Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Ernest Hemingway Và Nỗi Cô Đơn Của Lão Ngư Ông

17/07/202000:00:00(Xem: 945)
 
Ngày 21 tháng 7 năm 2020 kỷ niệm sinh nhật thứ 121 của nhà văn người Mỹ Ernest Hemingway, theo www.en.wikipedia.org.

Trong diễn văn được thu âm và phát lại trong lễ trao Giải Nobel Văn Chương ngày 10 tháng 12 năm 1954, nhà văn Hemingway nói rằng, “Viết lách, tốt nhất, là sống cô đơn.”

Khoảng 100 năm trước đó, nhà văn người Mỹ Henry David Thoreau (1817-1862) đã viết rằng, “Tôi chưa bao giờ tìm thấy người bạn đồng hành thân thiết như sự cô đơn.”

Nhà văn Thoreau đã sống ẩn dật trong một túp lều ở Walden Pond tại tiểu bang Massachusetts để viết tác phẩm nổi tiếng “Walden” vào năm 1854. Nhà văn người Anh George Orwell (1903-1950) sống một mình trong túp lều trên đảo Hebridean của Tô Cách Lan để viết kiệt tác cuối đời của ông “Nineteen Eighty-Four” vào năm 1949. Trong khi nhà văn người Mỹ Mark Twain (1835-1910) thì sống trong túp lều ở góc vườn nhà ông và không cho ai vào đó.
Nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940) của Việt Nam đã có lần cảm nhận nỗi cô đơn trong một đêm mưa lạnh trong bài thơ “Một Cõi Quên”:
 
“Đêm ấy lại đêm thức với trăng
Mưa ngoài hiên lạnh ẩn dáng Hằng
Cô đơn! Ừ nhỉ, chừng quạnh quẽ
Đêm rất riêng mình – Một cõi quên!”
 
Cô đơn có lẽ là chất liệu sung mãn nhất cho sự sáng tác của những ngưởi cầm bút.

Khi viết, người cầm bút sống trọn vẹn trong thế giới của riêng mình. Họ không muốn bất cứ ai, bất cứ điều gì, bất cứ ngoại cảnh nào chi phối hay có thể lôi kéo họ ra khỏi cái thế giới sáng tạo đầy hứng thú mà họ đang bơi lội trong đó. Càng say mê viết họ càng lặn sâu vào cõi cô đơn. Nỗi cô đơn càng mãnh liệt bao nhiêu thì sự sáng tạo của người cầm bút càng độc đáo bấy nhiêu. Trong cô đơn cùng cực thì sự sáng tạo mới đủ sức để khai sinh ra được đứa con tinh thần độc đáo mang thể chất nguyên vẹn của chính nhà văn mà không phải là phó sản của bất cứ từ đâu khác.  

Ernest Hemingway là loại người như thế. Đặc biệt khi ông viết cuốn tiểu thuyết “The Old Man and The Sea” [Ông Lão và Biển Cả], mà ở VN trước năm 1975 hai nhà văn nữ Phùng Khánh và Phùng Thăng đã dịch sang tiếng Việt với tựa để “Ngư Ông và Biển Cả.”
 
Ernest Hemingway
 
Ernest Miller Hemingway sinh ngày 21 tháng 7 năm 1899. Ông là ký giả, tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn, và nhà thể thao.

HEMINGWAY 01

Hemingway trong lều của chiếc ghe Pilar của ông ở ngoài khơi bờ biển Cuba vào năm 1950.(nguồn: www.en.wikipedia.org)

Hemingway lớn lên tại thành phố Oak Park thuộc tiểu bang Illinois. Sau khi học xong trung học, ông làm phóng viên vài tháng cho tờ báo The Kansas City Star trước khi đi đầu quân làm tài xế xe cứu thương tại Chiến Trường Ý trong Thế Chiến Thứ Nhất. Vào năm 1918, ông bị thương nặng và đã trở về nhà. Kinh nghiệm chiến tranh đã hun đúc cho ông để viết cuốn tiểu thuyết “A Farewell to Arms” được xuất bản năm 1929.

