Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Giới Thiệu Sách Mới: Không Đứng Mãi Trong Tranh Của Lê Chiều Giang

18/07/202115:31:00(Xem: 461)



blank


Tranh bìa: Nghiêu Đề

Trình bày bìa: Uyên Nguyên Trần Triết
Dàn trang: Nguyễn Thành
Nhà xuất bản Nhân Ảnh 2021
Sách dày 164 trang
Giá US$ 16.00
Được phát hành qua mạng www.amazon.com


Link mua sách: 

https://www.amazon.com/dp/1990434193


Hoặc liên lạc tác giả

tranh55@gmail.com




***


NguyễnThịThụyVũ Viết thay Lời Tựa

“Không Đứng Mãi Trong Tranh”
LêChiềuGiang


Khi biết ý Lê Chiều Giang in tác phẩm đầu tay và duy nhất này, nhiều phần cô dành tặng đến những bạn bè của Nghiêu Đề và bạn Cô.

 

Tôi cười thú vị khi hình dung ra những khuôn mặt của chúng tôi. Những Nguyễn Đình Toàn, Viên Linh, Trần Dạ Từ, Trùng Dương, Duy Trác, Ngô Thế Vinh... Bạn bè thời huy hoàng hay cả những ngày lang bạt, khốn khó, và thê thảm.

 

Chúng tôi sẽ đọc Lê Chiều Giang, những dòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc về, nhớ tới… Những quá khứ của thời đã “Chết đi, sống lại”.

 

Và còn thêm Bạn Bè Cô, sẽ đọc với chúng ta, trong tác phẩm đặc biệt này.

 

Lê Chiều Giang viết mà như vẽ lại, như tả chân một cách vô cùng linh hoạt. Không hề tẩy xóa, chẳng tô vẽ thêm, nhưng rất lạ, Cô đã làm mới lại được những điều xa xưa, những tháng ngày rất cũ.

 

Phòng tranh Alliance Française, với nhiều bức tranh của Hội Họa Sĩ Trẻ. Những bước chân reo cho một đổi mới của nền hội họa Miền Nam Việt Nam thời 1960.

Hoặc như những chuyện xoay quanh căn chung cư bên dòng sông Thanh Đa, nơi mà Huỳnh Hữu Ủy đã nhắc: “Cư Xá Thanh Đa, căn nhà trước và sau 1975, lúc nào cũng rất đông bè bạn, nhà NghiêuĐề và ChiềuGiang, một nơi luôn vui cười rộn rã... Bất chấp hết mọi sự rình rập.”

 

Cư Xá Thanh Đa, thời Nguyễn Đình Toàn, Chiều Giang, Trần Quang Lộc và bè bạn, ôm đàn hát trên chiếc thuyền nhỏ trong những đêm trăng. Để đến bây giờ Nguyễn Đình Toàn vẫn nhắc với tôi: “Sau 75, nếu chúng ta không cùng có nhau trên “Dòng Sông Ca Hát” của nhà Nghiêu Đề, chắc chắn cả đám đã rã rục trong khô héo…”

 

Điều đặc biệt khác, tôi thích Thơ cô. Những bài thơ hiện thực đầy ẩn dụ, và bàng bạc trong thơ

 

Lê Chiều Giang, vẫn còn nguyên cái tính chất quyết liệt, không ngờ.

 

Quyết liệt như mối tình thơ mộng của Cô, với người bạn tài hoa của chúng ta. Nghiêu Đề.

 

Người đã bỏ chúng ta đi từ nhiều năm trước.


blank

 
***


Lê Chiều Giang

 

blank


Nhớ về Hội Họa Sĩ Trẻ


Tôi nhỏ xíu, tôi bé xíu.

Cũng chẳng có nghĩa những bóng lớn của Hội Họa Sĩ Trẻ đó đã che hết dáng tôi, cô học trò xinh xinh, chen chân, nhón gót xem tranh trong những chiều trốn lễ, bỏ nhà thờ…

Tôi mượt mà, tóc bay và mắt ướt, tôi thơ mộng như những thiếu nữ trong tranh.

Tôi nhìn thấp thoáng chút yêu kiều, thời của những Chagall, Pissarro, Cezanne, Matisse… Và ngay cả rất xa xưa, Rembrandt.


**********


Không khí phòng triển lãm Alliance Française, tràn đầy những tinh hoa, thoát bay và ấm áp.

Khói thuốc Haft & Haft thơm tho, Basto nặng nồng, hay Lucky mờ mịt. Mắt tôi bốc cay với khói mà tưởng như có thêm cả chút nồng nàn, sướt mướt.

Những bức tranh với tên gọi bàng bạc như Thơ.

