Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Người Về Như Bụi -- tuyển tập tưởng niệm thi sĩ du tử lê

10/01/202000:00:00(Xem: 596)

NGUOI VE NHU BUI
39 tác giả cùng chia sẻ những cảm tưởng,
cảm nghĩ, cảm hoài, cảm niệm về thi sĩ DU TỬ LÊ [1942-2019]:

 

Thấm thoát mà sắp đến ngày “Bách Nhật” của thi sĩ Du Tử Lê (qua đời hôm 7/10/2019). Nhân dịp này, nhóm thân hữu của ông sẽ phát hành một tuyển tập lấy nhan đề là người về như bụi: tưởng niệm thi sĩ Du Tử Lê, do Văn Học Press ấn hành. Việt Báo hân hạnh giới thiệu tuyển tập đến quý độc giả bốn phương. Góp mặt trong tuyển tập có:

Cung Tích Biền - Nguyễn Thị Thanh Bình - Lê Phương Châu - Nhật Chiêu - Đinh Trường Chinh - Nguyễn Đức Cường - Võ Chân Cửu - Duyên - Khuất Đẩu - Lê Lạc Giao - Bùi Bích Hà - Lê Minh Hà - Phan Tấn Hải - Trần Yên Hòa - Tô Đăng Khoa - Đặng Mai Lan - Trần Vấn Lệ - Trần Thị Nguyệt Mai - Nguyễn Thị Khánh Minh - Đỗ Hồng Ngọc - Như Quỳnh de Prelle - Đỗ Quyên - Orchid Lâm Quỳnh - Hoàng Xuân Sơn - Phan Ni Tấn - Song Thao - Nguyễn Xuân Thiệp - Trịnh Thanh Thủy - Trịnh Y Thư - Vũ Hoàng Thư - Đỗ Quý Toàn - Xuyên Trà - Lê Giang Trần - Lý Kiến Trúc - Trần Mộng Tú - Nguyễn Đức Tùng - Hạnh Tuyền - Trần Dạ Từ - Nguyễn Lương Vỵ.

 

LỜI NGỎ CỦA NHÓM THỰC HIỆN

 

dù tôi hiu: sm, mun gì tôi cũng sbiến mt,

như nhng con gió nhnhvà, nhng ha hn êm đềm ca nhng đọt nng xanh, non.

đó là lúc chúng tôi sgp li nhau mt cõi nào khác. có thể đó là lúc tôi không kp cm ơn vcon, bng hu và rut tht xa, gn…

                                                                                          – Du Tử Lê

 

 

Những câu thơ trên – trích từ bài thơ không ai chọn được đúng đời mình in trong tuyển thơ em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình của cố thi sĩ Du Tử Lê, xuất bản năm 2019, thi phẩm cuối cùng của ông – không ai ngờ lại là lời tiên tri về cái chết của chính mình! Sự ra đi thật bất ngờ của nhà thơ, tối 7 tháng 10 năm 2019 vừa qua, đã để lại cảm giác bàng hoàng, hụt hẫng và nỗi niềm thương tiếc khôn nguôi của tất cả những người hằng mến mộ thơ và nhân cách ông xưa nay, từ trong nước ra đến hải ngoại.

   Chúng tôi, một số bằng hữu văn nghệ, từ người có mối giao tình với nhà thơ từ nhiều chục năm cho đến người chỉ mới quen biết gần đây, mạo muội đứng ra thực hiện tuyển tập tưởng niệm này như một nén tâm hương gửi đến vong linh một tâm hồn thơ trác tuyệt của nền thi ca đất nước.

   Du Tử Lê là một nhà thơ lớn của Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, từ trong nước ra đến hải ngoại.  Cho đến những ngày tháng cuối của cuộc đời, ông vẫn sáng tác không

ngừng, và càng về sau, thơ ông càng thấm đẫm tính triết học và văn học. Mỗi bài thơ là một viên đá quý trong khu vườn thi ca Việt. Nhà văn Cung Tích Biền gọi đó là “Định mệnh của tài hoa.” Nhà thơ Trần Dạ Từ đã không ngần ngại gọi ông là “Thi Sĩ Một Đời. Thi Sĩ Viết Hoa.”