Năm 1921, Hemingway lập gia đình với Hadley Richardson, là người vợ đầu trong số 4 bà vợ của ông. Họ tới Paris nơi ông làm phóng viên ngoại quốc và chịu ảnh hưởng của những nhà văn và nghệ sĩ hiện đại của cộng đồng tha hương “Thế Hệ Bị Mất” [Lost Generation] vào thập niên 1920s. Tiểu thuyết đầu tay của ông “The Sun Also Rises” được xuất bản vào năm 1926. Ông đã ly dị Richardson vào năm 1927 và lấy Pauline Pfeiffer; họ lại li dị sau khi ông trở về từ Cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha, nơi ông đã làm phóng viên. Từ kinh nghiệm đó ông viết cuốn “For Whom the Bell Tolls” được xuất bản vào năm 1940. Martha Gellhorn trở thành người vợ thứ ba của ông trong năm 1940; họ đã chia tay sau khi ông gặp Mary Welsh tại London trong Thế Chiến Thứ Hai. Ông đã cùng có mặt với các binh sĩ qua nhiệm vụ phóng viên trong cuộc đổ bộ Normandy và giải phóng Paris.

Hemingway sáng tác hầu hết các tác phẩm của ông từ giữa thập niên 1920s tới giữa thập niên 1950s, và ông đã đoạt được Giải Nobel Văn Chương vào năm 1954. Ông đã xuất bản 7 cuốn tiểu thuyết, 6 tuyển tập truyện ngắn, và 2 tác phẩm không hư cấu. 3 cuốn tiểu thuyết, 4 tuyển tập truyện ngắn, và 3 tác phẩm không hư cấu đã được xuất bản sau khi ông qua đời. Nhiều tác phẩm của ông được xem như là kinh điển của văn học Mỹ. Ông đã có ảnh hưởng rất lớn đến tiểu thuyết thế kỷ 20. Lối sống phiêu lưu và hình tượng trước công chúng của ông đã khiến cho nhiều thế hệ đi sau ngưỡng mộ ông.

Hemingway là cư dân thường trú tai thành phố Key West thuộc tiểu bang Florida trong thập niên 1930s và tại Cuba trong các thập niên 1940s và 1950s. Ông đã thoát chết sau 2 lần rớt máy bay trong nhiều ngày. Các tai nạn này làm cho ông đau đớn và bệnh hoạn trong thời gian sau này của cuộc đời ông. Vào năm 1959, ông mua căn nhà tại thành phố Ketchum thuộc tiểu bang Idaho, nơi ông tự tử chết vào giữa năm 1961.

Hemingway trở lại Ketchum vào tháng 4 năm 1961, ba tháng sau khi ra khỏi bệnh viện Mayo Clinic, khi Maray “phát hiện Hemingway cất một khẩu súng ngắn” trong nhà bếp vào một buổi sáng nọ. Cô đã gọi cho Saviers, người đã thuyết phục và đưa ông tới Bệnh Viện Sun Valley Hospital. Từ bệnh viện này sau đó ông đã được chở tới Mayo để điều trị thêm bằng điện. Ông đã được cho về vào cuối tháng 6 và đến nhà ở Ketchum vào ngày 30 tháng 6. Sau đó ông “đã cố tình” tự sát bằng khẩu súng ngắn mà ông ưa thích vào sáng sớm ngày 2 tháng 7 năm 1961. Ông đã mở cửa phòng chứa đồ ở tầng hầm nơi các khẩu súng của ông đã được cất giữ, rồi đi lên lầu tới trước tiền sảnh của ngôi nhà, và tự sát với “khẩu súng ngắn hai nòng mà ông đã rất thường sử dụng xem nó như là một người bạn,” theo www.en.wikipedia.org.
 
Hemingway phát biểu trong Lễ Trao Giải Nobel Văn Chương
 
Vào tháng 10 năm 1954, Ernest Hemingway đã được trao Giải Nobel Văn Chương. Ông đã nói với báo chí rằng Carl Sandburg, Isak Dinesen và Bernard Berenson còn xứng đáng hơn nhiều để nhận sự vinh danh này. Nhưng rồi ông bị trầm cảm và đang hồi phục từ 2 lần tai nạn máy bay liên tục kề cận với các chết. Ông đã quyết định không đến dự Đại Tiệc Nobel tại Tòa Thị Chánh của thành phố Stockholm vào ngày 10 tháng 12 năm 1954. Ông đã nhờ Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thụy Điển lúc đó là John C. Cabot đại diện cho ông để đọc lời phát biểu nhận Giải Nobel. Nhưng đến giờ phút cuối, Hemingway đã thu âm lời phát biểu của ông để gửi tới Ủy Ban Nobel. Lời phát biểu được nghe như sau, theo www.brainpickings.org.

Không thuận tiện cho việc thực hiện lời phát biểu và không có tài diễn thuyết cũng như không có ưu thế của hùng biện, tôi muốn cảm ơn những vị điều hành của sự hào phóng của Alfred Nobel cho Giải Thưởng này.

