Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

thơ tình của Đán – một người tình. làm thơ tình. hát tình ca

06/09/202114:40:00(Xem: 2035)
20210906_150701
Tập thơ "thơ tình của Đán"

 


Chờ đợi từ vài tuần nay, chiều thứ Sáu, mở cửa thấy “nó”. Chẳng hiểu những nhà in, tiệm sách có cố ý hay không, nhưng bao giờ tập thơ, cuốn sách cũng đến vào thứ Sáu, thứ Bảy, để ngang nhiên chiếm trọn thời giờ của những ngày nghỉ.

 

Và như thế “nó” đến, “nó” nhỏ bé màu xanh lơ, “nó” tự xưng là Một người tình, làm thơ tình, hát tình ca -  “Thơ Tình Của Đán” đến, với lời nhắn: “Trong một thế giới thật buồn, người ta cần những bài thơ tình làm cho lòng mình dịu dàng lại trong sự oi bức nực nồng của trời đất.”

 

Và như thế “” vào nhà, lẻn và tim óc, dẫu đã bao lần cái đầu dặn trái tim không được đụng đến thơ tình.

 

Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa

Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua

Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa

Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”

 

            (trích “Đôi Khi Không”, bài mở đầu tập thơ, trang 3)

 

Những hàng chữ, trang thơ tiếp theo là những mong nhớ, đợi chờ, nhưng trên hết vẫn là một sự tràn ngập mà chỉ khi yêu và được yêu người ta mới thấu hiểu:

 

“Khi đã yêu thì đất trời gần lại

Khoảng các bàn tay cũng bị san bằng

Sẽ chẳng ai thấy hai người chung bước

Vì chỉ còn một bóng giữa mênh mang

 

Khi tôi yêu thì chỉ còn hơi thở

Chỉ còn thơ, và lời hẹn thiên thu

Tôi và người và một mơ và thực

Và con đường đi trở lại nguyên sơ.”

 

            (trích Và Nỗi Niềm Bảy Tỏ, trang 33)    

 

 “Tình” trong thơ tình của Đán là thứ tình yêu lãng đãng, an bình, ngay cả nỗi buồn, nỗi nhớ cũng lác đác, nhẹ nhàng. Nhà thơ không yêu để “thấy bao đêm dài” như Y Vân, cũng không yêu “như con giun ngước lên trời” như Phạm Duy, và chắc chắn không yêu kiểu Xuân Diệu “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”, ngược lại:

 

“Trong tâm hồn tôi buổi sáng chúa nhật

Có mặt trời có Chàng đi ngang đường

Có bông hoa lặng lẽ không nhìn thấy

Tôi vẫn nghe chim hót lời yêu thương

 

Tôi quyết định không mặc áo mầu tím

Ngày xinh đẹp không chi phối vì mưa

Trên cửa sổ vẽ một đường mây trắng

Tôi vẽ những nốt nhạc trên đàn xưa

 

Chàng vòng ngang tôi một vòng tay ấm

Tôi ngã vào Chàng quên cả đất trời

Biết ơn một dòng sông ngày thơ ấu

Nhớ một biển tình mênh mông sóng vui

 

Tôi đã được dựng nên  từ vô tận

Từ những ngày không biết được cội nguồn

Tôi đã được yêu mà không thể hiểu

Vẻ đẹp không lời khi nắng thôi buông

 

Tôi vẫn thế và tôi vẫn cứ thế

Chàng vẫn là Chàng yên lặng ban mai

Một buổi sáng mà tôi không buồn nữa

Khi tay Chàng nhất định chẳng rời vai

 

Tôi đã trở lại con đường tôi đã tới

Đã đi qua, và trở lại nhiều lần

Giữa không gian hoàng hoa đầy cánh bướm

Chàng, mặt trời trong dáng vóc thanh xuân.”

