Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Ngày Chiến Sĩ Trận Vong Nghĩ Đến Người Chinh Phụ

22/05/202000:00:00(Xem: 1272)

NGAY CHIEN SI TRAN VONG 02
Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong Ở Hoa Kỳ. (nguồn: www.sofrep.com )

“Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,

Nước khe cơm ống gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,

Phận đã đành đạn lạc tên rơi.

Lập lòe ngọn lửa ma trơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.”

 

Đó là đoạn văn tế các chiến sĩ trong “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” của thi hào Nguyễn Du. Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của thi hào Nguyễn Du thường được đọc trong ngày Rằm Tháng Bảy với lễ chẩn tế thập loại cô hồn được tổ chức trong các Chùa trùng với Lễ Vu Lan.

Tại Hoa Kỳ, Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) năm nay 2020 nhằm vào Thứ Hai, 25 tháng 5. Đây là ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ được tổ chức vào Thứ Hai thuộc tuần lễ cuối của tháng 5 hàng năm. Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong để vinh danh và tưởng niệm các quân nhân Hoa Kỳ đã nằm xuống ngoài chiến trận.

Các chiến sĩ là những người hy sinh đời trai trẻ của họ để đi theo tiếng gọi lên đường bảo vệ tổ quốc quê hương hay bảo vệ chính nghĩa tự do và hòa bình trên thế giới. Các chiến sĩ có người đã lập gia đình có người còn độc thân. Những quân nhân độc thân khi ra sa trường thì có cha mẹ và anh chị em ở nhà thương tưởng chờ mong ngày về. Còn những chiến sĩ đã có gia đình khi ra chiến trường giết giặc thì có vợ con ở nhà trông ngóng đợi chờ.

Những người vợ của các chinh phu được gọi là những chinh phụ. Những chinh phu nơi chiến trận phải đối diện với bao hiểm nguy tai họa của đạn lạc tên rơi và sự sống chết của họ mỏng manh như ‘chỉ mành treo chuông’. Nhưng, những người chinh phụ ở nhà thì phải gánh chịu muôn vàn khổ lụy đè nặng lên đôi vai gầy yếu của người phụ nữ, từ trách nhiệm thay chồng lo cho gia đình và con cái đến nỗi đau vò xé tâm can khi mòn mỏi chờ mong ngày chinh phu trở về.

Hơn ai hết, người phụ nữ Việt Nam là những người thâm cảm sâu sắc nỗi đau của người chinh phụ, vì đất nước Việt Nam hầu như thời nào cũng có chiến tranh và những hệ quả của chiến cuộc. Trong chiến tranh, những chinh phụ đau đớn vì chồng còn nơi chiến trận không biết sống chết ra sao. Sau chiến tranh, như sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, những chinh phụ khổ sở vì chồng bị đẩy vào lao tù khổ sai của chế độ cộng sản. Những chinh phụ thời kỳ sau 1975 tại Miền Nam không những mất mát về tình cảm mà còn gánh chịu muôn vàn khốn khổ về vật chất.

Trong nền văn học Việt Nam, thân phận và tâm trạng của người chinh phụ đã được mô tả một cách thấm thía, mà nổi tiếng nhất là trong tác phẩm “Chinh Phụ Ngâm” do thi sĩ Đặng Trần Côn viết bằng Hán văn và nhiều bản dịch chữ Nôm được thực hiện bởi nhiều nhà thơ, trong đó bản dịch chữ Nôm của nữ thi sĩ Đoàn Thị Điểm là một tuyệt tác được lưu truyền rộng rãi nhất.
 
Về Chinh Phụ Ngâm
 
Theo Bách Khoa Từ Điển Mở Tiếng Việt, Chinh Phụ Ngâm có nhiều bản dịch bằng chữ Nôm theo thể thơ lục bát và song thất lục bát gồm các bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Phay Huy Ích, Nguyễn Khản, v.v... Bản dịch phổ biến nhất xưa nay theo thể song thất lục bát, dài 412 câu, có tên Chinh Phụ Ngâm Khúc Diễn Ca, được cho là của nữ thi sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1749), hay có người cho là của Phan Huy Ích (1751-1822), với tên Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca Tân Khúc.