   Chủ đích của tuyển tập là cùng nhau chia sẻ những cảm tưởng, cảm nhận, cảm nghĩ, cảm hoài của bằng hữu, những người thân quen với nhà thơ, và vì thế, tuy có một số bài viết nhận định sâu sắc về sự nghiệp thi ca của ông, nhưng tập hợp phần nhiều trong cuốn sách chỉ là những ý tưởng, cảm nghĩ đơn sơ – nhưng rất mực chân thành – về con người và cuộc đời nhà thơ.

   Do phải chuẩn bị và thực hiện trong một thời hạn ngắn ngủi, trước lễ Bách Nhật của nhà thơ, nên tuyển tập khó có thể hoàn chỉnh theo ý muốn. Có những sơ sót và sơ suất (mà sơ sót lớn nhất có lẽ là không có được đầy đủ tất cả những đóng góp, lẽ ra nên có, của nhiều quý anh chị khác.) Mong quý vị và các bạn niệm tình tha thứ.

   Chúng tôi xin gửi lòng tri ân đến tất cả bằng hữu xa gần đã nhiệt tình ủng hộ đề án ngay từ thời điểm đầu, và chẳng những đã đóng góp bài vở cho tuyển tập mà còn yểm trợ phần tài chính. Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm tạ chân thành đến bà quả phụ Lê Cự Phách, khuê danh Phan Hạnh Tuyền, phu nhân của cố thi sĩ, về những hỗ trợ tích cực quý báu của bà cho tuyển tập.

 

Nhóm thực hiện:

 

 Lê Lạc Giao ∙ Phan Tấn Hải ∙ Tô Đăng Khoa ∙ Trần Thị Nguyệt Mai ∙ Nguyễn Thị Khánh Minh ∙ Trịnh Y Thư ∙ Lê Giang Trần ∙ Nguyễn Lương Vỵ

 

 ***

 

CUNG TÍCH BIỀN

Du Tử Lê, Định Mệnh Của Tài Hoa

 

(…)

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

Nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi

Bên kia biển là quê hương tôi đó

Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

 

   Bên Kia Biển! Có cái nôi mẹ ru, Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu lời đắng cay Có cái nền nhà để thằng bé chập chững tập đi; mẹ ngồi phía trước vỗ tay, thằng con mấy tháng tuổi như say rượu ngả nghiêng bước tới, con ngã mẹ ôm vào lòng;  có con  đường làng  để tuổi lớn bước ra:  cánh đồng nắng mưa, cái hoa dại, con bò vàng; người thi sĩ đã bắt đầu biết nghe hồn tre trúc, đã rõ tâm sự của trời mây; đã biết khói hương chỗ đình làng là lưu dấu tổ tiên; quê nhà của thi sĩ, có ngọn đèn khuya lắc lư đêm giông bão xứ Bắc; mây tan tác vì gió; có Hà Nội, có gò Đống Đa. Lịch sử đổi thay, người với người đành bỏ đất Bắc, dắt díu vào miền Nam; ấy là lúc về sau, từ tiềm thức, nhà thơ nhớ lại cơn đời đời hốt hoảng, và, khoảng trời xanh cũng rợn người. Là cái tâm thái, mưa ở đâu về như vết thương. Một đời Mẹ Việt Nam.

   Vết thương 1954, qua tháng ngày, rồi cũng lành. Miền Nam man mác gió Đồng Nai, mưa Sàigòn. Bỗng dưng, hai mươi mốt năm sau, lần nữa, lần đau thế kỷ mỗi đời người; người người  phải lìa bỏ Sàigòn, ra đi trong nước mắt. Bỏ vội vã. Lìa xa không kịp tạ từ.

   Đã chìm sâu trong tháng ngày, từ tâm hồn khói hương, lẩn khuất đâu trong ký ức lưu lạc, Du Tử Lê phải một đêm trăng mà nhớ, Sàigòn. Có thể đêm ấy trăng trên đất Mỹ rất sáng, nhưng đang dìu một dĩ vãng ưu tư trở lại.

 

Đêm về theo vết xe lăn

Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng

Tìm tôi đèn thắp hai hàng

Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây

Ngỡ hồn tu xứ mưa bay

Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa

Đêm về theo bánh xe qua

Nhớ tôi Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh.

 

   Buồn làm sao. Cái nhớ như bờ dây tơ hồng buông từng sợi, trong nắng.

