấy
ngọn lửa trong trái tim tôi, lửa
như sự hiện hữu của ông.
Điều gì có thể vinh quang như thế
nếu không là trái tim? Ồ, các anh chị em của tôi,
phải chăng đã có lần yêu thích tôi, lâu lắm rồi,
trước khi bạn làm người? Bạn đã
cho phép mình
một lần mở ra, rồi sẽ không bao giờ
mở lần nữa? Bởi vì trong sự thật
Tôi đang nói bây giờ
là cách các bạn làm. Tôi nói
bởi vì tôi tan nát.
 
Bài thơ thứ hai xin trích dịch là bài “The Wild Iris” [Hoa Diên Vĩ Hoang Dại] của nhà thơ Louise Glück. Theo www.en.wikipedia.org, bài thơ này cũng là tựa đề của tuyển tập thơ “The Wild Iris” của Louise Glück. Qua tuyển tập này bà đã nhận được Giải Thưởng Pulitzer cho thể loại Thơ vào năm 1993. Cuốn sách này cũng đã nhận được Giải Thưởng William Carlos Williams Award của Hội Thơ Mỹ. Nhà Xuất Bản Weekly gọi tuyển tập thơ này là “khát vọng và độc đáo” và ca ngợi “sự kỳ lạ lặng thinh, đầy uy vũ” của nó.
 
Hoa Diên Vĩ Hoang Dại
 
Vào lúc tôi hết đau khổ
có cánh cửa.
Tôi nghe bên ngoài: đó là điều bạn nói cái chết
tôi còn nhớ.
Trên đầu, ồn ào, những cành thông chuyển động.
Rồi chẳng có gì. Mặt trời nhợt nhạt
nhấp nháy trên mặt hồ khô.
Thật là khủng khiếp để sống
khi còn ý thức
bị chôn trong lòng đất tối tăm.
Rồi chấm dứt: đó là điều bạn lo sợ, là
một tâm hồn và không thể
nói, kết thúc đột ngột, mặt đất cứng
cong lại một chút. Và điều tôi nghĩ là
những con chim nhảy nhót trong những bụi cây thấp.
Bạn là người chẳng nhớ
thông điệp từ thế giới khác
tôi nói với bạn rằng tôi có thể nói lại: bất cứ gì
trở lại từ sự lãng quên trở lại
để tìm tiếng nói:
từ giữa cuộc đời tôi đến
một suối nước tuyệt trần, màu xanh thẳm
che bóng lên mặt nước biển xanh.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày 11 tháng 11 năm 2020 là sinh nhật thứ 199 năm của nhà văn và triết gia người Nga Fyodor Dostoevsky [sinh ngày 11 tháng 11 năm 1821]. Các tác phẩm văn học của ông đã khám phá tâm lý con người trong bầu không khí chính trị, xã hội và tâm linh bất an của xã hội Nga vào thế kỷ thứ 19, và liên hệ tới nhiều chủ đề triết học và tôn giáo, theo www.en.wikipedia.org Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông gồm “Crime and Punishment” [Tội Ác và Hình Phạt – xuất bản năm 1866], “The Idiot” [Người Ngốc – xuất bản năm 1869], “Demons” [Ma Quỷ - xuất bản năm 1872], và “The Brothers Karamazov” [Anh Em Karamazov – xuất bản năm 1880]. Các tác phẩm của ông đã được đọc không những tại Nga mà còn khắp nơi trên thế giới và đã ảnh hưởng rất nhiều nhà văn và triết gia về sau như các nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn và Anton Chekhov, các triết gia Friedrich Nietzsche của Đức và Jean-Paul Sartre của Pháp và sự trỗi dậy của Chủ Nghĩa Hiện Sinh và Trường Phái Tâm Phân Học Freud. Các tác phẩm của ông đã được dịch
