Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc Sử Thi Người Tù: Hòn Đá Làm Ra Lửa

21/02/202000:00:00(Xem: 1132)
Tran Da Tu by CHOE
Trần Dạ Từ qua nét tranh sơn dầu của Chóe


Khi loài người phát minh ra lửa và sử dụng trong đời sống hàng ngày để nấu ăn, sưởi ấm và chống lại thú rừng cách nay hơn một triệu rưởi năm về trước là bước ngoặc lịch sử mở đầu cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu để nhân loại bước ra làm người, xây dựng nền văn minh và văn hóa ngày càng rực rỡ.

Nhưng đâu đó trong nhà tù cộng sản Việt Nam, nơi thế giới rừng rú hoang dã rợn người vào những năm cuối thế kỷ hai mươi, khi người tù sử dụng lửa từ hai hòn đá tạo ra để hun đúc ngọn lửa yêu thương, sức mạnh của nội tâm và ý chí sống mãnh liệt cũng là cuộc cách mạng thầm lặng, im lặng khác thường khiến cho chế độ với bản chất ồn ào, bạo động phải hoảng sợ.

 

“Anh ta đang bị sự im lặng vây hãm

Tội nghiệp anh ta. Anh ta hoảng

 

Bọn yên lặng ở đâu ra. Đông quá

Nó ra bằng quyển vở, ngòi bút, cục gôm

Bằng chéo khăn, tấm áo, manh quần

Bằng đôi đũa, quả trứng

Nó ra bằng đầu. Nó ra bằng bụng

Nó ra bằng mắt. Nó ra bằng tai

Bằng nén nhang, giọt lệ, nụ cười

Nó ra từ con người

Nó ra từ cuộc sống

Từ mặt đất. Từ bầu trời

Không ngớt. Không ngớt

Nó ra. Nó ra

 

Tội nghiệp anh ta

Yên lặng. Yên lặng.

Yêu lặng” (Trần Dạ Từ - Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Lửa từ hai hòn đá tạo ra là thứ vũ khí tự vệ linh nghiệm mà nhà thơ Trần Dạ Từ đã hà hơi và thổi sức để tự luyện nội lực mỗi năm, mỗi tháng, mỗi tuần, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút và mỗi giây trong suốt mưới năm ngồi tù dưới chế độ cộng sản Việt Nam chỉ vì cái tội không bản án liên quan đến thứ im lặng đáng sợ mà chế độ bạo hành phải hoảng kinh, đó là làm thơ.

 

“Thơ ta đó sao

Không, chỉ là tiếng thét gọi đầu tiên

Những toa tầu bật sáng trong đêm

Những tàn lửa vùng vẫy” (Trần Dạ Từ - Tựa Nhỏ)

 

Làm thơ, với nhà thơ Trần Dạ Từ chính là nói lên lẽ phải bằng tấm lòng yêu thương:

 

“Việc chúng ta: làm thơ và yêu nhau

Ta đâu biết làm việc gì khác

 

Đâu sẽ vô đó. Chẳng có gì đáng ngại

Lẽ phải sẽ phải là lẽ phải

Khi được nói bằng tấm lòng thương yêu

Được nghe bằng đôi tai tin cậy” (Trần Dạ Từ - Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Nhưng chế độ và nhà tù cộng sản không dùng tai để nghe lẽ phải mà dùng tai vách mặt rừng để theo dõi, để trấn áp và hành hạ tù nhân và dân lành. Một trong những phương thức hành hạ và kiểm soát tù nhân tàn bạo nhất đã trở thành “kinh điển,” “chính sách” của cộng sản là “cái đói.”

  

“Cái đói phát minh của thiên tài.

Nó là thứ gì vậy?