Anh Trịnh Cung với “Vương Hương”; “Trăng, Chim, Hoa và Nàng” của anh Đinh Cường; Nghiêu Đề với “Vùng Thanh Thoát”; và Nguyễn Trung của “Đêm Chân Không” …

Tôi mê những bức tranh cổ điển của anh Đỗ Quang Em. Ánh sáng và bóng tối, lạnh toát hay vắng tanh, anh đã làm ấm lại trong tranh chỉ với chút ánh đèn dầu le lói.

Và tranh Cù Nguyễn đẹp như một thinh lặng, gắn bó cùng nỗi chết, đâu đó mãi tận cuối chân trời.


Sàigòn, những ngày xao xác cùng chiến tranh, những lửa đạn kinh hoàng Khe Sanh, Quảng Trị...

Đạn lạc tên bay tận những nơi xa vời để bảo vệ cho Sàigòn. Một Sàigòn không tiếng súng.

Và tôi, trốn hết học hành trường lớp. Tôi mê muội theo những hương thơm ngát của sơn dầu, tôi bàng hoàng bên những nét cọ sắc sảo. Nét cọ mà khi dào dạt cùng tranh, đã phải óng ánh hơn những nét bút rời rạc; chữ nghĩa lơ mơ chợt quên, chợt nhớ của tôi trong trường thi, lớp học.

Tôi bị cuốn theo những chiều rực rỡ La Pagode, những đêm Givral hoa đèn lấp lánh.

Và cả với những sáng khi Sàigòn còn mờ hơi sương, lúc phòng tranh chưa mở cửa. Nơi đó, có năm bảy chàng họa sĩ trong Hội Họa Sĩ Trẻ, ngồi nghi ngút cùng café bên góc hè của Continental Hotel, ngay cạnh phòng triển lãm Alliance Française. 

Hình ảnh mà sau này tôi xem trong phim tài liệu về những Họa sĩ thuộc thế kỷ 19th: Claude Monet, Rodin, Degas, Renoir, Cezanne… Họ đã có những sáng vang vang bốc khói cùng café, những đêm rượu đổ đầy đường trên phố Montmartre. Họ cũng đã ngồi cùng nhau bên những câu chuyện đầy màu sắc, ấm áp và chan chứa nhiệt tình, không khác gì những vị trong Hội Họa Sĩ Trẻ.


Từ The Boulevard Montmartre tới Đại Lộ Tự Do Sàigòn.

Trăm giấc mơ đã cùng với khói thuốc mịt mù bay, họ say sưa bàn bàn, nói nói về những tác phẩm tinh khôi, nhằm sáng tạo ra nhiều nét khác biệt hẳn với những tàn dư cũ.

Những bước chân reo cho một ước mơ dài: Làm mới, làm thăng hoa thêm cho nền hội họa của Miền Nam Việt Nam.

Hội Họa Sĩ Trẻ, và phố xá, và Sàigòn của những đêm mưa…  Ánh đèn đường lạnh lẽo hắt hiu, mờ mờ soi vàng những chiếc lá lao xao, rơi rụng.


**********


Leonardo Da Vinci dặn rằng, tranh là bài thơ để đọc, và thơ là bức tranh để xem. Tôi luôn lẫn lộn giữa thơ và tranh, tiện thể, tôi còn nhầm luôn Họa sĩ với Thi sĩ. 

Nghiêu Đề, chàng họa sĩ tài hoa với cả chút đa tình, sống lửng lơ như gió, đã thiết tha mời tôi ngồi mẫu. Và tôi tình nguyện, tôi hân hoan được làm người: Đứng mãi trong tranh.

                   

Trong một buổi trà dư tửu hậu của Hội Họa Sĩ Trẻ, tôi rủ theo cô bạn.

Trên đường về, cô phàn nàn: “Hội Họa Sĩ Trẻ”, tên nghe hay hay, nhưng sao toàn mấy ông… già chát?

Tôi phải lan man giải thích. Năm 1962, khi các họa sĩ muốn lập hội, đã bị nhiều khó khăn, bị từ chối bởi Bộ Văn Hóa.

Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng, lúc đó là Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên, đề nghị đặt tên lại là: Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, tên phải có thêm chữ Việt Nam, phải nghe như một “đội đá banh” của những bạn trẻ. Như thế, Bộ Thanh Niên mới có thể quyết định cho lập hội, thay vì phải qua sự can thiệp của Bộ Văn Hóa.

Và như tên gọi của một Hội đá banh đó, bỗng có những khuôn mặt không còn trẻ nữa. Lại càng không ai có sức lực nào để có thể chạy, rượt đuổi theo những trái banh trên sân cỏ.