NGAY CHIEN SI TRAN VONG 01
Hình minh họa Chinh Phụ Ngâm. (nguồn: www.theki.vn )

Nguyên tác Hán văn của Chinh Phụ Ngâm Khúc do thi sĩ Đặng Trần Côn sáng tác. Theo tài liệu được đăng trên trang mạng www.thanhxuan.gov.vnwww.vanhien.vn, thì năm sinh của Đặng Trần Côn vẫn chưa được xác định. Các tài liệu chỉ dựa vào những nhân vật mà ông có giao tiếp cùng thời như Ngô Thời Sỹ (1726-1780) và Đoàn Thị Điểm để phỏng đoán ông sinh vào khoảng 1707 và mất vào khoảng 1745, trước ở Hải Hưng sau về Hà Nội. Trong khi bà Đoàn Thị Điểm sinh vào năm 1705 và mất vào năm 1749, tại làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Các tác phẩm của Đặng Trần Côn đều bằng chữ Hán, Ngoài Chinh phụ ngâm khúc, còn nhiều tác phẩm như: Phủ Chưởng Tân Thư, Yêu Hưởng Thưởng Xuân Thiếp, Lãn Trai Di Thảo, Hạ Nguyễn Quý Hầu Cập Đệ Gia Môn Vinh Thịnh Tự và Đề Tiêu Tương Bát Cảnh Đồ Thi Thảo...

Bà Đoàn Thị Điểm, ngoài bản dịch Nôm của Chinh Phụ Ngâm còn viết tập Truyền Kỳ Tân Phả (chữ Hán), Nữ Trung Tùng Phận gồm 1401 câu thơ và bài Bộ Bộ Thiềm Thu Từ. Ngoài ra còn có một số bài thơ văn khác của bà (gồm chữ Hán, chữ Nôm) được chép trong tập Hồng Hà Phu Nhân Di Văn của tiến sĩ Nguyễn Kiều mới được phát hiện gần đây, theo Bách Khoa Từ Điển Mở Tiếng Việt.

Tương truyền rằng bà Đoàn Thị Điểm là một giai nhân tuyệt sắc lúc bấy giờ nên có rất nhiều đấng mày râu đến dạm hỏi xin cưới, nhưng bà chưa để ý đến ai. Trong lúc đó, Đặng Trần Côn là học trò của thân phụ của bà Điểm là cụ Đoàn Doãn Nghi. Côn nhỏ hơn bà Điểm hai tuổi lại đem lòng yêu thích bà, nên có lần đã đến dạm hỏi xin cưới bà. Bà Đoàn Thị Điểm sau đó đã nói với người quen rằng Đặng Trần Côn miệng còn hôi sữa, làm thơ còn chưa nên mà bày đặt chuyện vợ chồng.

Gã họ Đặng nghe vậy thì chạm lòng tự ái nên quyết chí rèn mài kinh sử và luyện thơ. Ông đã dốc chí bình sinh để viết Chinh Phụ Ngâm bằng Hán văn. Khi viết xong Chinh Phụ Ngâm, Đặng Trần Côn đưa cho Ngô Thời Sỹ đọc và được khen là văn tài kiệt xuất. Đặng Trần Côn cũng có đưa cho bà Điểm xem nhưng bà lúc đó chưa dịch liền.

Trong bài “Đặng Trần Côn - Nhân vật lịch sử nổi tiếng thời vua Lê – chúa Trịnh” đăng trong trang web www.vanhien.vn cho biết bà Đoàn Thị Điểm đến năm 1742 lúc đó bà đã 37 tuổi mới lấy chồng, chồng bà là Tiến sỹ Nguyễn Kiều, nổi tiếng hay chữ, nhưng đã góa vợ mới lấy Đoàn Thị Điểm. Nhưng vừa cưới bà Đoàn Thị Điểm xong thì Tiến sỹ Nguyễn Kiều theo lệnh của chúa Trịnh Doanh (1720 – 1767) và vua Lê Hiển Tông (1716 - 1786) lên đường sang Trung Quốc đi sứ nhà Thanh. Chuyến đi sứ này đã mất 3 năm Nguyễn Kiều mới về nước.