Tên nó, “Chính sách lương thực của Lenin”

Nó giản dị thôi:

Kinh nghiệm phản xạ có điều kiện

từ con chó của Pavlov

được tính toán, phối hợp lô gích cho con người

Sự co thắt dạ dày. Nước miếng. Tiếng kẻng

Cái đói thành vũ khí chuyên chế vô địch

Nó được tung, được hứng, được quảng cáo xôm tụ:

“Kiểm kê. Quản lý. Làm chủ”

 

Và nó vơ. Nó vét. Nó ban phát ơn huệ

Biến chén cơm, miếng bánh thành ma túy

Biến tiểng kẻng cho ăn thành lệnh của ma quỉ

Để khuất phục đồng loại” (Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Cái đói ở trong tù cộng sản kinh khủng đến độ những tù nhân đã phải tự nghiễn ra cách nấu nướng và ăn bằng miệng cho đỡ đói, như nhà thơ Trần Dạ Từ mô tả đầy kịch tính mà đau đớn khôn cùng:

 

“Anh này trổ tài làm cơm cháy vàng rực

Anh kia đang lựa vịt chọn gà

Anh khác nữa, cân đo gia vị

Hợp lại thánh bữa ăn thịnh soạn

Tha hồ mời bạn tù đánh chén

 

Không nước, không lửa, không củi

Không nồi, không gạo, không cả muối

Càng khỏe. Cần gì. Anh em nấu bằng miệng

Thưởng thức. Nhai nuốt. Bằng nước miếng

Tiêu hóa bằng chính xương thịt mình

 

Nước miếng ứa. Rớt nhãi chẩy. Kẻng ăn gõ

Nó đang gõ. Nó còn tiếp tục gõ

Gõ không ngừng. Gõ đây. Gõ đó”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Một phát minh khác của “thiên tài” cộng sản là cái kẻng gõ không chỉ có trong nhà tù mà còn có ở khắp nơi trong đất nước như nhà thơ Trần Dạ Từ đã mô tả một cách chi tiết và sống động nhưng nghe ra thì mỉa mai, cay đắng và bi đát làm sao:

 

“Nó là cái niềng bánh xe cũ phế thải

Có thể là mảnh đạn, là vỏ bom

Có nơi, như ở trại tù Z.30D,

nó là cái chuông đồng

Mang về từ ngôi chùa cổ nào đó bị cướp phá

 

Nó có dàn treo, có mái che

Sơn đỏ sơn xanh. Kẻ hầu người hạ

Nó lủng lẳng khắp nơi

Cổng tù. Cơ quan. Làng mạc. Thành phố

Nó được gõ. Bằng vồ. Bằng búa

 

Cẩn thận nghe em. Nó đang gõ

Nó gõ sáng. Gõ trưa. Gõ chiều

Rền rỉ những thể xác yếu đuối

Nó gõ tai bắt vểnh. Gõ mắt bắt nhắm

Gõ dạ dầy bắt cồn. Gõ gan ruột bắt cào

Gò khuỷu tay bắt tung hô

Gõ đầu gối bắt xì xụp

Gõ mồm miệng bắt hát, bắt hò

Bắt gào thét, nguyền rủa, đấu tố”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Ở trong cái thế giới đó, trong hoàn cảnh oan nghiệt đó, nếu không có thứ vũ khí là Hòn Đá Làm Ra Lửa thì làm sao sống nổi. Chỉ có chết thôi.

 

“Cây sậy chân tay quều quào của chúng ta

Có thể hết bưng nổi cái sọ dừa cứng đầu

Vũ chết hôm kia. Hồ chết hôm qua

Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa sắp chết

Sẽ đến lượt Lưu. Đến lượt Doãn. Đến lượt Lê!”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Theo ghi chú của nhà thơ Trần Dạ Từ, Vũ là Vũ Hoàng Chương; Hồ: Hồ Hữu Tường; Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa: Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hoạt, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyễn Viết Khánh; Lưu: Mặc Thu Lưu Đức Sinh; Doãn: Doãn Quốc Sỹ; Lê: Lê Hạ Vĩnh, tức Trần Dạ Từ.

Nhờ có lửa từ hòn đá làm ra, nhà thơ Trần Dạ Từ vẫn còn sống, vẫn gan lì để sống. Không những thế, từ ngọn lửa trong tâm làm trí ông sáng rực lên để nhận ra lẽ biến dịch tuần hoàn của vũ trụ và con đường “bất tận của dòng suối sinh nở” hay sinh tử luân hồi, nói theo nhà Phật.