Ngày 21 tháng 11 năm 1620 hơn 130 di dân từ Anh Quốc đã vượt Đại Tây Dương đến Tân Thế Giới bằng chiếc thuyền Mayflower. Từ ngày đó đến nay, năm 2020, đã 400 năm. Trước đó, vào năm 1607, những người thực dân Anh cũng đã đến Tân Thế Giới và thành lập thuộc địa tại thành phố cổ Jamestown thuộc tiểu bang Virginia ngày nay.Đó là chưa kể đến làn sóng di dân trước đó khoảng 30,000 năm, khi những người ở cực đông bắc Châu Á đi bằng đường bộ qua ngả Alaska -- lúc đó hai đại lục Mỹ Châu và Á Châu vẫn chưa tách rời nhau vì nước biển cạn -- để rồi tràn xuống phía nam hình thành các cộng đồng người bản xứ, mà khi Columbus lần đầu tiên gặp họ ở Tân Thế Giới cứ tưởng là mình đã đến lục địa Nam và Đông Nam Á (Indies) nên gọi họ là người Indian. Vì vậy, nước Mỹ là vùng đất di dân. Không có di dân thì không có nước Mỹ. Chính di dân đã tạo ra nước Mỹ và nền văn hóa Mỹ. Nhưng ngày Lễ Tạ Ơn [Thanksgiving] có liên quan mật thiết đến những người di dân Anh đến Plymouth của Massachusetts bằng chiếc thuyền
Ni giới Việt Nam có một lịch sử truyền thừa lâu dài và đó là sự truyền thừa mang tính chính thống. Phật giáo Đại Thừa và tinh thần Bồ Tát đạo cũng thấm nhuần trong mỗi vị Ni trong bước chân hoằng hóa.
Cuốn sách ngôn từ đẹp và mạnh mẽ này thể hiện niềm tin của Barack Obama rằng, dân chủ không phải là một món quà từ trên cao rơi xuống mà là điều được hình thành dựa trên sự đồng cảm, thấu hiểu và chung tay xây dựng mỗi ngày.
Trong bài trước, khi viết cảm nhận cho thi tập “Xướng Họa Cao Mỵ Nhân & Trịnh Cơ,” vì thời gian có hạn, nên tôi chưa kể hết về Cao Mỵ Nhân (CMN) nhà thơ tiền bối mà tôi hằng kính trọng và khâm phục. Sau khi gửi bài đăng, đọc lại tôi cứ cảm thấy còn thiêu thiếu chút gì.
Nhân loại đã biết cách bay lên mặt trăng, tuy nhiên nhiều nơi trên địa cầu vẫn còn bị ràng buộc với những thói quen xưa cổ, trong đó một thành kiến khó rời bỏ là xem nhẹ phụ nữ. Hầu hết các tôn giáo cũng xem nhẹ phụ nữ. Riêng trong Phật Giáo, phụ nữ từ xưa vẫn có một vị trí đáng kính và bình đẳng trên đường học đạo, để tận cùng là thành tựu Niết Bàn. Khi vua Pasenadi nước Kosala không vui vì hoàng hậu Mallikà sinh một bé gái, Đức Phật trong Kinh SN 3.16 dạy vua rằng: "Này Nhân chủ, ở đời / Có một số thiếu nữ / Có thể tốt đẹp hơn / So sánh với con trai / Có trí tuệ, giới đức..." Hơn hai mươi thế kỷ sau, ý thức nữ quyền mới trở thành phong trào. Theo định nghĩa cô đọng và đơn giản, nữ quyền là niềm tin vào sự bình đẳng của nữ giới với nam giới về chính trị, kinh tế và văn hóa. Do vậy thường khi, nữ quyền gắn liền với dân quyền, vì bình quyền nam nữ dẫn tới ý thức bình quyền cho từng người dân, đặc biệt là nơi các dân tộc đang bị các nước thực dân thống trị, hay nơi các sắc tộc thiểu số