... Những “Họa sĩ Trẻ, sao đã già, mà… lại còn già chát?”.


Với tôi, Arts sáng như trăng và long lanh không tuổi. Như khi thưởng lãm những công trình sáng tạo của Michelangelo, Lorenzo Bernini… Cái đẹp qua tượng nude của David, hoặc dáng nằm trầm luân của Teresa.

Và còn muôn ngàn những tác phẩm thời Renaissance, Baroque. Thêm cả những công trình kiến trúc, và với biết bao tượng cùng tranh… Tất cả, như đã là của muôn đời.

Arts, đã xóa hết những nếp nhăn của thời gian, và làm biến mất khoảng cách của không gian. Để cho dù tới ngàn kiếp sau, Artists vẫn luôn hiển hiện, vẫn như còn lồng lộng trước những tác phẩm, những công trình tuyệt vời, phải sống với ngàn năm của họ…


Và như thế, những nhân vật trong Hội Họa Sĩ Trẻ, lứa tuổi của 30, 40 đã sáng chói, đã như trăng như sao trong tâm tưởng tôi, cô bé thời đi học. 

Qua những tác phẩm nhiều khai phá, sáng tạo tới nơi tới chốn, và với những khởi sắc đầy tài hoa… Họ đã rất trẻ, và họ sẽ còn trẻ mãi.


Nhưng lần lượt rồi họ sẽ ra đi. 

Nói đùa như anh Mai Chửng và Nguyên Khai, khi dặn dò Nghiêu Đề bên giường bệnh: “Xuống đó nhớ lập lại Hội, xong xuôi rồi thằng nào xuống trước sẽ ghi danh…”


Năm 1974, anh Lê Tài Điển từ Pháp về, ngồi với anh Nghiêu Đề và tôi ở phòng tranh La Dolce Vita, phía sau khách sạn Continental Palace. 

Đặc biệt của La Dolce Vita là họ rất chuyên nghiệp và kỹ lưỡng về ánh sáng cho góc độ của từng bức tranh.

Ánh sáng hài hòa đã làm nổi bật, ấm áp, và như làm đẹp thêm cho những tác phẩm của Hội Họa Sĩ Trẻ, khiến anh Lê Tài Điển muốn ngồi lại mãi, dù phòng tranh đã tới giờ đóng cửa. Anh dặn dò: “Cô đừng bao giờ quên, hạnh phúc và may mắn nhất của chúng ta là, được ngồi chung quanh những bức tranh, những tác phẩm tuyệt vời...”


**********


Tôi café mỗi sáng, rượu đỏ mỗi tối bên những tranh của Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Đinh Cường, Nguyễn Lâm, Ngy Cao Uyên, Nguyễn Phước…  Những xanh mượt mà. Những vàng ánh xôn xao. Những đỏ thắm như mặt trời, trắng xóa như sẽ chẳng còn thấy gì; hay những màu âm u lạnh toát trong tranh Nghiêu Đề…


Bắt chước La Dolce Vita, tôi thắp sáng những ánh đèn, tôi tạo ra một không gian ấm áp  và bừng lửa. Những ánh đèn rực rỡ đôi khi, đã soi xuyên qua bóng đêm tối tăm, lạnh lẽo.

Ánh sáng trầm như nhạc, sắc như gươm đã như ngàn tiếng hét hò trong đời sống tôi: Lặng im.

Ánh sáng như giục giã, như gọi mời, để lắm khi dù đêm đã sắp tàn, những nhân vật vẫn lặng lẽ, vẫn mơ hồ bước ra từ tranh…

Họ điềm đạm ngồi uống với tôi, nhắc lại cùng tôi những điều rất xa xôi, từ trăm năm cũ.




Tiệc Ốc Ma

                                   

“Hãy thắp cho anh một ngọn đèn

Một ngọn đèn tóc tang, dửng dưng…”

[Nhạc Nguyễn Đình Toàn]

                                                                 


Phim “Xa Lộ Không Đèn”, có từ năm 1972. Dù chưa bao giờ xem, nhưng tối nay, tôi lại chợt nghĩ đến.

Ánh đèn của những chiếc xe máy, vòng vèo lướt ngang, vội vã. Chút ánh sáng chớp tắt lập lòe đã không đủ cho chúng tôi nhìn rõ mặt nhau. Nhưng sao tôi lại hình dung ra cuốn phim ngày trước, với những hình ảnh màu mè, những tấm quảng cáo đã được dán khắp nơi, ở mọi hè phố của Sàigòn, những năm xưa... 