 

“Có thể không còn. Cũng chẳng mất đi đâu

Dòng chảy nào không hao hụt, bốc hơi

Có thể chúng ta vẫn quanh quất đâu đó

Như bọt nước tung tóe reo vui

Nơi này. Nơi kia

Trong bước đi bất tận của dòng suối sinh nở”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Điều lạ là, trong câu thơ bình dị của nhà thơ Trần Dạ Từ ở trên, “Cũng chẳng mất đi đâu” lại nói lên trọn vẹn ý nghĩa siêu việt của Bát Nhã Tánh Không “bất tăng bất giảm.” Vì các pháp như bọt nước, vốn không có tự ngã, không có tự thể nên chúng không đến, không đi, không tăng, không giảm.

Khi nghĩ đến điều kỳ diệu này, nhà thơ Trần Dạ Từ đã tự tại mỉm cười:

 

“Và tôi mỉm cười

Thư thái hình ảnh em bước tới”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Dường như trên thế giới này chưa có bài thơ nào được một thi sĩ viết trong tù dài như bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa của nhà thơ Trần Dạ Từ, với gần bảy trăm câu, được in trong tuyển tập Thơ Trần Dạ Từ, do Việt Báo Foundation xuất bản vào tháng 11 năm 2018 tại California, Hoa Kỳ.

Theo nhà thơ Trần Dạ Từ cho biết, bài thơ này được ông làm trong những năm ông bị chính quyền CSVN bắt bỏ tù tại các trại tù Gia Trung năm 1979 đến trại tù Hàm Tân năm 1987, nghĩa là trải dài 8 năm tù. Điều đặc biệt của bài thơ này là vì ở tù CS nên nhà thơ Trần Dạ Từ không thể viết ra mà phải nhớ thuộc lòng trong đầu, cho đến khi ông và gia đình được chính phủ Thụy Điển can thiệp để CSVN trả tự do và cho đi định cư tại Thụy Điển thì bài thơ mới được ông viết ra thành chữ vào tháng 11 năm 1988 tại Thụy Điển. Bài thơ được đăng toàn phần lần đầu tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1989 trong Tạp Chí Văn do nhà văn Mai Thảo chủ biên. Bài thơ cũng đã được dịch sang tiếng Anh vào năm 1990 bởi Giáo Sư Cuong T. Nguyen, tại Đại Học George Mason University. Vào ngày 28 tháng 1 năm 1992, bài thơ này đã được nhà văn James Webb, Cựu Thượng Nghị Sĩ, Bộ Trưởng Hải Quân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ giời thiệu, và nữ tài tử Kiều Chinh, nhà báo Lê Đình Điểu và nhà thơ Trần Dạ Từ đọc tại Quốc Hội Hoa Kỳ ở Thủ Đô Washington.

Nhà thơ Trần Dạ Từ có lần kể rằng, mỗi ngày ông làm một số câu thơ và đã học thuộc lòng cả câu cũ lẫn câu mới. Cứ thế ông đọc thuộc lòng mỗi ngày tất cả những câu thơ này và vì vậy mới có thể nhớ và giữ được nguyên bài cho đến khi viết ra thành chữ.

Bài thơ Hòn Đá Làm Ra Lửa là một sử thi, một bản trường ca bi tráng của người tù Việt Nam, kể về thân phận đau thương, cuộc sống khổ lụy cùng cực, những cách đối xử tàn bạo và bất nhân trong nhà tù cộng sản, về nhân cách cao thượng và sự chịu đựng phi thường của tù nhân, về lòng nhân hậu và tình yêu thương như tia lửa không ngụm tắt của người tù cho dù sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã và bế tắc nhất của cuộc đời, của thời đại.

