Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đọc ‘Vằng Vặc Một Mảnh Lòng’ Của Nguyễn Hiền Đức

24/09/202100:00:00(Xem: 766)
BIA SACH_VANG VAC MOT MANH LONG
Bìa sách "Vằng Vặc Một Mảnh Lòng" của Nguyễn Hiền Đức.

 

Trong Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadàyàda Sutta) do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, Đức Phật đã dạy rằng:

“Này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật.”

Tài vật chỉ làm cho con người sống sung túc về vật chất trong đời này nhưng không giúp con người thăng hoa cuộc sống tâm linh đời này và đời sau và lại càng không thể giúp con người giác ngộ và giải thoát khổ đau trong ba cõi sáu đường. Thực hành giáo pháp của Đức Phật sẽ giúp con người nhận chân được bản chất đích thật của tất cả các pháp trên đời này để tự mình chứng nghiệm và vượt thoát khổ đau đời này và đời sau.

Trong khi người đời bám chặt vào tài vật xem như là tài sản sở hữu quý giá cần phải bảo vệ cho đến cùng, đôi khi dẫn đến những phân tranh thù hận máu đổ thịt rơi, thì Phật tử Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức noi theo gương sáng của vị Thầy tôn kính của anh là Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu, Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ngày đêm rị mọ gõ lại từng chữ, từng dòng, từng bài viết lợi lạc về Phật Pháp của chư vị Cao Tăng và quý vị Cư Sĩ dày công nghiên cứu và tu tập Chánh Pháp của Đức Phật để làm bảo vật giúp cho người đọc hiểu được con đường giải thoát tâm linh. Anh đã viết trong Lời Thưa Trình Về Tuyển Tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” đã được NXB Liên Phật Hội ấn hành trong năm 2019:

“Ngoại trừ 8 bài phải copy trên các trang mạng, còn lại thì con “gõ” vào máy ở nhiều thời điểm. Ở cái tuổi đã “trộng,” khi trái gió trở trời thì làm sao con không đau lưng, nhức vai và mỏi mắt cho được. Nhưng rồi cuối cùng mọi việc cũng xong. Con vui mừng và cảm thấy lòng minh thanh thản, nhẹ nhàng vì đã hoàn thành một Quà tặng…”

Cuốn “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng” dày 465 trang, khổ lớn, bìa màu, gồm 47 bài viết của chư tôn đức Tăng, Ni và quý cư sĩ uyên thâm Phật Học. Trong đó có bài của Thiền Sư Thích Mật Thể, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, Thiền Sư Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Thích Phước Sơn, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, Hòa Thượng Thích Như Điển, Hòa Thượng Thích Phước An, Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải, học giả Nguyễn Hiến Lê, kịch tác gia Vũ Khắc Khoan, Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, Giáo Sư Lê Mạnh Thát, Giáo Sư Cao Huy Thuần, Nguyên Giác, Toại Khanh, Nguyễn Hiền Đức, v.v…

Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.

Tôi thích lối viết của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Ông viết rất tự nhiên. Văn ông rất mượt mà, rất nhẹ nhàng và lôi cuốn. Tư duy Phật Pháp của ông rất sâu, rất tới. Chẳng hạn khi nói về cái vô sở thuyết mà ông gọi là “cái đó,” Vũ Khắc Khoan viết thế này:

“Nói ra là bị kẹt

Không nói cũng không xong

Hai câu đầu một bài Kệ của một thiền sư Việt Nam sống giữa thế kỷ thứ 17, thiền sư Chân Nguyên. Hai câu kệ, một thế đứng chênh vênh giữa hai ngã hữu vô. Nói hay không nói? Chung cuộc, bài kệ đành phải chấm dứt bằng một chấm phá lững lờ.

Vì anh đưa một nét

Đầu núi ánh dương hồng

“Tôi duỗi thẳng chân, ngửa mặt nhìn nắng sớm xuyên qua miếng băng bám nơi khung cửa, áng nắng lung linh màu sắc cầu vồng. Tự hỏi nắng sớm đích thật màu gì? Xanh hay đỏ, tím hay vàng, hay là do tất cả màu sắc gặp gỡ mà thành? Nhưng có cuộc gặp gỡ nào kéo dài mãi mãi? Ánh dương đầu núi đâu giữ mãi màu hồng? Cái thế chênh vênh giữa hữu và vô đâu có thể đời đời tồn tại? Cái khó là nhập vào cái thế đó, không thỏa hiệp, mà vươn lên, và vượt qua. Từ cái phức tạp tìm về cái đơn thuần, tìm về cho tới các khuôn mặt của chính mình chưa sinh, chưa thành. Ánh dương hồng khi chưa nhô lên khỏi đầu núi. Cái xôn xao nhú lên trong đêm sắp tàn. Cái đó.” (trang 446)