Sau 1975, cả nước sống triền miên trong những đêm không đèn. Và đã chẳng có ai cần phải ra tận xa lộ mới thấy được cảnh phim đầy gay cấn trong “Xa lộ không đèn” của Hoàng Anh Tuấn.

Tối nay, anh chị Nguyễn Đình Toàn và chúng tôi, đang đứng ngay chân cầu xa lộ âm u. 

Sàigòn của chúng tôi. Sàigòn với những đêm không đèn đóm...

Anh Nghiêu Đề quăng tàn thuốc xuống lề đường đọng nước, tiếng nói Anh lúc nào cũng hiền hòa:

- Vụ tụi nó mời mình vô cái Hội Văn Nghệ, Văn Hóa gì gì đó, Ông thấy sao?

- Tôi đã nói với chúng nó một câu trừ hao rồi: “Hội nào mấy ông mời, tụi tôi cũng vô hết, nhưng để cho chắc ăn, tôi muốn biết, nếu khi nào cần ra khỏi mấy cái Hội đó, thì mấy ông có cho chúng tôi ra hay không?”. Nghĩa là, vô rồi thì có còn ra được nữa hay không?

Chị Thu Hồng cười vang với lối nói cà khịa của Nguyễn Đình Toàn, ông chồng đanh đá.

Trước khi đạp xe về hướng Làng Báo Chí, anh Toàn dặn dò:

- Thôi, thân thằng nào thằng nấy lo…


Nhưng chúng tôi cả đám đã chẳng ai cần “lo lắng” gì. Toàn những tụ họp và rong chơi.

Một sáng chủ nhật, khi tôi đang đứng xếp hàng chờ mua chút thực phẩm Hợp Tác Xã. Chị Thụy Vũ và chị Thu Hồng tới tìm, tay chị Vũ cầm một cục gạch. Chị thành thạo bỏ xuống chân tôi, như một thế chỗ.

Tôi gửi gắm cục gạch để người hàng xóm nhích lên giùm. Tôi đoán, chắc cả tiếng nữa mình mới cần trở lại.

Ngồi chờ chúng tôi ở Café Cây Bông Gòn ngay cầu Kinh Thanh Đa, là anh Nguyễn Đình Toàn, Nghiêu Đề và Dương Thụ, người nhạc sĩ bỏ Hà Nội vô Sàigòn sớm nhất.


Xong Café với đủ thứ chuyện buồn vui, khi thầm thì, lúc to nhỏ... Tôi mời bạn bè về nhà dùng bữa cơm trưa với những thứ vừa mua được từ cửa hàng Hợp Tác Xã.

Thiên hạ cứ hay bàn về “hạnh phúc”, hai chữ vừa đắt đỏ, vừa khó khăn, lại khó tìm. Nhưng sau 1975, chợt nhiên mà “hạnh phúc” rất dễ nhìn thấy: Đôi khi chỉ là vì dưới cái nắng như điên của Sàigòn, bỗng có ai đó đang xếp hàng bỏ đi, nhường cho mình chỗ của họ; hoặc ráng kỳ kèo thêm trái ớt, mà đã không bị cô bán hàng Hợp Tác Xã đá thúng đụng nia, lườm lườm, nguýt nguýt.

“Niềm vui”, cũng chẳng ai cần phải lặn lội kiếm tìm xa xôi. Nhiều khi nó cũng rất đơn sơ, rất tội nghiệp. Hân hoan vui sướng chỉ vì mua được con cá bự hơn, hay những kí-lô gạo không bị nhiều sạn cát, đầy meo mốc…

Chị Hồng còn dặn dò trong lo lắng: “Cô nhớ đừng cho bột ngọt vô cá thịt trước nhé, chất ngọt của nó sẽ biến mất…” Chút quan tâm của chị, như trải ra sự đắn đo, dè sẻn của mọi chúng tôi. Cứ như cuộc đời chẳng có gì cần phải nhớ đến, cả nước chỉ còn biết quanh quẩn bên miếng hành hay những bó rau, loại rau có chút màu úa vàng, heo héo.

 Và tôi đã chẳng bao giờ quên hình ảnh chị Thụy Vũ hôm đó, đặt lên bàn ăn một dĩa cá kho, mà chị đã phải đổ thêm nước vào như một tô canh, vì sợ thiếu…


Chúng tôi sống gắn bó, dễ thương trong thời đói rách. Dù biết rằng chẳng ai đã cam tâm, nhưng phải cố gắng đào bới, tìm cho ra những thú vị trong mọi cảnh đời trầm luân, gay gắt... Anh Toàn hay ghé Thanh Đa kể những chuyện cười dí dỏm, nhưng với giọng đầy chua chát, đắng cay:

“Bác Toàn ngồi chờ Bố cháu về nhé, Bác có muốn dùng trái cây không?”