           

            (Chàng, Mặt Trời Trong Tâm Hồn Tôi, trang 21)

 

 

Tôi còn nhớ có một lần đọc ở đâu đó trong “chữ nghĩa của Đán”, ông viết: “Nếu bạn có một người yêu, yêu rất yêu, bạn có muốn nói về người ấy không, có muốn giới thiệu người ấy cho cả “thế giới” biết không. Tôi chắc chắn bạn sẽ “lật đật” nói rằng có. Không cần hỏi, tôi đã thấy cả triệu người trên mặt đất này đã và đang làm việc đó. Có lẽ, một phần lớn trong “thơ tình của Đán” được viết để nói về “người ấy”, giới thiệu “người ấy”, nhà thơ viết về một thứ tình yêu tinh khiết, dâng hiến, một niềm tin yêu tuyệt đối không bao giờ xa cách của mối tình đầu, tình cuối, “người ấy” chỉ “Một Người Thôi”:

 

“Tôi sẽ nói về người mà tôi yêu

Người là J, là dòng suối trong veo

Ở trên ngàn người là hoa dại nở

Là nắng ban mai là gió đổi chiều

 

Người là J, là tình yêu ban đầu

Sóng biển xanh, và mây trời rất cao

Từ muôn màu người trở thành duy nhất

Người trở thành huyễn hoặc của trăng sao

 

Người là J, đến từ không hẹn trước

Khi gió bay không ai biết về đâu

Tôi sẽ nói về người như bạn thiết

Một người thôi, và gần với ban đầu

 

Tôi tựa người hôm qua còn mộng mị

Ngày hôm nay đã vươn tới bến bờ

Như cánh én chao mình trên biển sóng

Vẽ lên bầu trời nhiều những bài thơ

 

Người là J, còn tôi là buổi sáng

Từ bình minh tôi rạng rỡ bay về

Tôi hy vọng bằng chiều cao của núi

Giấc mộng đời tôi hát những say mê.”

 

            (Một Người Thôi, trang 42)

 

Nhưng đâu đó trong “thơ tình của Đán” còn ẩn hiện một bóng hình khác, một bóng hình dường như đã vĩnh viễn đi xa:

 

“Khi tôi đến dòng sông không thấy nắng

Khi lòng tôi khô tựa lá không mùa

Tôi tìm nắm bàn tay người trong mộng

Bàn tay người ướt lại trái tim khô...”

 

            (trích Giữ Người Trong Mộng, trang 45)

 

Hình bóng này trong thơ tình của Đán là hình bóng của một “Người đã rời xa, và khuất bên trời”, khiến nhà thơ “trái tim còn thầm thì hổn hển”:

 

“Và đâu đó tiếng ngày xưa vang lại

Bỗng dập dềnh một nỗi nhớ khôn nguôi

Muốn giữ lại, mà sao trôi đâu mất

Những bông hoa trời đất vụt tan rồi.”

 

            (trích Những Bông Hoa Cho Biển Cả, trang 54)

 

Và như bất cứ người tình làm thơ tình nào trên đời, thơ tình của Đán dù trong vắt, tinh khiết, cũng không tránh được những ngổn ngang trong lòng:

 

 “Tại sao buồn, tại sao không thể buồn

Tại sao mưa trong ngày nắng rưng rưng

Tại sao câm nín, tại sao không nói

Tại sao im lặng, em còn nhớ không

 

Tại sao bỗng dưng lặng lẽ nơi này

Tại sao bỗng dưng nỗi buồn trên vai

Tại sao buổi sáng mặt trời lặng tắt

Tại sao hồng hoang trôi về đường dài

 

Tại sao hôm qua không là hôm nay

Tại sao phố đông mà không còn ai

Tại sao chiều đi mà đêm không tới

Tại sao nắng mà còn nghe mưa rơi

 

Tại sao em đi tại sao không về

Tại sao đường tình ngày ấy mà chi

Tại sao tôi không thể buông hình bóng

Tại sao em không nói lời biệt ly.

 

Tại sao tôi cứ hy vọng mình tôi

Tại sao tôi vẫn còn mơ đứng ngồi

Tại sao trong dư âm ngày tháng ấy

Tại sao nước mắt làm tôi nghẹn lời.”