Không có nhà văn nào là người biết những văn hào vĩ đại là những người đã không nhận được Giải Thưởng này có thể chấp nhận giải thưởng mà không bày tỏ sự khiêm tốn. Mọi người ở đây có thể tự lập danh sách theo nhận thức và lương tâm của mình.

Thật là điều bất khả để tôi nhờ vị Đại Sứ của quốc gia của mình đọc lời phát biểu mà trong đó một nhà văn đã nói hết mọi thứ trong trái tim của ông. Nhiều thứ có thể không rõ rang ngay lúc đó trong điều mà một người viết, và trong sự việc này đôi khi ông ấy lại may mắn; nhưng cuối cùng chúng hoàn toàn rõ ràng và bởi vì vậy và mức độ của sự kỳ diệu mà ông có ông sẽ sống mãi hay bị lãng quên.

Viết lách, tốt nhất, là sống cô đơn. Các tổ chức đối với những nhà văn làm giảm sự cô đơn của nhà văn nhưng tôi nghi ngờ có phải chúng cải thiện việc viết lách của ông ấy không. Ông ấy trưởng thành trong phạm vi công chúng khi ông ấy trút bỏ sự cô đơn và thường tác phẩm của ông ấy giảm giá trị. Khi ông ấy viết tác phẩm một mình và nếu ông ấy là một nhà văn đủ tốt thì ông phải đối diện với vĩnh cửu, hay mất hẳn nó, mỗi ngày.

Đối với một nhà văn thực sự mỗi cuốn sách phải là một sự khởi đầu mới nơi mà ông lại thử điều gì đó vượt quá mức thành đạt. Ông ấy phải luôn luôn thử điều gì đó đã chưa bao giờ được làm hay điều mà những người khác đã thử và đã thất bại. Rồi đôi khi, với sự may mắn lớn lao, ông ấy sẽ thành công.

Viết về văn học đơn giản biết bao nếu chỉ cần viết theo cách khác những gì đã được viết tốt. Đó là bởi vì chúng ta đã có những nhà văn vĩ đại như thế trong quá khứ đó là một nhà văn đã ra khỏi quá khứ nơi ông ấy có thể đi, đến nơi không ai có thể giúp ông ấy.

Tôi đã nói quá dài với một nhà văn. Một nhà văn thì nên viết những gì ông ấy phải nói và không nói điều đó. Một lần nữa tôi cảm ơn quý vị.
 
‘The Old Man and the Sea’
 
Tác phẩm “The Old Man and the Sea” là cuốn tiểu thuyết ngắn được Ernest Hemingway viết vào năm 1951 tại Cuba và được xuất bản vào năm 1952. Đây là tác phẩm lớn cuối cùng mà Hemingway đã xuất bản lúc ông còn sống. Đây là một trong những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông. Nó kể chuyện về Santiago, một ông già người Cuba vật lộn với một con cá khổng lồ trong Vịnh Stream ngoài khơi của Cuba.

HEMINGWAY 02

Hemingway trong lều của chiếc ghe Pilar của ông ở ngoài khơi bờ biển Cuba vào năm 1950.(nguồn: www.en.wikipedia.org)


Năm 1953, cuốn tiểu thuyết “The Old Man and the Sea” đã nhận được Giải Pulitzer cho Tiểu Thuyết, và Ủy Ban Nobel cho biết nhờ cuốn tiểu thuyết này mà họ quyết định trao Giải Nobel Văn Chương cho nhà văn Hemingway vào năm 1954.

“The Old Man and the Sea” kể về cuộc chiến đấu giữa một ông lão có tên Santiago và một con cá biển khổng lồ.

Câu chuyện bắt đầu với việc ông lão Santiago đã ra khơi đánh cá được 84 ngày mà chẳng bắt được con cá nào cả và điều đó được xem như là sự không may mắn. Ông rất không may bởi vì cậu bé mới học nghề là Manolin đã bị cha mẹ cấm đi ghe với ông thay vì đã được kể đi đánh cá với những ngư phủ thành công. Cậu bé đến thăm túp lều của Santiago hằng đêm, kéo theo dụng cụ câu cá, chuẩn bị thức ăn, tán gẫu về môn dã cầu của người Mỹ và cầu thủ ưa thích là Joe DiMaggio. Santiago nói với Manolin rằng hôm sau ông sẽ ra khơi vào Vịnh Stream, phía bắc Cuba trong Eo Biển của Florida để đánh cá, tin rằng vận xui của ông sắp hết.