Nghe tới “trái cây”, mừng vì thèm đã từ lâu, vừa “ừ” xong thì thấy nó đặt trên bàn một rổ đầy… những trái cóc xanh!


**********


Nhưng chẳng phải lúc nào chúng tôi cũng cười cợt, để vượt qua được những sống và chết của một thời đầy tai ương, khó khăn và bất trắc.

Chị Toàn lo chạy từng bữa ăn cho Thức, Tri, Uyển và Xíu.

Chị Thụy Vũ, vật vã với áo cơm, nuôi đàn con nhỏ. Chị tất bật đến nỗi, đời sống lam lũ đã biến phong thái chậm rãi ngày xưa, thành ra một tướng đi lúc nào cũng như sắp chạy. Để có nhiều lần cùng nhau đi Café, Anh Toàn cứ phải níu chị chậm lại bằng câu nói đùa: “Thụy Vũ có sợ bị Tô Thùy Yên rượt, tóm bắt lại hay không mà phải đi nhanh dữ vậy?”

Riêng tôi, phải cùng với chị Lĩnh Mai vợ anh Nguyễn Trung, lên Crystal Palace nhận áo thun về cho hai họa sĩ vẽ những hình Walt Disney.

Nguyễn Trung và Nghiêu Đề vẽ tranh sơn dầu xấu đẹp ra sao, các bà hàng chợ không cần biết, để có khi chê bai những chiếc áo đã được đặt vẽ một cách thậm tệ, khiến hai Ông vừa giận, vừa tức điên người.


Dễ thương nhất là một sáng chị Hồng và tôi, vòng vo mãi quanh chợ Sàigòn, cũng chẳng mua được gì nhiều cho dịp tết sắp đến. Chúng tôi nhàn nhã, đi dọc theo đường Lê Lợi.

Chợt tôi giật mình vì tiếng cười khác lạ của Bùi Giáng. Chị Hồng vội trấn an: “Đừng sợ, ổng nhận ra tụi mình đó”.

Rất tinh nghịch, ông chạy vượt lên trước chúng tôi, rồi chợt quỳ xuống theo dáng vẻ của thợ chụp hình. Thay vì tròn những ngón tay dán vào mắt như hai ống kính, Bùi Giáng làm chúng tôi đỏ mặt, khi ông áp vào mỗi mắt bằng hai ngón tay, qua một hình thù rất tục tĩu. Nhưng cũng đành, chị Hồng và tôi nghiêm chỉnh đứng cho Bùi Giáng bấm cả chục tấm “hình”, mang về làm… kỷ niệm như lời Ông năn nỉ, dặn dò.

Chúng tôi vừa bước đi, Bùi Giáng chợt quay trở lại, rất hồn nhiên, Ông cửi phăng chiếc áo caro đỏ, cho thiên hạ thấy rõ một thân hình trơ xương, ốm yếu. Ông chìa cái áo dơ và rách ra hỏi chị Hồng: “Đổi áo không?” Chúng tôi chỉ còn biết cười tung tóe. Và ông cũng cười, âm thanh nghe hào sảng, ngổ ngáo và vô cùng... Bùi Giáng.



Có những đêm chúng tôi ngồi Café. Điện cúp tối tăm, chỉ còn chút vành trăng mỏng dính, treo lửng lơ rất mơ màng. Anh Toàn mượn cây đàn của chủ quán, ngồi ngay giữa trời, thầm thì hát.

Nghiêu Đề và tôi cùng im, cùng nghe và cùng chết lặng. 

Anh đang hát cho ngày chúng tôi sắp ra đi. Đi tới một nơi mà toàn dân thiên hạ đều mơ ước: California. 

Anh Toàn trách chúng tôi mang theo cái “sân khấu”, cùng cả với “Dòng sông ca hát”.

Chúng tôi sẽ bỏ lại biết bao nhiêu bè bạn bên một đời sống u hoài, buồn bã, mà không còn có nơi nào để gặp nhau thường xuyên như trước nữa. 

Thanh Đa, căn chung cư nhỏ nhưng là chiếc hộp rất lớn, đã gìn giữ lại rất nhiều khuôn mặt, với muôn ngàn kỷ niệm của chúng tôi, sống qua những điêu linh, và rủi ro của quê hương trong bao tháng năm dài...

Cuối năm 1984, khi chúng tôi ra đi, đã chẳng ai nghĩ sẽ còn có bao giờ trở lại. Và bởi thế, chuyện chia tay cứ như là mãi mãi.