   Bên Kia Biển! Chốn cố quận xa xăm, đã là cái nôi nuôi dưỡng, rực rỡ đầm ấm, hiển linh kết tụ nên một hồn thơ, một Tinh Đẩu trong nền thi ca Việt Nam. Dòng thơ Du Tử Lê là một may mắn thụ hưởng, đầy đủ và trọn vẹn, cái tinh túy của ngôn ngữ thi ca, cái tiến trình lịch sử đầy nan nguy trên xứ sở của ông. Nên, thơ ông là tiếng nói, là tư niệm, tâm tình của một Đời Riêng, mà cũng là bao quát cái tổng thể, một Tiếng Nói chung thời đại.

   Là, nồng nàn một Tạ ơn.

 

Ơn em thơ dại từ trời

Theo ta xuống biển, vớt đời ta trôi

Ơn em dáng mộng mưa vời
Theo ta lên núi, về đồi yêu thương…

 

   Là, phảng phất chờ mong. Đôi khi nghe ấm trên da thịt/ Như thể ai đi mới trở về Là cái có-thể-có. Cái, tưởng-đã-mất. Câu thơ bình thường quá, giản dị làm sao. Nhưng cái nhẹ thoảng, cái ngờ vực, nó đưa ta tới chỗ cảm ứng nhanh/lẹ. Vì sao, vì ở chỗ nó là cái không rõ nét. Tựa là một làn gió thoảng, một giọt sương bay, chút nắng tàn. Tất thảy là mong manh, như dư hương ngoài cõi, dễ ngậm ngùi.

   Trong thơ Du Tử Lê trùng trùng những đánh thức như thế. Lại may mắn nó biến ra âm nhạc, qua những nhạc sĩ tài danh, đã sáng tạo, tái hiện, từ thi ngữ ra nhạc ngữ đầy hấp lực của hòa điệu. Thơ ấy, nhạc ấy, hóa là lời ru. Là ca dao đầm ấm. Nó chạy thẳng vô chỗ tâm tư, lòng dạ người thưởng ngoạn. Qua tiếng đàn lời ca, đã nghìn tri âm tri kỷ, đã nghe, đã khắc ghi tâm dạ một Du Tử Lê. Cảm tình ấy là một sung mãn, tràn ngập.

   Một điều khá đặc biệt. Thơ của Lê đầy ắp những câu hỏi sâu sắc,  đôi bài  chứa đựng những nghi hoặc siêu hình, về cuộc đời,

thân phận con người, nỗi đau chung một lịch sử. Nhưng ngôn ngữ thơ của ông lại là thuần Nôm, hiếm khi ông dùng từ Hán-Việt, hàn lâm. Nên rất ư đơn giản, nhẹ nhàng, dễ hiểu, như bức tranh thêu thủ công. Nó biểu tỏ, hòa điệu với tâm tư đại chúng dễ dàng. Nó thầm lắng như tiếng suối về khuya. Nó  có vẻ đẹp, đã định, và bền bỉ lưu niên của lũy tre làng.

   Tôi tin, thơ của người họ Lê, còn mãi. Bầu trời còn trăng, nhân gian còn thơ.

 

Midway

nơi đây Thị trấn Giữa Đường

lên non một nửa, nửa, chừng ra khơi

(27/10/2019)

 ***

 

TÔ ĐĂNG KHOA

Du Tử Lê Và Những Con Chữ / Như Người

 

(…)

   Thi Sĩ Du Tử Lê là người có cái nhìn rất mới lạ về tác dụng của thời gian lên sự hiện hữu của con người, mà theo tôi, ông là người “dịch” (dời chuyển) được cái hồn, cái tinh túy nhất của triết học bí hiểm của Heidegger (Being and Time) sang Thi Ca Việt Nam một cách rất tài tình qua bài thơ thời gian là vết thương / tìm tôi để chảy máu.

 

một người hỏi bức tường:

- nhớ gì sau đổ, vỡ?

một người hỏi dòng sông:

- xót xa mùa nước, lũ?

.

bức tường nói: cảm ơn!!!

trần gian là khoảng trống.

dòng sông trả lời: không!

biển khơi hoài dậy sóng.

.

chúng ta là đám đông,

sống trong hình nộm, mới.

thời gian là vết thương,

tìm tôi để chảy máu.

.

đằng sau, mỗi sớm mai,

mặt trời riêng, vẫn mọc.

đằng sau, những nụ cười,  

chói chang nghìn thất lạc. 