Có lẽ trong thời gian đó, tức là từ năm 1742 – 1745, Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn đã được sáng tác. Trong đó Đặng Trần Côn dùng nhân vật là  một phụ nữ có chồng đi xa bày tỏ tâm trạng nhớ thương chồng và mô tả tình cảnh đơn độc của mình. Điều này phù hợp với hoàn cảnh của bà Đoàn Thị Điểm nên bà đã dịch Chinh Phụ Ngâm từ chữ Hán ra chữ Nôm. Nhiều người khen bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm còn hay hơn bản Hán của Đặng Trần Côn. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi vì theo lẽ tự nhiên đọc bản chữ Nôm là đọc tiếng mẹ đẻ nên dễ cảm nhận được chữ nghĩa và tâm tình của tác phẩm hơn bản Hán. Tất nhiên, yếu tố chính vẫn là tự bản thân của bản dịch Nôm vốn đã hay từ lời tới ý thì người đọc mới cảm nhận được cái hay của nó.
 
Nỗi lòng người chinh phụ
 
Tình cảm mặn nồng của vợ chồng luôn luôn buộc chặt họ vào nhau như hình với bóng. Một khi vì hoàn cảnh bất đắc dĩ nào đó mà phải xa nhau thì bên nào cũng đau đớn nhớ nhung và mong chờ gặp lại.

Chinh Phụ Ngâm bắt đầu bằng việc người chồng nhận lệnh vua phải ra trận chiến đấu chống quân thù.
 
“Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.”
 
Và rồi:
 
“Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.”
 
Tình cảnh tử biệt sanh ly là nỗi đau da diếc nhất của đời người, đặc biệt là người chinh phụ khi tiễn đấng chinh phu lên đường.
 
“Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền.
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.”
 
Kẻ đi thì đi không đành và người tiễn thì cũng không muốn rời người yêu, nên cứ níu áo lần lựa không buông. Sợi dây tình ái vô hình vô tướng mà trói con người chặt đến không bứt ra nổi. Bởi vậy nhà thơ Nguyễn Công Trứ mới than “Cái tình là cái chi chi?”
 
“Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy.
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chành ý thiếp ai sầu hơn ai?”
 
Nhưng nỗi sầu lúc chia tay mới chỉ là khởi đầu của đoạn đường cô quạnh đau đớn đứt ruột dài thăm thẳm tiếp theo đó và có khi là cả đời người.
Đến đây, Chinh Phụ Ngâm mô tả bằng độc thoại tâm trạng của người chinh phụ nghĩ đến đấng lang quân đang xông pha nơi chiến trường xa xôi nào đó.
 
“Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này nghỉ mắt phương nao?
Xưa nay chiến địa dường bao,
Nội không muôn dặm xiết sao dãi dầu.
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon.
Ôm yên gối trống đã chồn.
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh.”
 
Nghĩ đến cảnh kẻ ở người đi trong lúc tình yêu còn bén lửa để cho ngày tháng chờ đợi nhạt phai hương sắc, người chinh phụ đau đớn thốt lên.
 
“Trang phong lưu đang chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan san để cách hàn huyên cho đành!
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ỷ nhi lại gáy trước nhà líu lo.”
 
Rồi ngày ngày ra trước sân để chờ ngóng tin chàng:
 
“Tin thường lại, người không thấy lại,
Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ.”
 
Nhưng chờ mãi mà không thấy bóng dáng chinh phu ở đâu. Người chinh phụ ngày càng nhớ thương bi lụy. Chinh Phụ Ngâm mô tả một cách tài tình và truyền cảm không thể tả tâm trạng sầu chất ngất của người chinh phụ cô đơn lẻ loi trong những lời độc thoại đau đớn nghe ra như xé nát tâm can. Trong hiện thực biết là không thể tìm gặp được chinh phu, người chinh phụ tìm chàng trong mộng.
 
“Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ,
Chua cay này, há có vì ai?
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề.
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn.
Duy còn hồn mộng được gần,
Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người.”
 
Mộng dù dài thì có lúc cũng phải tỉnh để thấy rằng, “Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không!” Khi tỉnh ra chinh phụ thấy chỉ có một tấm lòng son sắc với đấng lang quân là trường cữu. Và nàng nguyền giữ lấy tấm lòng đó cho đến khi chàng trở về. Lúc đó thì:
 
“Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
Xin vì chàng giũ lớp phong sương.
Vì chàng tay chuốc chén vàng,
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.
Giở khăn lệ, chàng trông từng tấm,
Đọc thơ sầu, chàng thấm từng câu.
Câu vui đối với câu sầu,
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.
Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
Sẽ ca dần ren rén đòi liên.
Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.”
 
