Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

thơ tình của Đán – một người tình. làm thơ tình. hát tình ca

06/09/202114:40:00(Xem: 1473)
20210906_150701
Tập thơ "thơ tình của Đán"

 


Chờ đợi từ vài tuần nay, chiều thứ Sáu, mở cửa thấy “nó”. Chẳng hiểu những nhà in, tiệm sách có cố ý hay không, nhưng bao giờ tập thơ, cuốn sách cũng đến vào thứ Sáu, thứ Bảy, để ngang nhiên chiếm trọn thời giờ của những ngày nghỉ.

 

Và như thế “nó” đến, “nó” nhỏ bé màu xanh lơ, “nó” tự xưng là Một người tình, làm thơ tình, hát tình ca -  “Thơ Tình Của Đán” đến, với lời nhắn: “Trong một thế giới thật buồn, người ta cần những bài thơ tình làm cho lòng mình dịu dàng lại trong sự oi bức nực nồng của trời đất.”

 

Và như thế “” vào nhà, lẻn và tim óc, dẫu đã bao lần cái đầu dặn trái tim không được đụng đến thơ tình.

 

Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa

Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua

Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa

Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”

 

            (trích “Đôi Khi Không”, bài mở đầu tập thơ, trang 3)

 

Những hàng chữ, trang thơ tiếp theo là những mong nhớ, đợi chờ, nhưng trên hết vẫn là một sự tràn ngập mà chỉ khi yêu và được yêu người ta mới thấu hiểu:

 

“Khi đã yêu thì đất trời gần lại

Khoảng các bàn tay cũng bị san bằng

Sẽ chẳng ai thấy hai người chung bước

Vì chỉ còn một bóng giữa mênh mang

 

Khi tôi yêu thì chỉ còn hơi thở

Chỉ còn thơ, và lời hẹn thiên thu

Tôi và người và một mơ và thực

Và con đường đi trở lại nguyên sơ.”

 

            (trích Và Nỗi Niềm Bảy Tỏ, trang 33)    

 

 “Tình” trong thơ tình của Đán là thứ tình yêu lãng đãng, an bình, ngay cả nỗi buồn, nỗi nhớ cũng lác đác, nhẹ nhàng. Nhà thơ không yêu để “thấy bao đêm dài” như Y Vân, cũng không yêu “như con giun ngước lên trời” như Phạm Duy, và chắc chắn không yêu kiểu Xuân Diệu “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”, ngược lại:

 

“Trong tâm hồn tôi buổi sáng chúa nhật

Có mặt trời có Chàng đi ngang đường

Có bông hoa lặng lẽ không nhìn thấy

Tôi vẫn nghe chim hót lời yêu thương

 

Tôi quyết định không mặc áo mầu tím

Ngày xinh đẹp không chi phối vì mưa

Trên cửa sổ vẽ một đường mây trắng

Tôi vẽ những nốt nhạc trên đàn xưa

 

Chàng vòng ngang tôi một vòng tay ấm

Tôi ngã vào Chàng quên cả đất trời

Biết ơn một dòng sông ngày thơ ấu

Nhớ một biển tình mênh mông sóng vui

 

Tôi đã được dựng nên  từ vô tận

Từ những ngày không biết được cội nguồn

Tôi đã được yêu mà không thể hiểu

Vẻ đẹp không lời khi nắng thôi buông

 

Tôi vẫn thế và tôi vẫn cứ thế

Chàng vẫn là Chàng yên lặng ban mai

Một buổi sáng mà tôi không buồn nữa

Khi tay Chàng nhất định chẳng rời vai

 

Tôi đã trở lại con đường tôi đã tới

Đã đi qua, và trở lại nhiều lần

Giữa không gian hoàng hoa đầy cánh bướm

Chàng, mặt trời trong dáng vóc thanh xuân.”

           

            (Chàng, Mặt Trời Trong Tâm Hồn Tôi, trang 21)

 

 

Tôi còn nhớ có một lần đọc ở đâu đó trong “chữ nghĩa của Đán”, ông viết: “Nếu bạn có một người yêu, yêu rất yêu, bạn có muốn nói về người ấy không, có muốn giới thiệu người ấy cho cả “thế giới” biết không. Tôi chắc chắn bạn sẽ “lật đật” nói rằng có. Không cần hỏi, tôi đã thấy cả triệu người trên mặt đất này đã và đang làm việc đó. Có lẽ, một phần lớn trong “thơ tình của Đán” được viết để nói về “người ấy”, giới thiệu “người ấy”, nhà thơ viết về một thứ tình yêu tinh khiết, dâng hiến, một niềm tin yêu tuyệt đối không bao giờ xa cách của mối tình đầu, tình cuối, “người ấy” chỉ “Một Người Thôi”:

 

“Tôi sẽ nói về người mà tôi yêu

Người là J, là dòng suối trong veo

Ở trên ngàn người là hoa dại nở

Là nắng ban mai là gió đổi chiều

 

Người là J, là tình yêu ban đầu

Sóng biển xanh, và mây trời rất cao

Từ muôn màu người trở thành duy nhất

Người trở thành huyễn hoặc của trăng sao

 

Người là J, đến từ không hẹn trước

Khi gió bay không ai biết về đâu

Tôi sẽ nói về người như bạn thiết

Một người thôi, và gần với ban đầu

 

Tôi tựa người hôm qua còn mộng mị

Ngày hôm nay đã vươn tới bến bờ

Như cánh én chao mình trên biển sóng

Vẽ lên bầu trời nhiều những bài thơ

 

Người là J, còn tôi là buổi sáng

Từ bình minh tôi rạng rỡ bay về

Tôi hy vọng bằng chiều cao của núi

Giấc mộng đời tôi hát những say mê.”

 

            (Một Người Thôi, trang 42)

 

Nhưng đâu đó trong “thơ tình của Đán” còn ẩn hiện một bóng hình khác, một bóng hình dường như đã vĩnh viễn đi xa:

 

“Khi tôi đến dòng sông không thấy nắng

Khi lòng tôi khô tựa lá không mùa

Tôi tìm nắm bàn tay người trong mộng

Bàn tay người ướt lại trái tim khô...”

 

            (trích Giữ Người Trong Mộng, trang 45)

 

Hình bóng này trong thơ tình của Đán là hình bóng của một “Người đã rời xa, và khuất bên trời”, khiến nhà thơ “trái tim còn thầm thì hổn hển”:

 

“Và đâu đó tiếng ngày xưa vang lại

Bỗng dập dềnh một nỗi nhớ khôn nguôi

Muốn giữ lại, mà sao trôi đâu mất

Những bông hoa trời đất vụt tan rồi.”

 

            (trích Những Bông Hoa Cho Biển Cả, trang 54)

 

Và như bất cứ người tình làm thơ tình nào trên đời, thơ tình của Đán dù trong vắt, tinh khiết, cũng không tránh được những ngổn ngang trong lòng:

 

 “Tại sao buồn, tại sao không thể buồn

Tại sao mưa trong ngày nắng rưng rưng

Tại sao câm nín, tại sao không nói

Tại sao im lặng, em còn nhớ không

 

Tại sao bỗng dưng lặng lẽ nơi này

Tại sao bỗng dưng nỗi buồn trên vai

Tại sao buổi sáng mặt trời lặng tắt

Tại sao hồng hoang trôi về đường dài

 

Tại sao hôm qua không là hôm nay

Tại sao phố đông mà không còn ai

Tại sao chiều đi mà đêm không tới

Tại sao nắng mà còn nghe mưa rơi

 

Tại sao em đi tại sao không về

Tại sao đường tình ngày ấy mà chi

Tại sao tôi không thể buông hình bóng

Tại sao em không nói lời biệt ly.

 

Tại sao tôi cứ hy vọng mình tôi

Tại sao tôi vẫn còn mơ đứng ngồi

Tại sao trong dư âm ngày tháng ấy

Tại sao nước mắt làm tôi nghẹn lời.”

 

                        (Nỗi Buồn Bỗng Dưng, trang 116)

 

Một người tình sẽ không bao giờ làm thơ nếu không mang trong lòng những câu hỏi không có câu trả lời – thơ tình của Đán dẫu tràn ngập tin yêu vẫn không ngoại lệ. Nhưng với một tình yêu, niềm tin vững chắc vào một đấng “mặt trời trong tâm hồn”, tập thơ đóng lại bằng một lời chia tay với một mảng nhọc nhằn của một quãng đời mà mỗi người trong chúng ta đều có lúc sẽ phải trải qua, và sẽ “Lại Bắt Đầu”.   

 

“Tôi sẽ chấm dứt khi quay trở về

Nỗi nhọc nhằn tôi mang trong cơn mê

Tôi bắt đầu bằng bài ca tôi hát

Một bài tình ca có tự chia lìa.”

                        (Lại Bắt Đầu, trang 158)

 

Cảm ơn nhà thơ cho một ngày Chúa Nhật “Có mặt trời có Chàng đi ngang” -  và xin giới thiệu tập “thơ tình của Đán” đến với bạn đọc.

 

Độc giả muốn tìm mua sách có thể e-mail tác giả tại kienlu@aol.com.