 

   “Bức tường” không hề tiếc nuối hay hờn giận gì sau những “đổ, vỡ.” Vì lẽ?  Vì “bức tường” thực ra chỉ là “cái ngăn che!” Sự đổ vỡ của “bức tường” tiết lộ sự thật “trần gian là khoảng trống” – Sự thật về “tính không” của tất cả hiện tượng.

   Dòng sông cũng không xót xa gì mùa nước lũ! Vì lẽ?  Vì biển khơi vẫn hoài dậy sóng đó thôi, đó là cái lẽ dĩ nhiên từ xưa tới nay.

   Chúng ta nếu không biết học hỏi bài học can trường, không biết chấp nhận thực tại, mà sợ hãi đổ vỡ, cứ than thân trách phận của “bức tường,” của “dòng sông” thì chúng ta sẽ bị biết bao nhiêu vụn vặt của đời sống chi phối, và như thế chúng ta chỉ sống theo đám đông, như một hình nộm, và thời gian tàn phá, nhận chìm chúng ta không thương xót như dòng sông mùa nước lũ.

 

chúng ta là đám đông,

sống trong hình nộm, mới.

thời gian là vết thương,

tìm tôi để chảy máu.

 

   Một bài thơ ngắn, đầy nội lực thâm hậu, nói lên trọn vẹn ý nghĩa của hữu thể (being) trong mối tương quan nghịch đảo với thời gian (time) cùng mối nguy hiểm của một lối sống theo tâm ý của đám đông như một hình nộm, theo tôi nghĩ nếu không phải là một thi sĩ tài hoa, nhạy cảm thì không thể gom về trong bao nhiêu đó ký tự được.

   Cuối năm 2019, “ngọn nến tôi cháy đỏ” vẫn “cháy nham thời thiếu máu” để cống hiến cho nền văn học Việt Nam những bài thơ trác tuyệt và ý nghĩa thâm sâu, gần gũi. Hai câu cuối của sự nghiệp Thi Ca Thi Sĩ Du Tử Lê là sự chấp nhận sau khi đã làm xong việc cần làm, đã sống một đời sống sáng tác sung mãn với trên 70 tác phẩm văn học, ngọn nến ấy đã chấp nhận yên lòng chờ cơn mưa tới để được mát lạnh, chấm dứt sự “cháy đỏ mùa chia, biệt” của một đời “thâm bầm vết dao,” vì đã không còn chi nấn/níu.

   Lời cuối của Thi Sĩ là một lời tri ân tới người thân và bằng hữu, xin nhắc lại nơi đây trong mùa lễ Tạ Ơn 2019, cũng là lễ viếng 49 ngày của Thi Sĩ Du Tử Lê:

 

cảm ơn người: bao dung,

che, ủ tôi khánh kiệt.

chiều rớt / xanh / lưỡi dao,

tôi khứng! chờ… mưa tới.

 

   Với riêng tôi, thơ Du Tử Lê là “những con chữ như người”: nó là những bóng/hình của Du Tử Lê, mà tôi sẽ giữ mãi, sẽ “cầm tù” những con chữ ấy trong ký ức của tôi về ông.

 

giọt máu nào cưu mang

lầm than từng con chữ

ai ngồi trên ngạch cửa?

bàn tay nào nhện giăng?

cầm tù nhau / ký ức.

                    (những con chữ như người)

 

 ****

 

TRỊNH Y THƯ

Du Tử Lê, Con Người Cô Đơn

 

   Sinh sống trong cùng một khu vực, quanh quẩn gồm chỉ mươi dãy phố xúm xít hàng quán và chợ búa người Việt nên tôi hay gặp ông ngồi quán với những bằng hữu văn nghệ của ông. Cũng có khi tôi thấy ông ngồi một mình. Những lần gặp gỡ, tôi lại bắt tay từng người, ngồi nói dăm ba câu chuyện vãn rồi kiếu từ. Ông ít nói, chỉ hay cười, nụ cười rạng rỡ, lành, và khi cười thì khuôn mặt hơi đen sạm nhiều vết nhăn ấy bỗng nhiên như sáng hẳn lên, kéo theo đôi mắt cũng cười. Mặc dù biết tiếng ông và đọc thơ văn ông nhiều, từ thời còn là thanh niên, nhưng tôi chỉ thật sự thân thiết với ông quãng một năm trước ngày ông đột ngột ra đi, chính xác hơn là từ lúc tôi nhận in cho ông tập thơ em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình. (Hóa ra đó là thi phẩm cuối cùng của ông.)