Một kết cuộc có hậu. Dù thực tế chinh phu và chinh phụ vẫn chưa đoàn tụ, nhưng Chinh Phụ Ngâm đã mở được cái thắt gút buộc chặt tâm tình của chinh phụ trong bóng tối thê lương bi lụy nhất của đời người phụ nữ khi thương nhớ chồng ở phương xa mà không biết làm cách nào để gặp được. Nhờ thế, chinh phụ sẽ sống những ngày đợi chờ chinh phu trong tâm trạng lạc quan hy vọng.

Trong truyền thuyết dân gian Việt Nam cũng nói đến câu chuyện người phụ nữ bồng con đứng chờ đợi người chồng đi đánh giặt nơi biên cương mịt mù lâu quá mà hóa đá, nên có Hòn Vọng Phu.

NGAY CHIEN SI TRAN VONG 03

Nhạc sĩ Lê Thương và nhạc phẩm Hòn Vọng Phu.(nguồn: www.langmai.org )


Nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996) có nhạc phẩm Hòn Vọng Phu nổi tiếng trên 70 năm qua, vì ông sáng tác bài đó vào khoảng từ năm 1943 đến 1947, theo Bách Khoa Từ Điển Mở Tiếng Việt. Bản nhạc Hồn Vọng Phu, gồm 3 phần (Đoàn Người Ra Đi, Ai Xuôn Vạn Lý và Người Chinh Phu Về) của Lê Thương dường như ít có người Việt nào ở độ tuổi trên 50 mà không biết.
 
“…Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,
Vui ca xang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.
Người đi ngoài vạn lý quang sơn,
Người đứng chờ trong bóng cô đơn.
Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng.
Người không rời khỏi kiếp gian nan,
Người biến thành tượng đá ôm con…”