Hãy thắp cho anh một ngọn đèn

Dù mịt mù xa xăm

Dù mệt nhoài trông ngóng…”

[Nhạc NguyễnĐìnhToàn]


**********


Anh chị Toàn mừng vì Sàigòn đêm qua mưa dầm, khiến rất nhiều con ốc ma đã lần mò, bò chậm chạp trên những khóm cây thâm thấp ướt, trước hiên nhà.

Bữa tiệc tiễn chúng tôi ra đi không phải ở Cư xá Thanh Đa, mà là nhà anh chị Nguyễn Đình Toàn bên Làng Báo Chí.

Không cá thịt, cũng chẳng phải cơm chay. Thức ăn đặc biệt chỉ là những con “Ốc Ma”.

Ốc Ma. Mới nghe tên thôi mà tôi đã co hết người, vì sợ hãi.

Chị Thụy Vũ diễn giải rằng, đây là một loại ốc đặc biệt, vừa mắc tiền, vừa hiếm hoi mà dân Châu Âu rất thích. Bởi anh Hồ Trường An bên Pháp phải đặt mua trước mới có.

Chị Thu Hồng đơn giản hơn, khai ra cùng bè bạn: Hôm nay chúng ta có Ốc Ma vì không có tiền đi chợ. Món đặc sắc này là do sáng kiến của chị Thụy Vũ.

Và tất cả chúng tôi đùa vui, líu lo bên những dĩa ốc tỏa khói, thơm ngát…

Trần Quang Lộc đã ngồi lại, hát cùng chúng tôi cho đến lúc đêm tàn.


“Em có nhớ căn nhà xưa

Bên khu vườn cải

Nơi những sớm mai nằm nghe

Nắng giòn trên mái

Ở đó có những lũ sên bò quanh

Có tiếng khóc hơi đèn nhang

Có giếng nước soi trời trong…”

[ThuHồng, nhạc NguyễnĐìnhToàn]


Đêm, lời nhắc nhở của một ngày sắp hết. 

Có phải khi ngày tinh khôi bắt đầu, là lúc đêm còn đang tối tăm?


“Hãy thắp cho anh một ngọn đèn

Dù lửa tàn trong anh

Không còn đủ

Khêu thêm đèn sáng…”

[Nhạc NguyễnĐìnhToàn]


**********


Năm 1998, một ngày sau khi tới Mỹ. Anh chị Nguyễn Đình Toàn vội vã xuống San Diego tham dự buổi tiễn đưa anh Nghiêu Đề. Nhưng tiếc là mọi chuyện đã xong hết, chỉ vài giờ trước khi anh chị đến.

Anh Toàn nói lời cuối cùng bên chân dung Nghiêu Đề: “Không lẽ cuộc đời chúng ta toàn phải chạy? Chạy hớt hải, chạy, chỉ để rượt theo những điều... chẳng còn có bao giờ kịp nữa”.


Và em, cuối cùng cũng đã không kịp “chạy” lên trong ngày buồn nhất. 

Ngày Chị ra đi…


“Mong cho người về được nơi sẽ đến

Ta chia tay

Ta chia lời vĩnh biệt”

[Nhạc NguyễnĐìnhToàn]




Café âm u


“...Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng…”

[PhạmThiênThư]


Khi bay tới Havana, tôi không ở tại thành phố có những kiến trúc nửa cổ điển, nửa tân                                                                          

kỳ. Những hào nhoáng của vài building, cố gắng hết sức để từa tựa như White House hay Tòa Nhà Quốc Hội ở Washington DC.

Đáp chuyến xe lửa ầm ĩ, còn nguyên những trăm năm của một chuyến tàu vừa chậm chạp, vừa cũ kỹ. Từ Havana tôi ghé Matanzas Town.

Loanh quanh trong những xóm nghèo, tôi tìm ra con phố bé xíu, nơi tôi hỏi thuê một gian nhà nhỏ, chẳng có chút tiện nghi nào.

Tiện nghi? Có phải đã chẳng đâu bằng nước Mỹ, nhất lại là California...

Khi đến với Cuba, tôi mê những heo hắt, những nắng tàn mưa sớm, cùng sự quạnh hiu của mỗi đêm về, trong những khu xóm nghèo nàn.

Mỗi chiều, tôi hay ngồi café ở một quán nhỏ ngoài trời. Dựa lưng bên tường vôi loang lở, nhìn những vũng nước chẻ đôi chẻ ba trên nền gạch vừa nghiêng chao, vừa như sắp vỡ.