   Tôi để ý, tuy có nhiều bằng hữu xung quanh, nhưng trông ông lúc nào cũng như xa vắng, cô đơn.

   Tôi biết tiếng ông từ lúc ông làm tờ Quê Hương tại vùng OC, thời gian cuối thập niên 70, khi cuộc sống tha hương vẫn chưa thật sự ổn định, và sau đó là tờ Tay Phải cùng quán cà phê Tay Trái. (Tay phải viết, còn tay trái pha cà phê kiếm tiền nuôi tay phải.) Ông năng nổ, quán xuyến một lúc nhiều việc. Ông có tài ăn nói trước công chúng, trí thức nhưng ấm áp, rành mạch, trôi chảy, vừa phải, nên được đám đông mến mộ. Thời gian gần đây, sức khỏe suy kém nhiều, nhưng ông vẫn nhiệt tình đi tham dự những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ. Triển lãm tranh họa  sĩ  Nguyễn  Đình  Thuần,   triển lãm  tranh  họa  sĩ  Trịnh

Cung, đêm nhạc Trần Dạ Từ, ra mắt tập thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, v.v… lúc nào cũng thấy ông thân ái chia sẻ điều gì đó với bằng hữu và mọi người xung quanh bằng những phát biểu ngắn gọn, hàm súc; và với giọng nói tuy không sang sảng nhưng chắc, ấm, tiếng ông vừa cất lên thì đám khách ồn ào thích đùa cợt vui nhộn giữa đám đông bên dưới phải hãm bớt thanh quản mình, nghe ông nói.

   Ông cũng đi nhiều, khắp nơi có cộng đồng người Việt, ra mắt sách, gặp gỡ bằng hữu, tiệc tùng, cà phê, không ngớt. Bản tính ôn nhu, hòa hoãn, ân cần, điềm đạm của ông làm người đối diện thấy thoải mái, dễ chịu khi tiếp xúc. Dạo sau này, vì có sách xuất bản và tái bản ở Việt Nam, nên ông cũng hay về thăm, kết thân với nhiều văn nghệ sĩ, cả trong Nam lẫn ngoài Bắc.

   Một người như vậy, làm sao có thể gọi là “cô đơn” được?

 

   Từ lâu tôi tin rằng kẻ viết văn, làm thơ là kẻ bị chứng psychosis nhũng nhiễu, hắn sống trong thế giới tưởng tượng của riêng hắn, một thế giới chỉ hắn chứ không ai khác có thể nhận thức. Kỳ thực, hắn sống cùng lúc hai thế giới. Nơi thế giới ngoại tại có thể hắn là người không cô độc, nhưng bên trong thế giới nội tại của riêng hắn, hắn là kẻ cực kỳ cô đơn.

   Đây là một nghịch lý của văn chương. Viết là giao cảm với kẻ khác, với ngoại cảnh, nhưng viết cũng là đối diện với cái cô đơn cùng cực, khiếp hãi của chính mình. Vì cô đơn nên mới viết, và viết để “giao hòa” với thế giới bên ngoài; có nghĩa là, bạn phải “cách ly” mình ra khỏi thế giới để trong tương lai “hội nhập” vào nó qua một tương tác kỳ bí, kỳ diệu nào đó. Biện chứng của cô đơn được nhà thơ Octavio Paz gói ghém trong câu nói: “Con người là hữu thể duy nhất biết mình cô đơn, và chỉ con người mới đi tìm con người khác,” in trong cuốn tiểu luận danh tiếng The Labyrinth of Solitude.

   Tôi nghĩ ông là người như thế.

   Trọn đời ông sống trọn tình trọn nghĩa với chữ nghĩa của mình. Với ông, chữ nghĩa là tất cả. Câu nói cuối cùng ông phát biểu trước mặt bằng hữu văn nghệ hôm 5/10/2019 tại quán café Hạt Ngò (vỏn vẹn hai ngày trước khi ông qua đời), tôi nhớ mãi, “… Chữ nghĩa là nhan sắc của thơ…” Câu nói tuy đơn giản nhưng đầy hàm lượng, nó tóm gọn chủ đích và ý nghĩa tinh tuyền nhất cho toàn bộ sự nghiệp thi ca đồ sộ của ông. Thơ vì chữ nghĩa, chữ nghĩa vì thơ. Và, lúc cô đơn nhất, chỉ có “chữ nghĩa làm nhan sắc thơ,” tuyệt đối không một thứ gì khác xen vào, là những giây phút hạnh phúc nhất của ông.