Ý kiến bạn đọc
25/05/202023:55:18
Khách
Mich Long tui "lựng bàn" chút xíu về văn thơ cổ :
"Chín LẦN gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh” (trích)
- "Cửu trùng" tiếng Hán Việt có nghĩa là chín lần, chín tầng, chín bậc. Là lối nói tượng trưng chỉ ông vua, đang ngự trên ngai vàng, vì ngôi vua được xây trên chín bậc thang.
- Tuy nhiên khi dịch sang tiếng nôm mà dịch theo kiểu...thẳng băng thành "chín LẦN" nghe ra dường như ý nghĩa của nó có vẻ hoàn toàn...trật lất.
- Nếu dịch như vậy chẳng khác gì cho rằng vị chinh phu này đã có tới...chín lần trong một đêm được nhận gươm báu của nhà vua trao cho ông ta để đi đánh giặc.
- Trong khi thật tế, theo câu thơ dịch, thì ông này được cái người ngồi trên chín bệ, tức là nhà vua giao cho gươm báu để "nửa đêm truyền hịch" đi đánh giặc liền, tức trong hai câu thơ này, ổng chỉ được có...một lần vua giao cho cái vụ "định ngày xuất chinh".
- Hai sự việc này hoàn toàn khác xa nhau. Sao lại có thể dịch là ông tướng quân này có...tới chín lần được trao gươm đi đánh trận cho được? Hahaha coi bộ thời này chắc loạn lạc dữ à nha...
- Ngày xưa nếu nhớ không lầm, tui có học qua câu này từng được dịch là:
"Chín TẦNG gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh”
- Từ "chín TẦNG" trên ngai, tức nhà vua trao gươm cho tướng quân đi đánh trận, nghe nó hợp lý hơn "chín LẦN" chứ, phải không ta?
- Có lẽ tác giả đã trích dẫn sai từ một bản dịch không chính xác?
- Ngoài ra nếu tra theo hai câu thơ từ Hán Việt bản gốc thì ý nghĩa của nó còn...trật lất hơn nữa, đó là:
"Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch
Bán dạ phi hịch truyền tướng quân"
- Tạm dịch, trong khi nhà vua đang "ăn nhậu" với cung phi mỹ nữ, bỗng nghe hung tin giặc kéo quân đến đánh, cho nên "ông dzua" mới:
"Vua liền chống kiếm đứng lên
Nửa đêm phát hịch, lệnh truyền tướng quân"
- Tức là mặc dù đang lúc nửa đêm, tổng thống ổng vẫn sai quân sĩ mang "công văn khẩn cấp" bảo đại tướng tổng tham mưu trưởng quân đội phải lập tức đến trình diện gấp để cùng tổng thống bàn phương mà đối phó. Chứ ổng chưa có giao gươm giao kiếm gì ráo cho cái ông đại tướng này để mà...định ngày xuất chinh.
- Nhưng khi dịch sang tiếng nôm thành ra là:
"Chín TẦNG gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh”
- Ta nghe tình tiết hai câu thơ có phải rất là nhịp nhàng, sướng tai, êm đềm, lưu loát?
- Hahaha tui bàn như vậy có hợp lẽ không quý vị?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi ngồi trong bóng tối trên một băng đá xa lạ của sân quần vợt. Gió thổi lồng lộng từ cửa biển. Tôi mân mê mảng thịt bong sau lưng. Xót như ai xát ớt chanh vào nơi thịt hở. Mãi đến bây giờ mới thấy đau. Nhớ đến một câu Kiều: “Dặm ngàn nước thẳm non xa, biết đâu thân phận con ra thế này.” Còn ai thèm đến thân phận mày mà than thở hả Phi. Tía tôi chết rồi. Một chuyến ra khơi. Bão dậy. Không ai về. Còn má tôi, đó là một người đàn bà hiếm có. Hơn năm mươi tuổi mà trông vẫn còn có nét lắm.
Sách thuộc loại song ngữ Việt Anh gồm 95 bài thi kệ thiền, dịch Việt bởi Thiền sư Thích Thanh Từ, Giáo sư Lê Mạnh Thát và nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn. Tác giả dịch sang Anh ngữ với lời ghi chú nơi mỗi bài. Đặc biệt bài 95 là bài phú khá dài của Vua Trần Nhân Tông, sáng tổ dòng Thiền Trúc Lâm, được trình bầy như là toát yếu đường lối tu hành của dòng thiền này, trong đó có bài thi kệ cuối nổi tiếng mà các nhà văn học, các văn nhân thi sĩ cũng như mọi người theo đạo Phật đều biết đến.
Phiên đại triều của Thiên Đình cứ trăm năm một lần kỳ này diễn ra trong bầu không khí thật hoang mang, mệt mỏi. Thái Bạch Kim Tinh nay đã già yếu lắm rồi. Cụ tâu trình quên trước quên sau khiến Ngọc Hoàng Thượng Đế chau mày rồi cũng phải thông cảm, khoát tay ra hiệu cho qua. Nam Tào, Bắc Đầu tai đã nghễng ngãng, gầy ốm hom hem, vầng trán nhăn nheo vì quá căng thẳng với chuyện của trần gian. Bà Lê Sơn Thánh Mẫu có lẽ nhờ Vườn Đào và biết sửa sang sắc đẹp cho nên trông vẫn trẻ. Thiên Lôi tuy còn khoẻ nhưng kể từ khi loài người chế ra cột thu lôi thì ông chỉ còn “ vớ ” được một vài người ngu ngơ chẳng may lang thang ngoài đồng ruộng trong lúc trời mưa gió.
