Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khen Chê Không Mất Tiền Mua

29/07/202118:07:00(Xem: 2378)
Bìa 03
Tạp Chí Đọc Và Viết Số 03 Tháng 8, 2021

 

Anh bạn thi sĩ, Nguyễn Bá Trạc, cho tôi một lời khuyên, khi mới vừa bước chân vào xóm văn chương. Anh nói: -“Ai khen mình, dù không đúng, cũng vui. Nếu khen đúng, lại càng vui hơn. Ai chê mình, dù không đúng, cũng buồn. Nếu chê đúng, lại càng buồn hơn.” Thật là chí lí. Tôi có hàng trăm kinh nghiệm về chuyện này. Trong các loại chê, lời vợ chê là đau đớn nhất, lưu trữ lâu dài nhất, thông thường là đúng nhất. Nếu biết sửa đổi những gì vợ chê, những người đàn ông đó đều trở thành thiên tài. Còn lời vợ khen thì sao? Đề phòng, sắp tốn tiền.

Tôi thường gặp những người hay tuyên bố: “Nếu khen đúng nên tỏ vẻ khiêm nhường. Nếu chê đúng, phải nhận mà sửa sai.” Lý thuyết này chỉ để nổ, ít khi hữu hiệu. Đa số những ai nói điều trên, họ thuộc thành phần mang mặt nạ. Những ai tin tưởng lời khuyên trên, thuộc vào hạng nhẹ dạ.

Có lẽ xã hội nào cũng vậy, riêng trong xã hội Việt, lời khen, lời chê là hai thứ được sử dụng bừa bãi nhất. Tiếp theo là sự đáp trả, phản hồi của lời khen chê, cũng cẩu thả không kém. Đôi khi, trở thành khốc liệt và thù hận dai dẳng.

Gặp nhau ngoài đường hoặc vào chốn đông người, chúng ta thường nghe, đàn ông khen đàn bà: -“Hôm nay cô đẹp quá.” Câu trả lời thông thường e thẹn một cách sung sướng, tuy từ chối nhẹ nhàng, mà cầm chặt không thả: -“Anh quá khen,” hoặc “trời ơi, hôm nay em trúng số.” Những cô quen thuộc chiến trường, tiền pháo hậu ngăn, sẽ vừa trả lời, vừa báo động: -“Em mà đẹp gì, vợ anh mới đẹp,”  hoặc “em đẹp sao bằng chị.”    

Phụ nữ khen phụ nữ đẹp, giỏi, có tài, mặc thời trang đúng điệu, trang sức đắc tiền … là lời lẽ thông dụng như mỗi lần gió thổi hoa lung lay. Nhất là khi miệng khen, mắt nhìn nơi khác, nghĩa là, rung cây không chờ trái rụng. Hầu hết thể loại này được xếp và hạng lịch sự và xã giao. Núp sau bình phong lễ phép, tha hồ nói ngược. Tôi đã từng nghe một cô khen cô kia, hơi bị lé kim: -“Ánh mắt chị mơ màng quá.”

Nhưng điểm nhấn ở đây là việc khen quá lời trước mặt nhau, sau đó, quay lưng, bàn tán; trở về nhà, gọi điện thoại; chê không tiếc lời. Như thể người khen kia là ai xa lạ khác và người bị chê như kẻ thù. Có điều gì ngược ngạo, buồn cười, cay đắng, khó giải thích.

Đó là chưa kể những lời khen lưỡi câu để nhử mồi, lời khen lưỡi hái để móc ruột, lời chê giáng họa để vu khống, lời chê nhận chìm để mình được trồi lên. Rumi nói: “Im lặng là ngôn ngữ của Chúa, còn những lời khác là lời dịch sai, dịch dở.” (Silence is the language of God, all else is poor translation.)

Trong thực tế, ngày nào còn miệng lưỡi, ngày đó còn lời khen chê. Bản chất của khen chê không phải tệ hại, như con dao giúp cho việc gia chánh thêm tốt đẹp, nhưng có người lại dùng để đâm sau lưng. Nếu khen đúng chỗ, chê đúng điều, mục đích và hiệu quả của khen chê rất cần thiết trong đời sống.