Tôi ngồi đó tới tối, chờ khi ánh đèn măng xông thắp sáng. Cái ánh sáng không tối, cũng chẳng bao giờ đủ sáng, hắt ra từ cái xóm lạ mà như đã rọi soi, đã theo tôi tìm về chút tàn rơi, của một đời sống từ những tháng ngày vô cùng xưa cũ…


**********


Ôm ấp nhiều mơ màng, tuổi 15, 17 tôi mang thơ Phạm Thiên Thư rải trên tóc thơm tho, viết trong tà áo trắng.


“... Anh khoác áo nâu sòng

Em chân trời biền biệt…


... Bây giờ anh qua đó

Còn thấy chữ trong chuông…”

[PhạmThiênThư]


Và rồi khi đất nước điêu linh năm 1975. Những thơ, những văn chương chữ nghĩa đã rụng rơi theo mọi thứ hoang tàn, của một quê hương lầm than với đầy những tai ương, và điên đảo.


Lần đầu tiên anh đến nhà chúng tôi ở Cư xá Thanh Đa, Phạm Thiên Thư chẳng mang dáng vẻ gì của một Thi sĩ như tôi từng tưởng tượng, qua những vần thơ hằng đọc thời thiếu nữ. Anh cũng chẳng màng gì nữa đến chuyện thi ca, văn chương hay thơ phú.

Nghiêu Đề và Phạm Thiên Thư, hai nhân vật sống vất vưởng trên mây, giờ phải ngồi giữa nhà, bàn chuyện cơm áo. Đó là những tháng ngày của đầu năm 1977.

Anh nói với giọng điềm đạm, chậm rãi. Chú chó nhỏ của tôi nằm bên bàn tay ve vuốt của Anh mà như sắp ngủ. 

“Con chó liêm sỉ”, tên mới chúng tôi gọi, khi qua đã nhiều ngày mà nó nhất định không ăn bo bo, mì sợi, khoai sắn, như chúng tôi đã phải ăn mỗi sáng, mọi trưa và chiều tối…

Nó có liêm sỉ hơn chúng tôi, nó quyết liệt, nó thà nhịn đói, nó thà chết.


**********


Phạm Thiên Thư giận dữ với câu chửi thề hiếm hoi, quăng hộp diêm mà dù cố gắng lắm, cũng chẳng có que nào cháy, vô lò than. Loại than mà không phải riêng anh, cả nước đã không ai nhóm nổi. Có lần tôi đã phải đầm đìa nước mắt vì khói và với cả tức giận, vì sau hai tiếng loay hoay, tôi cũng không biết làm sao cho than cháy trước bữa cơm chiều.


“Quán” Café mà luôn chỉ có hai người. Anh Nghiêu Đề và tôi.

Một ông yêu thơ Phạm Thiên Thư, có căn nhà trên đường Phan Thanh Giản, tốt bụng cho Anh Chị kê hai chiếc bàn nhỏ bên góc hiên nhà để bán café, đặc biệt là chỉ được bán buổi chiều, sau 5 giờ.

Quán không có điện, chút ánh sáng vật vờ từ những ngọn đèn đường, không đủ cho chúng tôi nhìn rõ mặt nhau. Nhờ chút ánh lửa từ lò than rực rỡ, có khi đã làm cho đêm bớt tối tăm, và như đã sưởi ấm bốn người chúng tôi, nhỏ to quanh những câu chuyện mà ai cũng chỉ dám thì thào, nho nhỏ...

Khởi đầu cho những tiếng cười, luôn là lúc anh Nghiêu Đề quăng gói Vàm Cỏ trên bàn mời mọc: “Hút đi ông, hút đại đi cho nó bổ”.

Mỗi tháng, “Văn nghệ sĩ” được mua 4 gói thuốc lá, anh Phạm Thiên Thư phải để dành Vàm Cỏ để bán lẻ cho khách, anh chỉ hút thuốc “lá đu đủ Lạng Sơn”.  Rất chậm rãi, và lặng lẽ, anh quấn những sợi thuốc lá trong tờ giấy lịch, hình ảnh trông hiền lành, lại có chút gì như sắp cam tâm.

Để ý, tôi thấy anh chỉ sôi nổi khi bàn về “Dưỡng Sinh Điện Công”, một môn Đông Y mà sau 1975 rất nhiều người theo học, vì cả nước có nhu cầu mà chẳng bao giờ được đầy đủ thuốc men.

Bạn bè thường nhờ anh hướng dẫn về thuốc Nam, nhân tiện anh giúp bấm huyệt cho hết nhức mỏi, đau tứ chi, hay cả đau đầu...

Có khi tôi thấy anh có tướng của một ông thầy bốc thuốc hơn là một Thi sĩ. Tôi đã dần quên đi một Phạm Thiên Thư có những vần thơ trác tuyệt, một Phạm Thiên Thư đã mang đầy hương lửa, vào giấy vở học trò thơ mộng của chúng tôi.