 

                        (Nỗi Buồn Bỗng Dưng, trang 116)

 

Một người tình sẽ không bao giờ làm thơ nếu không mang trong lòng những câu hỏi không có câu trả lời – thơ tình của Đán dẫu tràn ngập tin yêu vẫn không ngoại lệ. Nhưng với một tình yêu, niềm tin vững chắc vào một đấng “mặt trời trong tâm hồn”, tập thơ đóng lại bằng một lời chia tay với một mảng nhọc nhằn của một quãng đời mà mỗi người trong chúng ta đều có lúc sẽ phải trải qua, và sẽ “Lại Bắt Đầu”.   

 

“Tôi sẽ chấm dứt khi quay trở về

Nỗi nhọc nhằn tôi mang trong cơn mê

Tôi bắt đầu bằng bài ca tôi hát

Một bài tình ca có tự chia lìa.”

                        (Lại Bắt Đầu, trang 158)

 

Cảm ơn nhà thơ cho một ngày Chúa Nhật “Có mặt trời có Chàng đi ngang” -  và xin giới thiệu tập “thơ tình của Đán” đến với bạn đọc.

 

Độc giả muốn tìm mua sách có thể e-mail tác giả tại kienlu@aol.com.

 

 

Nguyên Yên / Việt Báo



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tuyển tập Hoa Cỏ Bên Đường của nhà báo Kiều Mỹ Duyên đã chính thức phát hành tại Quận Cam. Tuyển tập dày 500 trang đã gói trọn tấm lòng của một người rất mực yêu thương cuộc đời, và với quê nhà.
Kể từ năm 1963 đến nay (2021) là hơn nửa thế kỷ. Các kho lưu trữ tài liệu mật của các bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng, và cục Tình báo Trung Ương Hoa Kỳ đã giải mật cho công chúng và giới nghiên cứu được tự do tiếp cận, vào xem hoặc truy cập điện tử, để mọi người có thể nhìn lại một khúc quanh của lịch sử Việt Nam một cách rõ ràng. Sách này gồm hai tập, tập 1 trình bày về cuộc vận động bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo Việt Nam và tập 2 là trình tự thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ.
Vào thời điểm này, phải chăng thơ đã là món ăn tinh thần lỗi thời, mất hương vị quyến rũ, thua mùi phở hấp dẫn khi đói bụng? Đúng như vậy, có đói mới thèm ăn. Làm sao biết tâm tư của bạn đang đói? Hỏi thử nó có mệt mỏi, có căng thẳng, có phiền muộn chuyện đời, có ghét bỏ người khác? Nếu có, đúng rồi, nó đang đói. Thơ là món ăn tinh thần cổ truyền từ tiền sử. Nếu tiểu thuyết là bữa tiệc, truyện là bữa ăn tối, thì thơ Việt chính là phở. Một món ăn độc đáo cho bất kỳ người Việt nào tại gia hoặc tha hương.
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh.
Nhân vật trong tiểu thuyết tôi là những khả thể vô thức của chính tôi (Kundera). Bởi cuối cùng là để vượt ra, vượt qua: một cái đường biên mong manh mà mênh mông đó. Ở đó, Bên kia đường biên “bản ngã” của riêng tôi chấm dứt (trang 19). Nghĩa là đạt đến vô ngã / non-self (không phải no-self). Cái đường biên đó do chính tác giả tạo ra cho mình và loay hoay tìm lối thoát, càng tìm lối thoát càng bị quấn chặt. Chỉ vượt ra, vượt qua (Gaté, gaté…paragaté…) đường biên khi có được trí Bát nhã (Prajna) thấy được ngũ uẩn giai Không, mới “độ nhất thiết khổ ách”.
Đây là một tác phẩm lịch sử từng giai đoạn của Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Nhà biên soạn sử học Hồ Đắc Huân, đã miệt mài trong bao nhiêu năm, cô đọng, trau chuốt, giao tiếp với nhiều nguồn tin tức khác nhau, cộng với hành trình từ bản thân, là chứng nhân lịch sử; đã cho ra mắt một tác phẩm để đời!
Có Tự ngã không? Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.