Phải chăng quan điểm trên đưa đến phẩm chất và thẩm mỹ của trung thực? lời khen chê trung thực có thâm mỹ? Lời khen chê trung thực hay và đẹp?

Khi bỏ đi những mục đích như nịnh bợ, lấy lòng, khôn khéo, trục lợi, ghét bỏ, ganh tỵ, âm mưu … lời khen chê sẽ xuất hiện ít hơn và chính xác hơn. Không cần phải nói ra sự thật. vì chẳng có ai biết rõ sự thật để nói, nhưng mỗi người khi nói, sẽ tự biết mình có trung thực hay không.

Cổ nhân có câu, đánh lưỡi bảy lần trước khi nói. Dù đánh lưỡi vài chục lần, nếu không trung thực thì đừng nói. Đâu có ai bắt mình phải khen hoặc chê. Im lặng và cười cầu huề là đủ rôi. Thân ái ở ánh mắt, thiện cảm nơi mỉm cười, đâu cần phát ngôn. Phát thanh bừa bãi thông thường như phun nước miếng vào người khác, sau đó tự phun nước miếng vào minh và nhận thêm nước miếng của người đối diện phun lại.

Nên tiết kiệm lời khen ý chê càng nhiều càng tốt. Khi cần phải khen chê, nên trung thực. Người ta nói, thuốc đắng dã tật, nhưng nói thật mất lòng.  Như vậy, thuốc đắng làm sao cho dễ uống. Nói thật làm sao cho khỏi mất lòng. Việc này thuộc về nghệ thuật thẩm mỹ. Khen hoặc chê trung thực bằng lời lẽ hay và đẹp là nghệ thuật thuyết phục. Không liên quan đến du thuyết, cầu tài, cầu lợi. Càng không nên lầm lẫn với khéo léo. lễ phép, nói cho vừa lòng nhau. Lời khen chê phải như tặng phẩm thay vì phỉnh phờ hoặc trừng phạt. Nhận được tặng phẩm ai mà chẳng thích, nhưng nếu là tặng vật giả, trước sau gì họ cũng nhìn ra.      

Trong kinh thánh, có ngụ ngôn “Cái Lưỡi.” Món ăn ngon nhất, nấu bằng lưỡi. Món ăn dở nhất, nấu bằng lưỡi. Tôi nghiệp cái lưỡi. Nó chỉ làm công. Giựt dây phía sau, chính là tấm lòng. Tôi nghiệm ra một điều, khen chê khó biết được đúng hay sai, thật hay giả, nhưng lòng thành thật khi nói, rất dễ nhận ra.

Ngu Yên

 

Trích trong Tạp Chí Đọc Và Viết Số 03 Tháng 8, 2021.

Mời đọc và giới thiệu tạp chí đến bằng hữu

Xem và tải xuống miễn phí:

https://www.academia.edu/50230162/T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD_%C4%90%E1%BB%8Dc_v%C3%A0_Vi%E1%BA%BFt_S%E1%BB%91_03_B%E1%BA%A5t_%C4%90%E1%BB%8Bnh_K%E1%BB%B3_Th%C3%A1ng_8_2021

MỤC LỤC

 

1- Thơ Zuhair Abu Shayib (Palestine. 1958 - )

2- Giá Trị Thời Gian Cá Nhân.  Đoản Luận.

3- Khi tôi 14 tuổi, dì tôi dẫn đi ăn trưa rồi nói: 

     Alexis Rhone Fancher. Thơ dịch.

4- Nhà Văn Lão Thành.  Thơ

5- Khen Chê Không Mất Tiền Mua. Phiếm Luận.

6- Ông Từ. Somerset Maugham (1874-1965)

    Truyện Ngắn.

7- Giới Thiệu Kịch 10 phút;

    Đường 12. David Nice. Kịch dịch.