Cũng trong bài “Như Lai Vô Sở Thuyết,” Vũ Khắc Khoan nói đến mối “thâm giao” giữa ông và cư sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng vì cả hai đều “mê đọc kinh như lứa tuổi hai mươi mê đọc thư tình,” với một giọng văn rất dí dỏm, đầy thân tình và đạo vị:



“Tịnh Liên lão ông với Khoan tôi vốn là chỗ thâm giao, lại là móng vuốt trong chốn thiền môn, mê đọc kinh như lứa tuổi hai mươi mê đọc thư tình, gần đây vì thương cho sự hoang rậm của mình mà viết lời sơ giải mấy bộ Đại Thừa. Viết đến đâu hoằng bá đến đó và đều đều gửi đến Khoan tôi, với lời răn nhủ rằng: Này ông Vũ Khắc Khoan ơi, ông phải bớt đàn đúm với bọn lãng tử để dành thì giờ mà tu tỉnh đọc kinh. Rằng:

-         Này Vũ Khắc Khoan, ý ông thế nào? Giả sử có người đem bảy món báu chứa đầy cả đại thiên thế giới mà bố thí thì người đó có nhiều công đức hay không?

Tôi rằng:

-         Thì nhiều.

Ông chỉ đợi có thế, tiếp ngay:

-         Ấy thế mà còn thua một người chỉ thọ trì 4 câu kệ hay nhẩm nhẩm một đoạn kinh. Biết không?

Biết rồi… nhưng khốn một nỗi, Khoan tôi căn cơ thô lậu, tâm thức lại hay lưu luyến tiếng tơ tiếng trúc, cho nên chân tuy đĩnh đạc bước thẳng mà vẫn thấy tạt ngang nơi ca lầu tửu quán, giọng cất lên muốn bàn câu đạo lý mà vô tình vẫn họa cùng một điệu với tiếng cười hô hố của đám lãng tử sông hồ.” (tr. 455, 456)

          Hoặc, trong Lời Giới Thiệu cuốn Tư Tưởng Phật Học của Đại Đức Walpola Rahula do Ni Trưởng Trí Hải dịch, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu đã có lời cảnh giác về các bài viết về Phật Giáo rất ý nghĩa và Ngài cũng đưa ra lời khuyên rất xác đáng:

          “Thường chúng ta trình bày đạo Phật ngang qua sự hiểu biết của chúng ta, và điều nguy hại hơn ngang qua cảm tính và sở thích của chúng ta, vì vậy nhiều khi tư tưởng và thái độ của Đức Phật bị bóp méo rạn nứt rất nhiều. Để bớt tệ hại này, phương pháp hữu hiệu nhất là dẫn chứng trong kinh điển những lời dạy của chính Đức Phật để xác chứng quan điểm của mình trong khi trình bày, một thái độ mà tác giả tập sách này đã theo rất trung thành.” (tr. 30)

          Trong cuốn “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” cũng có bài của Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức, “Vài Kỷ Niệm Về Việc In Ấn Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh và Kinh Lời Vàng,” mà qua đó anh đã kể lại một số chi tiết về cuộc đời của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu ít được biết đến. Đặc biệt anh đã đề cập đến “ý chí, nghị lực, tài năng, trí tuệ, đạo hạnh và phương pháp” dịch Kinh mà ở đây là Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh và Kinh Lời Vàng, những bộ Kinh mà anh có cơ duyên giúp Ngài trong việc “in ấn, trình bày bìa, phát hành.” Cư Sĩ Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức kể:

          “Nhiệm vụ của tôi trong thời điểm này là: cứ từ 7 giờ đến 7 giờ rưỡi mỗi sáng, tôi tự động vào phòng làm việc của Thượng Tọa Viện Trưởng nhận xấp “bản thảo” do “Ôn” Minh Châu để sẵn trong một cái khay đan bằng mây rất đẹp. Ôn viết bằng bút máy, mực màu xanh trên giấy trắng khổ 21x33cm. Số lượng ít nhất là 20 trang, nhiều nhất 35 trang. Cứ đều đặn như thế, ngày này qua ngày khác, mỗi sáng tôi đều nhận “bản thảo” của Ôn. Tôi chú ý và nhận thấy rằng, trừ những ngày nghỉ lễ, ngày chủ nhật hoặc thời gian Ôn ra Huế hoặc đi công tác nước ngoài thì việc dịch Kinh mới tạm dừng lại; còn khi Ôn làm việc tại Vạn Hạnh thì chưa bao giờ và chưa một lần nào tôi không nhận được bản dịch mỗi sáng. Tôi hết lòng kính trọng và khâm phục ý chí, nghị lực, tâm huyết và phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc của Ôn.” (tr. 46)

          Sở dĩ anh Nguyễn Hiền Đức có thể vào được “phòng làm việc của Thượng Tọa Viện Trưởng” bởi vì anh là “Trưởng Phòng Tu Thư của Viện Đại Học Vạn Hạnh, chuyên lo in ấn, phát hành Kinh sách Phật học, sách giáo khoa, sách tham khảo thuộc về nhiều lãnh vực cho các Phân khoa thuộc Viện và nhiều Kinh, sách khác do Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh xuất bản và phát hành,” và anh cũng là Thư Ký của Tạp Chí Tư Tưởng của Đại Học Vạn Hạnh, theo Nguyễn Hiền Đức kể trong bài viết của anh nói trên.     

Còn rất nhiều bài hay và giá trị của chư vị Cao Tăng Thạc Đức và các vị trí thức Phật tử viết về nhiều đề tài trong cuốn “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng” mà anh Nguyễn Hiền Đức đã có công sưu tập để in thành sách, nhưng vì giới hạn của bài viết nên không thể giới thiệu hết đến độc giả.