Vào ngày thứ 85 của vận xui của ông, Santiago giương buồm chiếc ghe nhỏ vào Vinh Stream, thả dây câu và đến trưa thì mồi câu của ông đã bị cắn bởi một con cá khổng lồ. Không thể kéo con cá khổng lồ vào, thay vì vậy Santiago đã bị con cá lớn này lôi đi, và 2 ngày đêm Santiago phải giữ sợi dây. Dù bị thương vì cuộc vật lộn và đau đớn, Santiago bày tỏ sự cảm kích đối với đối thủ của mình, thường coi hắn như người anh em. Ông ấy cũng xác định rằng, vì giá trị lớn lao của con cá, không ai xứng đáng được ăn con cá khổng lồ này.

Vào ngày thứ ba, con cá bắt đầu xoay tròn chiếc ghe nhỏ. Santiago, đã  mệt mỏi và gần như mê sảng, vận dụng hết sức bình sinh để kéo con cá vào cạnh chiếc ghe và dùng cây lao đâm con cá khổng lồ. Santiago lấy dây cột con cá vào cạnh ghe và giương buồm về nhà, nghĩ tới cái giá cao mà con cá sẽ mang lại cho ông ở chợ và biết bao nhiêu người ông sẽ cung cấp thịt của nó cho họ.

Trên đường vào bờ, những con cá mập bị hấp dẫn bởi máu của con cá khổng lồ tuôn ra. Santiago giết một con cá mập bự bơi nhanh với cây lao của ông, nhưng ông đã đánh mất vũ khí. Ông đã làm một chiếc lao mới bằng cách cột con dao vào cuối mái chèo để giúp chống đỡ đoàn cá mập kế tiếp. 5 con cá mập bị giết và nhiều con cá mập khác bị đuổi đi. Nhưng nhiều con cá mập khác tiếp tục tới, và khi đêm xuống những con cá mập gần như đã ăn sống toàn bộ thịt trên thân của con cá khổng lồ, chỉ để lại một bộ xương trơ chủ yếu là xương sống, đuôi và đầu của nó. Santiago biết rằng ông đã bị phá hoại và nói với những con cá mập rằng chúng đã giết chết ước mơ của ông. Khi về tới bờ trước bình minh của ngày hôm sau, Santiago còn vất vả với chiếc ghe của ông, vác cột buồm nặng trịch trên vai, bỏ lại cái đầu và bộ xương cá trên bờ biển. Khi về tới nhà, ông đã lăn ra giường và ngủ mê man.

Một nhóm ngư phủ tập họp lại vào ngày hôm sau quanh chiếc ghe nơi bộ xương của con cá vẫn còn. Một trong những ngư phủ đo con cá dài 5.5 mét từ mũi tới đuôi. Pedrico được cho cái đầu cá, và những ngư phủ khác bảo Manolin nói với ngư ông họ rất lấy làm tiếc. Các du khách ở quán cà phê gần đó đã tưởng lầm nó với con cá mập.

Cậu bé, lo lắng cho lão già, khóc khi tìm thấy ông ngủ an toàn và hai tay bị thương. Manolin mang đến cho ông những tờ báo và cà phê. Khi lão già thức dậy, họ hứa sẽ đi đánh cá với nhau một lần nữa. Khi ngủ trở lại, Santiago nằm mơ về thời tuổi trẻ của ông – về những con sư tử trên bãi biển Châu Phi.
 
Nỗi cô đơn của Hemingway trong “The Old Man and the Sea”
 
Một ông lão và một chiếc ghe nhỏ lênh đênh ngoài biển cả. Đó là hình tượng làm cho người ta nghĩ ngay tới sự cô đơn heo hút. Cảnh cô đơn và người cô đơn. Cảnh một ông lão ngồi trên một chiếc ghe nhỏ trên biển khơi gợi lên bức tranh cô đơn không thể tả. Ông lão ngồi một mình hiu quạnh trên chiếc ghe nhỏ ngoài biển cả cũng là hình ảnh cô đơn. Cái cô đơn của hoàn cảnh sẽ được nhân lên nhiều lần khi tâm trạng cô đơn của ông lão trải rộng ra với biển cả bao la. Cõi lòng cô đơn đối diện với hoàn cảnh cô đơn sẽ quyện vào nhau như cái bóng lẻ loi nhỏ bé của chiếc ghe rọi xuống lòng biển sâu không thấy đáy. Nhà văn Hemingway thật sự đã khéo vẽ bức tranh cô đơn ngay trong tựa đề cuốn tiểu thuyết của ông, “The Old Man and the Sea.”

