Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Phiếm Luận Từ Chuyện Người Cắt Thịt

27/08/202100:00:00(Xem: 1738)

ScreenHunter 347

1.

Bào Đinh mổ bò cho Lương Huệ Vương.

Tay động, vai đưa, chân đạp, gối co giản, nghe tiếng dóc xương, tiếng dao cắt thịt xoẹt xoẹt, đều đúng cung bậc, hợp với điệu múa Tang Lâm, trúng với bài nhạc Kinh Thủ (*) […]

(Bào Đinh nói) “Người bếp giỏi một năm mới thay dao, vì họ cắt; người bếp thường một tháng đã thay dao, vì họ chặt; con dao của thần nay dùng đã mười chín năm, mổ mấy ngàn con bò, mà vẫn mới như vừa mái bén. Các khớp xương kia có kẽ hở mà lưỡi dao thì mỏng, dùng cái mỏng lách vào kẽ hở, đưa vào chốn thênh thang, tất dễ dàng. […] Tuy nhiên, mỗi khi gặp chỗ gân cốt lắt léo, thần biết là khó làm, thần dè dặt, cẩn thận, nhìn cho kỹ, hành động chậm lại, đưa dao rất nhẹ, rồi bỗng nhiên thịt rời ra, rớt xuống như bùn rơi xuống đất…[…]

(Trích Trang Tử Kinh_Cổ Văn Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê, trang 50.)

(Tang Lâm và Kinh Thủ  là nhạc khúc và vũ khúc đời nhà Thương.)
 
 2.
Cả Trung Quốc, một cõi người đông như cỏ, mới có một tài năng thần kỳ như Bào Đinh, cắt thịt như gió xuyên qua lá, tưởng chừng là loạn đao, mà lại thứ tự lành nghề, đạt đến kỹ thuật cao, và nghệ thuật độc nhất vô nhị. Nhưng vài mươi năm sau, ông ta qua đời. Từ đó, không còn ai thừa kế. Tài năng vượt thời gian trở thành truyền thuyết. Về sau, biết bao nhiêu người vì truyền thuyết đã mơ tưởng tu luyện để tiến đến nghệ thuật kỳ tài. Vì không thể nào lưu truyền, tài năng cắt thịt không mang lại ích lợi chung là bao nhiêu.

Trong khi ở Âu Châu, nhất là ở Hoa Kỳ, khi tìm thấy một tài năng vượt trội, người ta phối hợp với các nhân tài khác, tạo ra một hệ thống, bao gồm phương pháp, sản phẩm, kỹ thuật, nghệ thuật, và trải nghiệm phát triển. Khi đã trở thành hệ thống, những người khác có thể sử dụng mà không cần đòi hỏi những khả năng đặc biệt. Ví dụ, tài năng của Steve Jobs cùng với những cộng sự viên khác đã đưa ra hệ thống Mac và sản phẩm thông minh iPhone. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới, người ta sử dụng iPhone, cho dù, có thể họ không biết Steve Jobs là ai.

Người xưa thường tin vào tài năng thiên phú. Một vị vua giỏi trở thành duy ngã độc tôn. Một Thành Các Tư Hãn trở thành nhân vật không thể thay thế. Tài năng thiên phú có nghĩa trời cho ai nấy hưởng. Người khác dù cố học tập cũng không thể đạt đến. Đời nay, tin vào khoa học kỹ thuật, những tinh hoa tài năng được đưa vào hệ thống, đem đến lợi ích chung. Nhờ vậy tài năng thiên phú được lưu truyền qua nhiều dạng khác nhau, kể cả dạng căn bản là truyền nghề. Hệ thống là một nghệ thuật cụ thể phân phát tài năng ra không gian và theo thời gian. Vì vậy, bất kỳ tài năng đặc biệt nào, trong thời đương đại, bằng một cách nào đó, cần được biến dạng thành của chung. Như vậy có thể tồn trữ và phát triển. Không cần phải truyền nghề. Không cần phải giấu nghề.

Nói đến giấu nghề, không có gì dễ hiểu hơn chuyện nấu ăn. Ngày xưa, muốn làm phụ nữ gương mẫu phải rành chuyện bếp núc. Phải biết làm những món ăn đặc biệt và bí quyết nấu ăn không thể tiết lộ ra ngoài. Mẹ truyền riêng cho con gái. Đứa con dâu nào hiếu thảo, mới được mẹ chỉ cho vài mánh khóe. Làm sao để luộc cá sông bằng nước biển? Làm sao ướp cải đắng để khi nhai trong miệng đến lần thứ ba thì cảm thấy ngọt? Làm sao lấy lưỡi vịt làm gỏi mà vịt không bị câm? Làm sao nấu bún sứa tươi, cắt sứa sống mà không bao giờ hết sứa?