          Xin cảm ơn anh Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Đối với người dân Sài Gòn, Trường Trung Học Marie Curie là một cái tên rất quen thuộc, bởi vì ngôi trường lấy tên của nữ khoa học gia đoạt 2 giải Nobel Vật Lý và Hóa Học này là một trong những ngôi trường lâu đời nhất – thành lập vào năm 1918 – của Hòn Ngọc Viễn Đông. Nhưng có lẽ ít ai, trong đó có tôi, biết rõ về thân thế sự nghiệp và những phát minh khoa học kỳ diệu đã mang lại vô số lợi ích cho đời sống nhân loại, mà điển hình nhất sự phát minh ra chất phóng xạ Radium của bà.
Có những người làm gì cũng hay, viết gì cũng hay. Tôi luôn luôn kinh ngạc về những người như vậy. Họ như dường lúc nào cũng chỉ ra một thế giới rất mới, mà người đời thường như tôi có ngó hoài cũng không dễ thấy ra. Đỗ Hồng Ngọc là một người như thế. Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ; dĩ nhiên ai cũng biết, bởi vì anh nổi tiếng hơn rất nhiều bác sĩ khác, và được báo chí phỏng vấn thường xuyên. Nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Thơ của anh nhiều đề tài, có cả thơ Vu Lan, thơ tặng mẹ, thơ tình, thơ tặng em bé sơ sinh, thơ tặng bà bầu, và đủ thứ. Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về Kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm Kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang cũng hay, viết về Kinh Pháp Hoa cũng hay, viết về Kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.
“Tôi bảo cô em tôi, hoặc có thể nó bảo tôi, lại đây mình chơi trò cười nhé? Chúng tôi nằm sát nhau trên giường và bắt đầu trò chơi. Giả vờ, dĩ nhiên. Bắt phải cười. Cái cười buồn cười. Cái cười buồn cười đến nỗi nó khiến chúng tôi phải cười. Thế rồi tiếng cười thật sự ùa đến, cười điên dại, cười như nắc nẻ, hai chúng tôi như bị cuốn vào cơn triều cường khủng khiếp của cái cười. Cười phá lên từng tràng, cười hối hả, cười sằng sặc, cười không kềm hãm được, cười thỏa chí, cười tung hê, cười điên dại… Chúng tôi cười đến tận cùng của cái cười… Ôi, cười! Cười thích lắm, chẳng có gì thích bằng cười; cười là sống một cách sâu sắc.”
Tác giả Hồ Ngọc Bảo không có ý làm văn chương. Anh viết về cuộc đời của anh, cũng gần như cuộc đời của rất nhiều người dân mình. Anh kể từ chuyện thời thơ ấu ở Quảng Ngãi, chứng kiến những cuộc thanh toán Quốc-Cộng trong làng, được cha gửi vào học ở chủng viện Kontum, thi Tú Tài xong là vào Sài Gòn học bậc đại học, trải qua nhiều gian nan sau 1975, cùng với vợ và con nhỏ đi đường bộ vượt biên sang Lào nhưng bị bắt giữa rừng, vào tù, tới khi ra tù là buôn chợ trời rồi về làm ở nông trường, chuyển sang một hãng sành sứ, may gặp cơ hội vượt biên sang Canada định cư, làm việc ở hãng xưởng Canada, tới khi tóc bạc trắng xóa thì ngồi viết lại đời mình. Không phải là hồi ký về một cá nhân, nhưng là từ kinh nghiệm và cái nhìn của một người có cơ duyên trải qua nhiều diễn biến lịch sử.
Đọc suốt cả quyển sách, tôi tâm đắc nhất có thể nói là bài “Thị Hiện Độ Sanh” từ trang 123 đến trang 177. Đây là bài viết dài nhất về cuộc đời của Đức Phật, đa phần là chuyện kể ngắn gọn, không có thơ đi kèm; nhưng với tôi, là một tuyệt tác. Bởi lẽ, Võ Đình Cường đã viết về cuộc đời của Đức Phật qua tác phẩm Ánh Đạo Vàng hay như thế nào, thì phần Thị Hiện Độ Sanh nầy cũng không kém chất liệu thi vị hóa cuộc đời của Đức Phật, qua tài sử dụng văn chương và câu cú rất chuẩn mực, khiến cho người đọc cứ phải lần mở hết trang nầy đến trang khác, đọc cho đến lúc chấm hết chuyện mới thôi.
Trong tập sách nầy có bài “Thiên Lý Độc Hành” ở trang 47 bằng tiếng Việt và được Tác giả dịch sang tiếng Anh ở trang 51. Bài nầy có tất cả 13 đoạn do Thầy Tuệ Sỹ sáng tác và đã được Tác giả cho dịch sang tiếng Anh, kèm theo những bài của tác giả khác cũng đã dịch những vần thơ nầy ra tiếng Anh nữa. Qua đó tôi nhận thấy có lẽ khó nhất là từ “mắt biếc” không phải đơn giản để dịch được từ nầy, nếu không thâm hiểu ý của tác giả bài thơ.
Ngay cả khi họ thích dùng các thuật ngữ khác hơn ("chiến tranh lạnh", "hòa bình nóng"), ngày càng có nhiều nhà bình luận ngầm chấp nhận điều này - có nghĩa là, họ chấp nhận rằng Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình đang hành xử theo những cách gợi lại các đặc điểm của Churchill về "các khuynh hướng mở rộng và cố gắng thu phục" của Liên Xô dưới thời Stalin. Không phải chỉ mọi thứ ở phía đông bức màn sắt bị nằm dưới sự kiểm soát của Moscow; ở Tây Âu, đạo quân thứ năm của Cộng sản hoạt động miệt mài, trong khi các tham vọng của Stalin cũng đe dọa Thổ, Iran và Trung Quốc. Như Churchill đã nói, Liên Xô không muốn chiến tranh "nóng". Họ muốn hòa bình nhưng theo cách "bành trướng vô thời hạn về quyền lực và giáo điều của họ".
Bất chấp những rủi ro, sự tấn công và phải trả giá bằng cả sự nghiệp, cựu Trung Tá quân lực Hoa Kỳ Alexander Vindman - cựu nhân viên an ninh quốc gia Hoa Kỳ vẫn giữ được khí phách mà anh đã được huấn luyện và hun đúc từ trong quân đội để nói ra sự thật. Hồi ký "Here, Right Matters" của Trung Tá Vindman phát hành tuần này đang nằm trong danh sách bán chạy nhất trên Amazon. Cuốn sách kể về những điều gì?
“Kể chuyện mà chơi” dày 420 trang, gồm 65 “câu chuyện”, được tác giả thể hiện qua hình thức truyện ngắn và tản văn, với lối viết giản dị, có phần chân chất và mộc mạc qua góc nhìn của một người có khá nhiều kinh nghiệm về ứng xử và suy xét tế nhị, mang dấu ấn của người Việt và là tín đồ của cửa Phật, đó là sự bù trừ và luật nhân quả của thiền môn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.