HEMINGWAY 03

Ernest Hemingway (phải) và Henry ("Mike") Strater với phần còn lại 500 pounds của con cá khổng lồ được phỏng đoán nặng 1000 pounds (khoảng 450 kilogram) đã bị những con cá mập ăn mất một nửa trước khi con cá được đưa vào Bahamas vào năm 1935.(nguồn: www.en.wikipedia.org)

Người kể chuyện giới thiệu ông lão Santiago là một ông lão đi đánh cá một mình trên chiếc ghe nhỏ trong Vịnh Stream và đã tám mươi bốn ngày mà vẫn chưa bắt được con cá nào. Lẽ ra ông lão không phải đi đánh cá một mình, nhưng vì sau bốn mươi ngày không bắt được cá nên cậu bé theo ông học nghề là Manolin đã bị cha mẹ buộc đi theo chiếc ghe khác. Manolin là một cậu bé dễ thương. Cậu rất mực thương và lo lắng cho ông lão nên đã mang thức ăn đến cho ông mỗi ngày.

Nhưng khi ông lão quyết định đi vào Vịnh Stream để đánh cá thì ông không còn ai kể cả cậu bé Manolin. Sống một mình trên chiếc ghe nhỏ được trang hoàng với những thứ còn lại của người vợ qua đời, ông càng cảm thấy cô đơn hơn. Hemingway đã mô tả, 'Có một lần, một bức ảnh nhuốm màu của vợ ông ấy trên tường nhưng ông đã gỡ nó xuống vì nó khiến ông quá cô đơn khi nhìn thấy nó và nó nằm trên kệ dưới góc dưới chiếc áo sạch sẽ của ông’.

Thường, những ngư dân im lặng lúc đánh cá vì họ sợ làm cá bị động và không cắn mồi, nhưng kể từ khi cậu bé Manolin không đi theo ông, Santiago đã bắt đầu tự lẩm bẩm. Ông cũng biết rằng làm vậy những người khác sẽ nghĩ ông khùng nếu họ nghe ông lẩm bẩm. Nhưng có ai ở đó để nghe ông không. Chắc là không. Ông làm vậy để cố xua đuổi sự cô đơn đang vây bủa ông làm cho ông không chịu nổi.

Đến khi con cá khổng lồ cắn mồi, ông lão Santiago ước gì có cậu bé Manolin ở bên cạnh để giúp mình kéo nó lên ghe. Ông nghĩ, ‘Không ai đáng bị cô đơn lúc tuổi già. Nhưng thật khó tránh khỏi điều đó’. Khi đêm xuống và ông cũng vẫn chưa kéo được con cá khổng lồ vào ghe, Santiago ‘nhìn ra biển rộng bao la và cảm nhận được nỗi cô đơn của ông thấm thía đến cỡ nào’.