Làm nghề nhà hàng, tiệm bánh, quán nhậu, càng giấu nghề một cách khít rịt hơn. Nếu không, bí quyết mẹ truyền con nối sẽ đi vào nhà hàng khác, quán nhậu khác, tiệm bánh khác, làm sao giữ được độc quyền? Bánh bao tuy dễ vậy mà mấy ai làm ngon? Vỏ bánh ngon là nhờ men nổi. Ai biết được bí quyết cho kiến thử men? Những hạt men do đàn kiến lựa ra là những hạt men chất lượng mang sức sống. Những hạt men bị kiến chê, nên vất đi, vì sẽ làm cho vỏ bánh lèo nhèo. Ai biết được thịt công nấu rượu đỏ là món ăn: một miếng nhớ đời? Đổ trứng Omelette với rau Sparley xắt nhỏ, thưởng thức mùi vị trước sau tấm tắc. Một nhúm hạt lựu non ăn với cá kho, vừa chua nguyên thủy vừa mặn nhân tạo, ai dám nói là không lạ lùng, thập thò nước miếng?

Chị tôi mở nhà hàng Paris-Bangkok với nhiều bí mật nhà nghề, không cho ai biết, kể cả người nhà. Tưởng rằng sẽ sở hữu bí mật nhà nghề mãi mãi. Ai ngờ, một hôm, hầu hết các bí quyết, có lẽ nhiều hơn nữa, đã được phô bày, hướng dẫn chi tiết, đầu dẫy trên mạng lưới. Cô Vành Khuyên đã mở dần ra bí mật nhà bếp từng kỳ từng món. Cô hướng dẫn rõ ràng, chi tiết và chăm chút, để người mới tập nấu dễ thành công. Những bí quyết riêng trở thành bí quyết chung. Tay ngang, chịu học hỏi, vẫn có khả năng nấu ăn cao cấp. Cô Vành Khuyên bày tỏ tất cả các bí mật về gia chánh nhưng cương quyết giữ một bí ẩn cho bản thân: Tất cả người lên mạng học nấu đều không biết dung nhan của cô. Chỉ thấy từ cổ xuống eo. Có lẽ chuyện này thuộc về bí quyết hạnh phúc gia đình.

Không phải chỉ mỗi cô Vành Khuyên, còn nhiều, rất nhiều mạng lưới khác chuyên hướng dẫn nấu nướng. Nhờ vậy, tôi mới học được vài món: Mùa Thương Tay Đợi Mắt Chờ (Mùa thương là mùa Tết, nhớ nhà. Tay đợi mắt chờ là nấu bánh chưng bánh tét, canh suốt đêm;) Hoa Tím Lục Bình (Cà tím nấu canh với lá mồng tơi;) Thủy Thủ Và Biển Cả (Vỏ tôm hùm nhồi chả tôm hoặc chả cá;) Vũ Nữ Thân Gầy (cọng ngó sen cắt ngắn, chẻ nhỏ, dài độ ¾ cọng sen, chẻ cho bung ra như áo đầm xòe. Nếu muốn ăn sống, để nguyên. Nếu không, trụng sơ qua nước sôi, đừng để quá chín. Làm sốt bằng nước cốt chanh tươi nguyên chất, pha mật ong trắng, nếm cho vừa chua ngọt, thêm ít nước ấm, một ít bột năng, một chút màu xanh dương, màu làm bánh, khuấy đều, hơi sền sệt. Cho vào microwave chạy vừa chợt sôi. Lấy ra, đổ vào đĩa. Sắp các ngó sen đứng lên. Nhìn như các vũ nữ trắng toát, thanh cảnh, ẻo lả, đang nhảy trên mặt nước …)

Khi sự giấu nghề trở thành truyền nghề, khi những sản phẩm huyền bí trình làng thành của công, sẽ giúp nhiều người làm được những việc, không cần có tài năng thiên phú. Mưa dù lạ hay quen, sẽ mang nước về sông rồi ra biển, trên hành trình công cộng đó đã phong phú phù sa và mùa màng.