 

 

Nguyên Yên / Việt Báo



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,” và “nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật. Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm,
Đọc những truyện ngắn Trần Doãn Nho viết từ trước 1975 đến thời gian gần đây, có thể thấy anh sáng tác trong ý thức sâu sắc về thể loại và nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của anh luôn có sự đầu tư công phu về ý tưởng, hình ảnh, ẩn dụ, chủ đề… lồng trong cấu trúc chặt chẽ của tổng thể, trong đó các yêu cầu về miêu tả, tường thuật, đối thoại, diễn tiến, tư tưởng giữ một tỷ lệ hài hoà và hữu hiệu.
Nội dung của 60 bài pháp được nữ sĩ Ryoun Jokan ghi chép lại trong suốt năm nhập thất (đại kết thất) 1690, trước khi Thiền Sư Bankei Yotaku viên tịch 3 năm, là những việc hỏi đáp giữa Thầy và trò, giữa Thiền Sư và võ sĩ đạo, giữa người mù và người sáng mắt, giữa chấp có và chấp không v.v… chung quy là Tâm ấy chẳng sanh và Tâm ấy chẳng diệt. Tâm ấy cũng còn gọi là Phật Tâm hay Tâm Phật không sanh, Tâm Phật không diệt.
Cầm trên tay tuyển tập nhiều tác giả viết về Tiếng Hát Thu Vàng vừa mới xuất bản tại California, Hoa Kỳ, mà chị Thu Vàng nhờ nhà văn và nhà báo Phan Tấn Hải mang đến tặng cho anh chị em trong Tòa Soạn Việt Báo, đọc qua mục lục tôi thấy có khoảng 40 nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, nhà báo, nhạc sĩ và họa sĩ viết về tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng. Tôi nghĩ tiếng hát của nữ ca sĩ Thu Vàng đã thực sự chinh phục được cảm tình của nhiều người nghe, trong đó có tôi.
Đối với người dân Sài Gòn, Trường Trung Học Marie Curie là một cái tên rất quen thuộc, bởi vì ngôi trường lấy tên của nữ khoa học gia đoạt 2 giải Nobel Vật Lý và Hóa Học này là một trong những ngôi trường lâu đời nhất – thành lập vào năm 1918 – của Hòn Ngọc Viễn Đông. Nhưng có lẽ ít ai, trong đó có tôi, biết rõ về thân thế sự nghiệp và những phát minh khoa học kỳ diệu đã mang lại vô số lợi ích cho đời sống nhân loại, mà điển hình nhất sự phát minh ra chất phóng xạ Radium của bà.
Có những người làm gì cũng hay, viết gì cũng hay. Tôi luôn luôn kinh ngạc về những người như vậy. Họ như dường lúc nào cũng chỉ ra một thế giới rất mới, mà người đời thường như tôi có ngó hoài cũng không dễ thấy ra. Đỗ Hồng Ngọc là một người như thế. Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ; dĩ nhiên ai cũng biết, bởi vì anh nổi tiếng hơn rất nhiều bác sĩ khác, và được báo chí phỏng vấn thường xuyên. Nhưng anh cũng nổi tiếng làm thơ hay từ thời sinh viên. Thơ của anh nhiều đề tài, có cả thơ Vu Lan, thơ tặng mẹ, thơ tình, thơ tặng em bé sơ sinh, thơ tặng bà bầu, và đủ thứ. Trong khi tôi đọc, thưởng thức, và thán phục các vần thơ tuyệt vời của anh, nhưng tận cùng thích nhất vẫn là đọc Đỗ Hồng Ngọc viết về Kinh Phật. Chính nơi lĩnh vực này, họ Đỗ viết gì cũng hay, viết ngắn cũng hay, viết dài cũng hay, viết về Thiền thở cũng hay, viết về ngũ uẩn giai không của Tâm Kinh cũng hay, viết về ưng vô sở trụ của Kinh Kim Cang cũng hay, viết về Kinh Pháp Hoa cũng hay, viết về Kinh Duy Ma Cật cũng hay. Và
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.
“Tôi bảo cô em tôi, hoặc có thể nó bảo tôi, lại đây mình chơi trò cười nhé? Chúng tôi nằm sát nhau trên giường và bắt đầu trò chơi. Giả vờ, dĩ nhiên. Bắt phải cười. Cái cười buồn cười. Cái cười buồn cười đến nỗi nó khiến chúng tôi phải cười. Thế rồi tiếng cười thật sự ùa đến, cười điên dại, cười như nắc nẻ, hai chúng tôi như bị cuốn vào cơn triều cường khủng khiếp của cái cười. Cười phá lên từng tràng, cười hối hả, cười sằng sặc, cười không kềm hãm được, cười thỏa chí, cười tung hê, cười điên dại… Chúng tôi cười đến tận cùng của cái cười… Ôi, cười! Cười thích lắm, chẳng có gì thích bằng cười; cười là sống một cách sâu sắc.”