Trong cái cô đơn của Hemingway người ta còn thấy cái can đảm và mạo hiểm phi thường của ông. Nhưng có lẽ chính những đức tính ấy đã tạo nên vóc dáng dị thường của nhà văn Hemingway như ngôi sao bắc đẩu trong nền trời văn học Mỹ.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm năm sau, vào năm 1844, ông đăng bản dịch tiếng Anh một phẩm của Kinh Pháp Hoa. Đây là bản kinh Phật Giáo Đại Thừa đầu tiên xuất hiện trong Anh ngữ. Đặc biệt, bản dịch được xem là Phẩm Thứ Năm của Kinh Pháp Hoa. Phẩm này được dịch sang Hán văn là “Phẩm Dược Thảo Dụ” và trong tiếng Anh nó chỉ được dịch đơn giản là “Plants” [Cây Cỏ]. Phẩm Thứ Năm trong Kinh Pháp Hoa so sánh lời dạy của Đức Phật với cơn mưa rải xuống khắp mọi nơi và so sánh thính chúng của Đức Phật với các hạng thảo mộc lớn, trung bình và nhỏ. Ở đây Thoreau đã tìm thấy giáo lý tôn giáo đã được phô diễn qua việc mô tả về cây và cỏ. Thoreau đã dành 2 năm sau đó để sống độc cư trong rừng hoang cạnh Hồ Walden Pond tại thành phố Concord thuộc tiểu bang Massachusetts. Ở đó ông đã thực hành việc chiêm nghiệm thiên nhiên về điều mà ông đã đọc trong các sách về tôn giáo Ấn Độ -- đặc biệt Kinh Pháp Hoa nơi dạy con người ngồi trong rừng để chiêm nghiệm thực tại. Sự miêu tả của ông về thời gian ông sống nơi hoang vu, được phổ biến
Một nhà thơ khi sáng tác, thường là từ cảm xúc riêng. Có khi ngồi lặng lẽ nửa khuya, có khi lặng lẽ nhìn ra suối hay góc rừng, và có khi chợt thức dậy lúc rạng sáng và nhớ tới một vấn đề… Làm thơ là ngồi một mình với chữ nghĩa, đối diện trang giấy trắng và nhìn vào tâm hồn mình. Trên nguyên tắc, không ai làm thơ với “hai mình” hay nhiều người.
Bây giờ đống rác (theo Soko) chỉ còn lại đất và rêu. Lần này thì chắc chắn phải hốt, đổ đi rồi.
Nguyên ngồi lặng yên nhìn Yến. Nỗi thắc mắc về người đàn ông đứng nói chuyện với nàng vẫn còn là một ám ảnh dằng dai, ấm ức. Chàng thấy khó hỏi thẳng. Giá hắn ta cùng trạc tuổi chàng (hoặc lớn hơn, hoặc nhỏ hơn đôi chút) nhìn cách nói nói chuyện, chàng còn có thể đo lường được mức độ thân mật giữa hai người. Lại giá hắn ta cứ già như thế, nhưng có một bề ngoài bảnh bao, lịch thiệp, cử chỉ chững chạc, đàng hoàng, dầu sao cũng vẫn còn là một điều dễ chịu cho chàng trong việc ước đoán mối liên hệ tình cảm giữa nàng và hắn (nếu hắn thuộc hạng người như thế, Nguyên có đủ lý do để tỏ lộ mối nghi ngờ một cách thẳng thắn mà không ngại làm Yến phật lòng). Đằng này hắn không giống bất cứ người đàn ông nào vào loại đó để có thể nghi được là người tình của Yến. Mái tóc đã lấm tấm ít sợi bạc, bôi dầu bóng nhẫy, hai bên ép sát vào da đầu, lượn một cách rất khéo về phía sau. Nước da xanh mét như một người nghiện thiếu thuốc lâu ngày
Theo dòng thời gian, từ trước công nguyên cho đến nay, nhiều nước trên thế giới đã từng xảy ra nội chiến (civil war - chiến tranh trong nước), những cuộc nội chiến đó trong quá khứ thường được nhắc đến trong những bài học lịch sử. Lịch sử nước ta thời Đại Việt cũng trải qua vài giai đoạn như nội chiến Nam Bắc triều (1533-1677) giữa nhà Mạc và nhà Hậu Lê. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1775) giữa chúa Trịnh ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn ở miền Nam (Đàng Trong). Chiến tranh Tây Sơn - Chúa Nguyễn (1771-1785 và 1787-1802). Nguyễn Huệ (1753-1792) đánh Nam dẹp Bắc, lên ngôi Quang Trung Đại Đế nhưng chết khi còn trẻ, nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Phúc Ánh (1762-1820), tiến hành cuộc chiến, thống nhất sơn hà, năm 1802, lên ngôi Gia Long Hoàng Đế, quốc hiệu Việt Nam, chấm dứt cuộc nội chiến tranh kéo dài gần 270 năm.
Trăng 14 lẻn nhẹ vào thiền đường. Mắt khép hờ mà hành giả vẫn thấy rõ. Nhưng trăng ngây thơ, tưởng sẽ đùa như trẻ nhỏ khi vờn lên vạt áo tràng nâu làm hành giả giật mình, để trăng khúc khích cười. Thôi được, giả như không thấy mà tạo niềm vui thì có sao đâu, nhất là niềm vui này lại tặng ánh trăng, đối tượng tri kỷ thường cùng tọa thiền những đêm tĩnh lặng. Đêm nay 14 nên trăng tỏ. Vạt áo nâu loang loáng ánh trăng tưởng như đang muốn lao xao múa hát. Trăng và áo đồng lõa, lay động những ngón tay đang đặt lên nhau. Hương từ bụi dạ lý bên cửa sổ cũng nhập cuộc, cùng “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Tất cả chợt quyện vào nhau: Hành giả, trăng, hương dạ lý, cùng vỗ đôi cánh nâu, nhịp nhàng theo một cung bực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.