Tập Kỷ yếu mà quý vị đang cầm trên tay là thành quả qua ba ngày làm việc của Đại Hội, đúc kết hầu hết những hình ảnh, văn kiện Đại Hội như danh sách Đại biểu, danh sách Hội Đồng Chứng Minh, Hội Đồng Giáo Phẩm, Hội Đồng Điều Hành, Hiến Chương, Nội Quy sinh hoạt của GH, Thư Chúc Mừng của các Giáo Hội Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và ba cấp Chính Quyền Úc Đại Lợi (Liên bang, Tiểu bang và Địa phương). Tập Kỷ Yếu cũng đăng tải thơ, văn, cảm niệm, tường thuật về kỳ Đại Hội, tường trình Phật sự của Văn Phòng Thường Trực của GH, các Tổng Vụ cũng như tiểu sử và hình ảnh của Tự Viện thành viên.
Nắng thật. Nắng lướt trên những tàu cau xanh mượt, rộn rã chói chang. Mặt sông Hương như có trăm ngìn mảnh chai vỡ lóng lánh, những ngôi nhà rải rác đọc đường tường cổng im lìm trong cái vẻ quan liêu rơi sót, những bụi tre xanh mát, những con đường nhỏ um tùm cây lá dẫn xuống bờ sông, thềm đá dưới mé nước... Tôi đã nghĩ thầm chàng thật thi sĩ, chàng vẫn có cách nói chuyện ví von rất duyên dáng và khả năng liên tưởng của chàng thật bén nhạy bất ngờ. Chàng thuộc nhiều thơ tiền chiến, biết nhiều về địa lý nước nhà cũng như nguồn gốc các di tích lịch sử, chàng thực tế trong công việc, nhạy cảm trước mọi hoàn cảnh và mơ mộng trong tình yêu. Đó là một người đàn ông có tâm hồn và biết liều lĩnh, biết ngoại tình. Sau đó, như cao hứng bởi cảnh trí thanh bình và tươi mát trước mắt, chàng luôn miệng ngâm thơ.
Nghe danh Nguyễn Đình Toàn từ hồi còn trong nước, nhưng mãi đến năm 2001, trong buổi triển lãm Chợ Sách Việt ở Quận Cam tôi mới gặp mặt nhà văn Nguyễn Đình Toàn và người bạn đời, chị Thu Hồng. Tôi ở xứ tuyết (Canada) ngót 40 năm, vào mùa đông trời đất lúc nào cũng lạnh lùng, tuyết giá nên tôi thèm nắng ấm. Qua Cali thấy Cali nắng đẹp tôi tíu tít xuýt xoa nhưng khi gặp chị Thu Hồng rồi thì nắng nào đẹp bằng nụ cười rạng rỡ trên gương mặt hồn nhiên của chị. Tôi thật lòng không nói quá đâu. Cũng tại Quận Cam, năm 2005, nhân buổi ra mắt tập nhạc và CD tình khúc PNT, tôi gặp lại tác giả Áo Mơ Phai. Năm 2006, Nguyễn Đình Toàn ra mắt tập Bông Hồng Tạ Ơn (I & II) viết về 190 Tác Giả & Ca Sĩ Việt Nam, trong đó tôi hân hạnh được ông nhắc tới và gởi tặng tôi hai tập bút ký này.
Tôi được quen biết nhà thơ Nguyễn Đức Sơn tức Sơn Núi hay Sao Trên Rừng qua bạn tôi, họa sĩ Đào Nguyên Dạ Thảo. Tuy nhiên tôi chưa từng gặp ông dù có thư từ qua lại, dù rất mến thơ của ông vì mỗi người một phương. Mới đây Dạ Thảo cho tôi biết hiện bệnh của ông đang trở nặng, tôi cảm thấy lo lắng nhiều đến sức khoẻ của ông. Tôi chỉ sợ không may thì …. Nếu đồi Phương Bối vắng bước chân ông, trăng Phương bối tìm đâu ra cái bóng đồng hành để cùng say khướt đổ nghiêng bên những gốc tùng xanh ngắt. Cây ổi đồi cao tìm đâu ra tên đạo chích ăn trộm nửa quả ổi rụng đã bị dòi ăn nửa kia?
Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn đã từ trần tại Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam vào lúc 3 sáng ngày 11 tháng 6 năm 2020 (giờ VN), theo Thi Viện cho biết. Theo Thi Viện, nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sinh ngày 18/11/1937 tại làng Dư Khánh, huyện Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận, quê gốc ở Thừa Thiên Huế. Ông bắt đầu làm thơ rất sớm với với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông được coi là một người có cá tính đặc biệt. Từ khi tuổi trẻ thơ ông đã chớm hoài nghi, đã thắc mắc về những câu hỏi đầy tính siêu hình. Nguyễn Đức Sơn cùng với Bùi Giáng và Phạm Công Thiện được coi là ba kỳ nhân nổi danh về tài năng và sự quái dị trong làng văn nghệ miền Nam trước 1975. Ông cũng được xem là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam, ba người còn lại là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.