   Tôi nghĩ ông là kẻ biết tìm hạnh phúc. Tìm cho đến hơi thở cuối cùng cuộc đời mình.

 

   Vì thời gian quen biết quá ít ỏi nên tôi không có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với ông. Tuy vậy, ông cũng tặng tôi một bài thơ và viết một bài nhận định khá dài về tập thơ của tôi xuất bản năm 2017. (Ông là một trường hợp hiếm hoi của văn chương Việt Nam, nguồn lửa sáng tạo vẫn sung mãn ở tuổi xế bóng, và ngòi bút không ngừng tuôn ra những câu chữ diệu kỳ.)

   Một lần tôi đưa ông về nhà sau buổi cà phê sáng, xuống xe, thay vì bước vào nhà, ông giữ tôi lại đứng trước cánh cổng sắt dềnh dàng chắn ngang khoảng sân rộng, trời đang vào xuân, lá non hớn hở trên cành, nói chuyện khá lâu.

   Nói lan man nhiều chuyện, nhiều đề tài, văn chương cũng như phi văn chương. Về con người nghệ sĩ, ông bảo tôi xã hội có nới lỏng đường biên cho người nghệ sĩ, ưu đãi hắn hơn mức bình thường, cho phép hắn làm một số những điều bị xem là ta-bu, nhưng nếu hắn buông thả dây cương giẫm qua đường biên đã nới lỏng ấy, làm nhiều điều xằng bậy thì chính hắn sẽ tự đào hố chôn vùi tên tuổi hắn. Tôi nghĩ ông thật chí tình khi nói những điều này.