Chuyện giấu nghề xảy ra trong nhiều lãnh vực, từ khoa học đến văn chương, từ từ thiện đến chính trị, từ bạn bè đến công ty… Tôi biết một câu chuyện giấu nghề khá thú vị:

Ông Sáu là thầy dạy võ Bình Định cho anh em chúng tôi. Trước kia ông là cận vệ trẻ cho ông ngoại tôi. Ông kể, môn phái của ông có 52 đường quyền hộ môn, tên gọi là Long Phượng Trảo. Chuyên bẻ xương sườn non, bẻ cổ tay, khủy tay, khớp chân, và bóp nát yết hầu. Đến đời ông chỉ còn 28 chiêu. 24 chiêu kia thất lạc vì mỗi đời thầy đã giấu đi một chiêu quan trọng mang tính sát thủ, để phòng ngừa học trò phản sư môn. Nếu chuyện này xảy ra, sư phụ sẽ dùng tuyệt chiêu giấu kín đó để hạ độc thủ kẻ phản bội. Hóa ra, giấu nghề vì sợ phản. Nghe ra chua chát, Nhưng trong thực tế, học nghề xong, phản bội là chuyện thường xảy ra. Cứ nhìn lại, làm sao người Việt mở nhà hàng, mua tiệm 7-Eleven. Làm sao vào ngành Nail, rồi tấp nập mở tiệm riêng. Có lẽ, nhờ phản nghề, nền kinh tế địa phương mới phát triển nhanh.

Phản bội là chuyện nhỏ, không đáng lưu tâm, vì đời người qua nhanh như mặt hồ thả cây đinh. Không phản cũng chìm. Phản cũng chìm. Ngược lại truyền nghề là chuyện lâu dài. Dài hơn nhiều thế kỷ. Đem sở học và tài năng cá nhân truyền bá cho tất cả những ai muốn học, phải chăng tâm tư đó đã lãnh hội được ý nghĩa làm người?

Từ khi có internet và thầy Google, truyền nghề, giấu nghề, phản nghề, không còn là chuyện thao thức, còn lại, chỉ là chuyện muốn làm hay không. Điểm tôi xin nhấn mạnh, muốn dân tộc tiến triển, quốc gia tiến bộ, phải hệ thống hóa những tinh hoa của tài năng riêng thành hệ thống chung, công việc riêng tư trở thành phổ biến, để tất cả mọi người đều có thể thực hành.

Tuy nhiên, không phải việc gì cũng có thể hệ thống hóa, biến của riêng thành của chung. Ví dụ tình yêu thì không thể và không nên hệ thống hóa. Còn vợ chồng, không thể biến thành của chung cho nhiều người ghé dùng.

(Trích sách đang viết.)
 
Ngu Yên 
 
Ghi Quan Trọng, xin phải đọc:
Tất cả các lời lẽ liên quan đến cách nấu ăn hoặc các món ăn kể trên hoàn toàn hư cấu, không có thật. Xin đừng thử nghiệm, sẽ có khả năng tử vong.
 
Trích Tạp Chí Đọc Và Viết Số 4.
Link đọc và tải xuống tạp chí miễn phí:
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
Kể từ tập thơ Vườn Dĩ Vãng ấn hành năm 1972 của thời trai trẻ phục vụ trong quân ngũ nơi quê nhà cho đến tác phẩm Hồi Sinh thực hiện năm 2020 nhưng vì trục trặc kỹ thuật, ấn hành năm 2021 nơi xứ người, nhà thơ Trần Văn Sơn đã trải qua cuộc hành trình từ những bài thơ xuất hiện trên trang báo ở Sài Gòn vào giữa thập niên 60 cho đến thời điểm ấn hành tuyển tập nầy với thi ca hơn nửa thế kỷ.
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,” và “nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật. Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm,
Đọc những truyện ngắn Trần Doãn Nho viết từ trước 1975 đến thời gian gần đây, có thể thấy anh sáng tác trong ý thức sâu sắc về thể loại và nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của anh luôn có sự đầu tư công phu về ý tưởng, hình ảnh, ẩn dụ, chủ đề… lồng trong cấu trúc chặt chẽ của tổng thể, trong đó các yêu cầu về miêu tả, tường thuật, đối thoại, diễn tiến, tư tưởng giữ một tỷ lệ hài hoà và hữu hiệu.
Nội dung của 60 bài pháp được nữ sĩ Ryoun Jokan ghi chép lại trong suốt năm nhập thất (đại kết thất) 1690, trước khi Thiền Sư Bankei Yotaku viên tịch 3 năm, là những việc hỏi đáp giữa Thầy và trò, giữa Thiền Sư và võ sĩ đạo, giữa người mù và người sáng mắt, giữa chấp có và chấp không v.v… chung quy là Tâm ấy chẳng sanh và Tâm ấy chẳng diệt. Tâm ấy cũng còn gọi là Phật Tâm hay Tâm Phật không sanh, Tâm Phật không diệt.
“Đôi khi Chàng gần, đôi khi Chàng xa / Chàng vẫn ngồi đâu đó từ hôm qua / Cho đến hôm nay, và ngày mai nữa / Dòng sông vẫn đầy và trôi đi xa.”