 

“Không thứ cờ quạt nào vấy nhơ nổi bầu trời

Không thứ chủ nghĩa nào bôi bẩn được trí nhớ” (Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Bởi vậy, dù đang bị giam trong tù ngục tối tăm của cộng sản, nhà thơ Trần Dạ Từ vẫn không đánh mất niềm tin vào tình yêu và đạo đức vô hình trên thế gian:

 

“Vẫn chẳng hề hấn gì

Nụ hoa tình yêu và đạo đức vô hình

Nở mãi trong vười ta

Ý nghĩ, sự ăn ở tốt lành, dù không ai biết đến

Vẫn lặng lẽ tỏa hương trong không gian

Làm đẹp bầu trời và mặt đất.”(Hòn Đá Làm Ra Lửa)

 

Xin cảm ơn nhà thơ, trong hoàn cảnh gông cùm, như bất cứ lúc nào, vẫn ung dung trấn an chúng ta: “Chẳng hề hấn gì. Chẳng hề hấn gì.”




Huỳnh Kim Quang

(Gia đình Việt Báo kính mừng anh Trần Dạ Từ 80 tuổi. Chúc nhà thơ của chúng ta nhiều sức khỏe, tâm vui thân an.)



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nhà văn Ngô Thế Vinh sinh năm 1941 tại Thanh Hoá, nguyên quán Hà Nội. Ông tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn năm 1968, từng là tổng thư ký rồi chủ bút báo sinh viên “Tình Thương” của trường Y khoa Sài Gòn từ 1964 tới 1967. Khi gia nhập quân đội VNCH, ban đầu Ngô Thế Vinh làm bác sĩ quân y của Liên đoàn 81 Biệt cách Dù. Sau đó ông đi tu nghiệp ngành Y khoa Phục hồi tại Hoa Kỳ, về nước ông làm việc tại Trường Quân Y Sài Gòn.
Nằm nhà rảnh rỗi suốt những ngày đại dịch Coronavirus Disease-2019 (COVID-19) hoành hành khắp nơi trên thế giới, tôi lại kệ sách lấy xuống cuốn tiểu thuyết La Peste của Albert Camus đọc lại, và sau khi đọc tôi bỗng giật mình vì những gì đang xảy ra quanh tôi ngày nay đã được Camus miêu tả thật chính xác cách đây trên 70 năm.
Nguyễn Du mất năm 1820, lúc 54 tuổi, giữa cơn dịch khủng kiếp từ Á sang Âu. Dịch tả phát xuất từ Ấ́n Độ sang nước ta cuối triều vua Gia Long, đầu triều vua Minh Mạng, có khoảng trên hai trăm ngàn người chết từ Bắc chí Nam, cơn dịch theo một người lính đi tàu từ Ấn Độ về cảng về đến Toulon nước Pháp gây truyền nhiễm làm tiêu hao phân nửa dân số Âu Châu thời bấy giờ.
Người ta nói, đại dịch đã đến rồi. Các công sở sẽ đóng cửa. Các con đường sẽ đóng bớt lại. Nhà hàng, rạp hát, những nơi vui chơi giải trí... tất cả đều phải đóng. Mỗi người hãy tự cách ly, đừng lang thang bên ngoài nữa. Một sẽ hại tất cả, và tất cả chung quanh cũng sẽ hại cho một. Mỗi cá nhân đều có liên hệ hỗ tương với gia đình và xã hội; tuy ly cách nhưng thực ra không ai tách rời khỏi thế giới. Mỗi người hãy tự ý thức vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc đời.
Tác giả không còn sống để bác sĩ Phân Tâm Học đặt những câu hỏi dẫn dắt liên tưởng tự do. Vì thế những gì viết về giấc mơ này hoàn toàn chỉ có tính giả thuyết dựa trên một số tài liệu liên quan đến những tình tiết trong mơ. Giấc mơ mà tác giả kể lại chính là nội dung mơ biểu hiện, xuất hiện dưới hình thức một câu chuyện. Nội dung mơ tiềm ẩn là bao nhiêu biến cố trong đời tác giả trải qua cho đến khi viết truyện này vào tháng 9 năm 1959.