   Không ngờ đó là lần nói chuyện thân mật, tương đắc duy nhất giữa ông và tôi.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời tòa soạn: Từ Franz Kafka đến Milan Kundera, hai nhà văn kiệt xuất của thế kỷ XX. Cả hai đều có chung một nền tảng văn hóa, một khảo hướng và một chủ hướng văn học: làm mới văn chương và dùng tiểu thuyết để nói những điều chỉ tiểu thuyết mới nói được. Cả hai đều để lại cho hậu thế những kiệt tác văn học, ảnh hưởng bao trùm gần như toàn thể nhân loại. Kafka sống vào đầu thế kỷ, Kundera vẫn còn tại thế dù năm nay, 2020, đã trên 90 tuổi. Việt Báo hân hạnh gửi đến độc giả Việt bốn phương ít dòng tiêu biểu của hai nhà văn lừng lẫy này qua phần chuyển ngữ và giới thiệu của dịch giả Trịnh Y Thư.
Nhà văn Dương Hùng Cường sinh ngày 1/10/1934 tại Hà Nội. Ông gia nhập Không quân và học về cơ khí tại Pháp năm 1953. Ông là hạ sĩ quan phục vụ ở nhiều đơn vị từ 1955, đến những năm 1960 mang cấp bậc Chuẩn úy, làm việc tại Phòng Tâm lý chiến, Bộ Tư lệnh Không quân VNCH.
Thứ Hai, ngày 20 tháng 1 năm 2020, nước Mỹ ăn mừng sinh nhật lần thứ 91 của Mục Sư Martin Luther King, Jr., nhà lãnh đạo nổi tiếng của phong trào nhân quyền và dân quyền Mỹ trong 2 thập niên 1950s và 1960s.
Vào một sáng mai thức sớm, ông già vừa ngâm nga câu hát “…Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/Mùa bình thường/Mùa vui nay đã về…”. Nhìn qua khung cửa, mặt hồ Michigan mênh mông băng giá, gió và tuyết, ông nói một mình, mới đó mà đã 42 năm, mùa xuân trong suốt 42 năm ấy lặng lẽ qua khung cửa này.
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh, nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời ngày 8 tháng 1 năm 2020 tại Na-Uy. Hưởng thọ 97 tuổi. Trong bài phỏng vấn của Mặc Lâm, phóng viên đài RFA ghi nhận: “Từ năm 1932 đến năm 1945, Tự Lực Văn Đoàn chiếm một vị trí ưu thế tuyệt đối trên văn đàn Việt Nam và đã ảnh hưởng sâu sắc đến giới thanh niên và trí thức Việt lúc bấy giờ. Bà Nguyễn Thị Vinh, 1 trong 3 thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đòan. Năm 1933 Tự Lực Văn Đòan chính thức thành lập gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ) về sau thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu, và còn một số nhà văn cộng tác chặt chẽ với văn đoàn này là: Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ…
Mai Thảo tên thật Nguyễn Đăng Quý, sinh ngày 8 tháng 6 năm 1927 tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 1954 di cư vào Nam, gia nhập làng báo. Ông viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt... Năm 1956, ông chủ trương tạp chí Sáng Tạo, báo Nghệ Thuật. Từ 1974, ông trông nom tạp chí Văn. Số báo hôm nay ra ngày 10 tháng Giêng, đúng 22 năm sau khi Mai Thảo rời bỏ chúng ta. Việt Báo trích đăng một truyện ngắn của ông viết trong khoảng thời gian 1955 – 1956, cùng những bài bạn hữu viết về Ông để cùng nhớ đến Ông. (Hiếu Nguyễn sưu tập)
Hôm 11 tháng 12 năm 2019 Tạp Chí Time đã chọn cô gái 16 tuổi người Thụy Điển Greta Thunberg làm nhân vật trong năm. Theo báo Time cho biết trong thông báo về việc chọn nhân vật trong năm nay rằng Thunberg là người trẻ nhất từ trước tới nay mà báo này chọn.
Sau hơn bốn mươi năm xa quê xa Tết, phần nhiều chúng ta đã hơn hai màu tóc trên đầu nhưng vẫn còn nhớ sao ‘Chợ Tết’! Cây tre nêu và tràng pháo chuột nổ lép bép ngoài sân hiện ra trong tâm hồn của mỗi chúng ta đậm đặc từng nét trong những ngày cuối tháng Chạp.
Tổ Chức Giáo Dục và Bảo Vệ Pháp Lý Người Mỹ Gốc Á (AALDEF) sẽ tổ chức dạ tiệc Tết Âm Lịch Năm Canh Tý và Lễ Trao Giải Justice in Action Awards vào Thứ Năm, ngày 6 tháng 2 năm 2020 tại Pier Sixty, Chelsea Piers tại Thành Phố New York.
Hồ Hữu Tường sinh tại làng Thường Thạnh, quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Năm 1926, ông sang Pháp học tại trường Đại học Marseille và nạp luận án Cao học Toán tại Đại học Lyon.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
XEM NHIỀU
(Xem: 5928)
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
(Xem: 5035)
Lời tòa soạn: Gần đây, nhiều ý kiến, tranh cãi gay gắt về vai trò và công trạng sáng lập chữ quốc ngữ, đặc biệt xung quanh nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Alexandre de Rhodes. Việt Báo xin trích đăng lại bài viết của tác giả Mai Kim Ngọc trong mục VVNM năm 2013, bài viết là một tham khảo kỹ lưỡng về chữ quốc ngữ và vai trò của Alexandre de Rhodes, và tác giả đề cập đến sự “vô phép” trong Phép Giảng Ngày khi người tu sĩ Đắc Lộ này nói về Tam Giáo của nước chủ nhà.
(Xem: 4771)
WASHINGTON (VB) -- Sở Hàng Không Liên Bang (FAA) nói rằng ngành hàng không rất là may mắn vì suýt nữa là có thể rớt thêm 15 chuyến bay trên phi cơ Boeing 737 MAX.
(Xem: 4357)
Mỹ đánh thuế lên thép nhập cảng từ Việt Nam lên tới 456% đối với các sản phẩm thép mà VN sử dụng nguyên vật liệu được nhập cảng từ Nam Hàn và Đài Loan, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 17 tháng 12. Bản tin VOA cho biết thêm thông tin như sau.
(Xem: 3525)
Một viên chức tại một thành phố vùng Vịnh San Francisco Bay Area đưa ra độc chiêu để xóa sổ nạn vô gia cư: một tàu du thuyền khổng lồ có thể chứa tới 1,000 người vô gia cư, trong thời kỳ này giữa lúc chi phí đời sống tăng vọt đắt đỏ và nhà cửa không có đủ.