Daisetsu Teitaro Suzuki sinh ngày 11 tháng 11 năm 1870 và mất ngày 12 tháng 7 năm 1966 tại thành phố Kamakura, Nhật Bản, theo www.en.wikipedia.org. Có nơi nói ông sinh vào tháng 10, nhưng năm sinh của ông thì tất cả tài liệu đều giống nhau. Ông sinh ra tại Honda-machi, Kanazawa, Quận Ishikawa, Nhật Bản. Ông là người con trai thứ tư trong gia đình mà người cha là y sĩ Ryojun Suzuki. Pháp Danh Daisetsu của ông đã được Thầy Bổn Sư của ông là Thiền Sư Soyen Shaku [Thích Tông Diễn] ban cho. Thiền Sư Soyen Shaku cũng là người đầu tiên dạy Thiền ở Mỹ. Giai cấp võ sĩ đạo mà Suzuki được sinh ra đã suy tàn với sự sụp đổ của chế độ phong kiến, buộc mẹ của ông là nữ Phật tử Jōdo Shinshū đã nuôi dưỡng ông trong hoàn cảnh nghèo đói sau khi cha của ông qua đời. Khi ông đủ lớn khôn để suy nghĩ về số phận của mình được sinh trong bối cảnh này, ông bắt đầu tìm câu trả lời trong nhiều hình thức khác nhau của tôn giáo. Trí tuệ bén nhạy và sâu sắc tự nhiên của ông đã khó chấp nhận một số vũ trụ quan mà ông
Vâng. Tôi đã nhìn thấy chúng qua gương một dòng trong. Những viên cuội lấp lánh nắng mai. Những viên cuội lung linh trăng rằm. Phản chiếu mầu sắc tĩnh và động. Những viên cuội lắng vào thẳm sâu giấc mơ của dòng -dòng chữ long lanh- ánh lên những gửi gắm của thời gian.
Du Tử Lê: Nguyễn không chỉ có được cho mình một nội lực thi ca thâm hậu, một đam mê quyết liệt tới mức sẵn lòng đánh đổi mọi tiện nghi, may mắn (?) đời thường và, nhất là những thảm kịch, ngộ nhận mà Nguyễn đã trải qua tự những ngày thơ ấu tới hôm nay!...
Khi King lên ba tuổi, cha ông là Donald Edwin King đã bỏ gia đình đi biền biệt bằng một lời nói dối là “đi mua gói thuốc lá.” Mẹ ông, bà Nellie Ruth Pillsbury, đã một mình nuôi dưỡng King và người anh nuôi David, đôi khi họ đối diện với sự ngặt nghèo về tài chánh. Gia đình đã dời tới thị trấn quê nhà của Ruth ở Durham, Maine, nhưng cũng chỉ ở đó một thời gian ngắn rồi tới thị trấn Fort Wayne thuộc tiểu bang Indiana và rồi sau đó tới thị trấn Stratford của tiểu bang Connecticut. Khi còn bé, King chứng kiến một tai nạn kinh khủng và đó là một trong những người bạn của ông đã bị xe lửa cán chết trên đường rầy. Đã có người cho rằng điều đó có thể là cảm hứng cho những sáng tạo kinh dị của ông, dù King đã bác bỏ ý tưởng này.King đã học tại Trường Tiểu Học Durham Elementary School và Trường Trung Học Lisbon Falls High School.King đã bắt đầu viết từ khi ông còn nhỏ. Khi đi học ở trường, ông đã viết nhiều câu chuyện dựa vào các phim mà ông đã xem gần lúc đó và đã bán những chuyện này
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Mắt thường chúng ta có thể nhìn thấy bao xa?
Theo nhà dịch tễ học hàng đầu của Thụy Điển, hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy miễn dịch cộng đồng đang giúp nước họ chống lại Covid-19
Theo dự báo mới nhất của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), đại dịch Covid-19 sẽ gây thiệt hại lớn cho ngành hàng không toàn cầu trong giai đoạn 2020-2021.
Sau khi các hãng dược phẩm Mỹ và Anh lần lượt công bố kết quả thử nghiệm khả quan vaccine phòng Covid-19, Nga cũng tuyên bố sẽ bán vaccine Covid-19 với giá rẻ hơn và đặt mục tiêu sản xuất 1 tỷ liều trong năm 2021
Theo trang Financial Times, Facebook đang lên kế hoạch “lấy lòng” ông Biden bằng các chiến dịch tập trung vào Covid-19 và biến đổi khí hậu.