8- Giới thiệu sách:

    Brief Answers To The Big Questions,

    Stephen Hawking. Ngu Yên dịch tiếp theo.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sài gòn ơi đường phố vắng không người Vào những ngày cơn ác mộng khôn nguôi Tôi muốn nói về một niềm hy vọng Niềm tin yêu và hy vọng đời đời
Nói đến việc tập hát Karaoke, tôi nghĩ, có lẽ không có công việc gì mà một số lớn người Việt có thể tự nguyện tập luyện hăng say như vậy. Thời giờ dùng để tập hát, có lẽ, ngang ngửa với thời giờ xem phim bộ. Say mê. Tưởng tượng. Đi làm về, bật máy lên hát. Ngủ dậy, vừa thay đồ vừa hát lập đi lập lại kẻo quên giai điệu. Tắm hát. Lái xe hát. Vào sở làm, hát lén. Ăn trưa ngồi một mình, hát lẩm bẩm. Tôi có một anh bạn, ngày thường cũng như cuối tuần, ngoài những lúc đi họp hát, lúc nào cũng thấy anh ngồi thẳng thóm nơi ghế sa lông dài, nhìn chăm chăm vào máy truyền hình, miệng hát và tự làm duyên một mình, tay đưa lên diễn tả như đang đứng trên sân khấu. Vợ anh ta than phiền, Ổng không làm gì hết. Tối ngày ngồi một chỗ hát đến nổi lủng luôn ghế da. Năm xưa, vợ chờ chồng đi chinh chiến đến nổi hóa đá. Nay, vợ chờ chồng ca hát, lạnh lẽo gối giường. Khuya khoắt mới chịu vào ngủ. Bạn tôi đến nay đã thành ca sĩ đối với một số thân hữu có giới hạn.
Sài Gòn đại dịch, những con đường vắng ngắt, những con hẻm buồn tênh, những mặt người sầu lo. Quán xá hoang vu, chợ búa im lìm, thành phố phong tỏa rồi. Dòng người nghẹn ngào, lìa xa thành phố, tìm đường về quê, nương náu với người thân, ước mong trở lại khi dịch cúm không còn. Nhưng anh còn em, đôi ta còn nhau, ta yêu Sài Gòn bao mùa mưa nắng, ta thương Sài Gòn năm tháng vẫn hiên ngang. Vững tin quê hương lướt qua cơn đại dịch.
Có một sự kiện rất lý thú là trong Kinh Phật kể chuyện một hôm, lúc Đức Phật còn tại thế, các nhạc thần Càn Thát Bà (Gandharva) đã đến chỗ Đức Phật và tấu nhạc để cúng dường Ngài và Đại Chúng. Nhạc của những nhạc thần này hay và sống động đến độ nhiều vị đệ tử của đức Phật cũng bị lôi cuốn và đứng dậy nhảy múa theo tiếng nhạc dù chỉ là giây lát. Sự việc này cho thấy rằng từ thời Đức Phật vào thế kỷ thứ 6 trước tây lịch âm nhạc đã xuất hiện trong các pháp hội, các sinh hoạt của thất chúng đệ tử Phật.
What the Horse Eats, tựa đề tiếng Việt là Trong Bụng Ngựa, là vở opera kể một câu chuyện có thật xảy ra thời Nhật chiếm đóng Việt Nam năm 1945. Ở những làng quê miền Bắc, những cái xác trơ xương nằm vất vưởng ngoài đường. Người ta, cũng là những bộ xương còn sống còn đi được, gom xác chết chất lên xe cun cút đem chôn tập thể. Cả làng tiêu điều như thành phố ma. Hơn hai triệu người Việt Nam đã chết đói. Dân số vào thời đó là 18 triệu. Chiến tranh, nạn đói, chế độ thực dân dồn ép con người ta phải lựa chọn giữa sự sống và cái chết, giữa danh dự và tình thương cho con. Một anh chăn ngựa lo lắng cho gia đình, đặc biệt là đứa con mới chào đời. Anh phải nhận lời làm không công cho viên Đại Uý Nhật, chăm nom con Ngựa Trắng quý của ông ta, cùng lúc anh mang trong đầu một tính toán táo bạo. Người vợ của anh thì đang vật lộn với trách nhiệm và tình thương của người mẹ, chỉ biết gắng gượng nuốt rễ cây. Hai vợ chồng cố gắng sống mòn trong danh dự. Cuối cùng, cùng đường, họ đành chấp nhận