Xin giới thiệu, tôi tên là Thừa. Tất nhiên, tôi không tự chọn tên cho mình. Đây là tên do ba tôi đặt. Ở đời, cái gì không cần thiết, người ta gọi là thừa. Khi đến Mỹ, buồn cảnh xất bất xang bang, chữ nghĩa cũng chán cảnh mang râu đội mũ, tôi được gọi là Thua. Từ ấy, tôi đâm ra không thích tên mình. Khi có trí khôn hiểu ra được mọi việc, chưa kịp thắc mắc tên mình với ba tôi thì ông đã chết. Ông chết vì lỡ sinh ra làm đàn ông trong thời chiến.
Họa sĩ Đinh Trường Chinh thuộc thế hệ họa sĩ “trẻ,” trưởng thành và định hình trong nghệ thuật ở hải ngoại những năm gần đây. Anh vẽ dễ dàng, sáng tác mạnh, luôn tìm tòi ý thức mới trong hội họa, nhạy bén trước các vấn đề xã hội và nhân sinh. Ý thức hội họa là điểm mạnh trong tranh của anh, người xem luôn luôn cảm nhận một ý tưởng rốt ráo nào đó, dù hiện thực hay siêu hình mang tính triết học. Ngoài vẽ, anh còn làm thơ, và cũng như tranh, thơ anh thấm đẫm tính trữ tình, đầy ắp những băn khoăn với cuộc sống bên trong một tâm hồn thơ mẫn cảm.
Nước Mỹ có bản Tuyên Ngôn Độc Lập tuyên dương quyền bình đẳng của con người từ buổi bình minh dựng nước vào hậu bán thế kỷ 18. Mỹ là nước đa văn hóa, đa sắc tộc nên cũng là nước có nhiều tự do, dân chủ và bình đẳng nhất thế giới. Năm 2008, nước Mỹ đã làm cả thế giới ngạc nhiên và thích thú vì lần đầu tiên trong lịch sử của Hiệp Chúng Quốc có một người Mỹ gốc Phi Châu làm Tổng Thống, Barack Obama. Nhưng tại sao mãi đến nay, năm 2020, nước Mỹ vẫn chưa có một nữ tổng thống? Từ Thực Tế Đời Thường Đến Văn Chương Chuyện phụ nữ muốn làm tổng thống Mỹ không phải là điều mới lạ chỉ xảy ra trong chừng mươi năm qua với những nữ ứng cử viên sáng giá như bà Hillary Clinton trong cuộc bầu cử năm 2016, hay trong cuộc vận động tranh cử tổng thống trong năm 2020 với 6 nữ ứng cử viên, mà là chuyện đã từng xảy ra trong quá khứ trên thực tế và trong văn chương hư cấu. Chuyện thực tế là vào năm 1872, Victoria Woodhull, nhà môi giới chứng khoán, chủ nhiệm báo, và cải cách xã hội, đã ra tranh cử
Bởi vậy, những người được yêu thường thích được mắng. Nhưng những người hay mắng chưa chắc đã hay yêu. Có khi thương đứt ruột mà không yêu. Cũng lạ. Cho nên, phân biệt được mắng có yêu và mắng không yêu là cốt lõi của đời người vậy.
Làm mới ngòi bút luôn luôn là nỗi ám ảnh lớn cho người chọn nghiệp văn. Nhưng có lẽ nỗi ám ảnh ấy đè nặng lên vai người làm thơ nhiều hơn người viết văn xuôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Điều gì tạo ra các màu sắc của Sao Thổ?
Một quan chức của WHO cho biết hôm thứ Ba (31/03/2020), đại dịch coronavirus (Covid-19) “còn lâu mới kết thúc” ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Một số thành viên phe cánh tả Brazil yêu cầu Tổng thống Bolsonaro từ chức vì hành vi cay độc và vô trách nhiệm, coi thường nhân mạng giữa cơn khủng hoảng đại dịch Covid-19.
Hôm thứ Hai (310/03/2020), thống đốc bang Illinois J.B. Pritzker cho biết chính quyền liên bang đã gửi tới một lô khẩu trang y tế thay vì khẩu trang N95 như họ đề nghị.
Trước tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và trì hoãn sản xuất do lệnh “ai ở yên đó” hiện nay, Apple có vẻ đã sẵn sàng để giai đoạn đầu của các sản phẩm mới rời khỏi khuôn viên của mình để phát triển tại nhà của các nhân viên.