Trầm Tử Thiêng đã hiến trọn một đời cho âm nhạc, ông được hàng triệu người thương yêu mến mộ. Kho tàng nghệ thuật của ông là 200 ca khúc tình yêu, thân phận, quê hương và chiến chinh. Hành trình sáng tác cũng như tác phẩm của Trầm Tử Thiêng gắn liền với thời cuộc của đất nước và mối tình của chính cuộc đời ông…
Không hiểu vì lý do gì mà nhạc sĩ Lan Đài sáng tác nhiều ca khúc mang nỗi buồn man mác xa xôi trong khi nghề nghiệp và tình yêu với cuộc sống cũng là niềm ước mơ của nhiều người. Trong thời gian qua, tôi đã viết nhiều về thơ văn nơi phố cổ Hội An, càng về già càng nhớ nơi chốn với bao nhiêu kỷ niệm của thuở học trò. Hai đêm qua, tôi nghe lại những ca khúc của nhạc sĩ Lan Đài và viết những dòng nhạc về ông với niềm thương cảm.
Trong hồi ký, Bejarano kể rằng việc bà được cứu bởi các binh sĩ Hoa Kỳ là những người đã cho bà cây đàn accordion, mà bà đã chơi vào ngày binh sĩ Mỹ và những người sống sót của trại tập trung nhảy múa chung quanh tấm hình bị đốt cháy của Adolf Hitler để ăn mừng Đồng Minh chiến thắng Đức Quốc Xã. Bejarano đã di cư tới Do Thái sau chiến tranh và lập gia đình với Nissim Bejarano. Cặp vợ chồng này có 2 người con, Edna và Joram, trước khi trở về Đức vào năm 1960. Sau một lần nữa chống chủ nghĩa bài Do Thái công khai, Bejarano quyết định hoạt động chính trị, đồng sáng lập Ủy Ban Auschwitz vào năm 1986 để giúp những người sống sót nền tảng cho những câu chuyện của họ.
Steven Spielberg, người viết truyện mà bộ phim “The Goonies” dựa vào đó để đóng, nói với Variety rằng Donner là “thiên tài về rất nhiều thể loại.” “Ở trong quỹ đạo của ông ấy giống như đi chơi với người huấn luyện yêu thích của bạn, giáo sư thông minh, nhà động viên quyết liệt, người bạn đáng mến nhất, đồng minh trung thành nhất, và – dĩ nhiên – Goonie vĩ đại nhất,” theo Ông Spielberg cho biết. Sinh tại Quận Bronx, New York, Donner đã bắt đầu vào ngành truyền hình vào đầu thập niên 1960s, với nhiều uy tín gồm loạt phim “The Twilight Zone” và phim kinh dị tình báo “The Man From Uncle.” Nhưng phải đợi đến giữa thập niên 1970s ông mới ghi dấu ấn tại Hollywood. Tác phẩm “Superman” năm 1978 của ông với sự tham gia của ngôi sao Christopher Reeve thường được xem như là phim siêu anh hùng hiện đại đầu tiên.
Spears đã chỉ trích cách mà gia đình của cô, gồm cha cô là ông Jamie Spears, đã hành xử quyền giám quản đối với cô và phản ứng với những quan ngại của cô về việc chăm sóc của cô. “Gia đình tôi đã chẳng làm điều gì cả,” theo cô nói. “Bất cứ điều gì xảy ra đối với tôi cũng phải được chấp thuận bởi cha tôi… ông là người chấp thuận mọi thứ. Cả gia đình tôi đã không làm gì cả.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.