Thay vào đó, chị Mai Trinh, hiền thê của anh, và cũng là ái nữ của nhà văn Hoàng Ly.

Với đôi mắt long lanh sáng, bên bếp lửa Café, chúng tôi thường được nghe đọc những bài thơ Chị làm cho Phạm Thiên Thư. Những vần thơ đẹp như trăng, và rất nồng nàn.


 Café Phạm Thiên Thư vắng tanh, với những im lìm, dù quán chỉ xao xác với hai chiếc bàn nhỏ.

Thỉnh thoảng Thi sĩ Bùi Giáng, vai khoác chiếc túi rách tả tơi, tay kéo theo sợi dây dài có gắn rất nhiều lon sữa bò sét rỉ. Với vẻ mặt hóm hỉnh, Ông nghênh ngang tới ngồi ở chiếc bàn còn lại.

Tiếng kêu của những lon sữa kéo lê, khi chầm chậm, lúc vội vã trên nền ciment, tạo ra một âm thanh vừa kỳ quái, vừa dễ sợ. Cộng thêm là tiếng cười man dại, đầy cuồng điên của Bùi Giáng…


Nhưng đó là những âm thanh, những lao xao duy nhất của Café Âm U.


**********


Tôi uống tới ly café thứ tư, trong buổi chiều cuối cùng ngồi với Cuba.

Mưa lất phất lạnh, tôi vẫn dựa lưng trên vách ướt ngoài trời, vẫn ngó mông xa ra con hẻm nhỏ, có những mái nhà hoang sơ ướt.

Chủ quán múa tay cho tôi hiểu, phố xá đang bị cúp điện. Bà muốn tôi vô trong ngồi cho ấm áp.

Hơ đôi tay lạnh, tôi nhìn ngọn lửa đỏ chấp chới trong bếp nấu café. 

Ánh lửa làm bùng cháy nỗi nhớ của tôi về quán café tăm tối của Phạm Thiên Thư 40 năm về trước. Cái quán mà bàn ghế cũng quạnh hiu, chỉ có bốn chúng tôi buồn rầu ngồi thở than cùng ế ẩm. Café âm u tối, Café với những mưa bay, và gió se sắt lạnh của Sàigòn.


“Quán cúp điện” ở tận Cuba, mà sao tôi lại thiết tha nhớ về những con đường tăm tối? Những ngày Sàigòn, nhiều khi ánh điện đã chẳng tới được bất cứ nhà ai.

Đêm đó, cũng như mọi đêm không đèn đóm. Café Phạm Thiên Thư ngoài ánh lửa, còn có chút trăng soi. 

Trăng nghiêng trên tóc anh, và lần đầu tiên chúng tôi nghe anh thầm thì, lan man đọc lại những vần thơ cũ.


“... Xưa ta hẹn với nhau 

Tìm nhau giữa vô thường

 Anh hóa thân làm mực 

Thấm vào cuốn kinh thơm…”


“... Xưa em làm chữ biếc

Nằm giữa lòng cuốn kinh

Anh là Thiền Sư buồn

Ngồi tụng dưới ánh trăng…”

[Phạm Thiên Thư]


**********


Rời Cuba khi trời còn mờ mờ tối, quán Café tôi hay ngồi vẫn chưa mở cửa.

Phía trước tôi, là một ông Cuban. Trong ánh sáng mù câm, tôi chẳng thấy gì, chỉ nghe tiếng rớt rơi của những chiếc lon, mà Ông đang quăng ra từ vài đống rác nhỏ ven đường.

Chút lúng túng của những tiếng rơi, sao tôi nghe như nhiều gần gũi?


Suốt chuyến bay dài, tôi đã chẳng nghe thấy gì khác. Bên tai tôi là vang vọng cái âm

thanh lạ kỳ… 

Âm thanh từ những chiếc lon được kéo rất ngập ngừng, nhưng lê thê buồn của Bùi Giáng.



Nói Với Ngàn Thông


" Ở ăn với Mẹ mày nhiều

Có trưa hộc máu, có chiều trào cơm..."

Nguyễn Đức Sơn


Bút hiệu, một ẩn khuất của định mệnh, vô hình trung đã gắn bó cùng tác giả cho đến hết một đời người. Nói thế chẳng có nghĩa là tôi đã duy tâm, nhưng phải nghiệm theo cách đó mới giải thích được "Sao Trên Rừng" của ngàn thông trên vùng thâm u Phương Bối.

Từ balcony của căn chung cư nhỏ, tôi hay đứng ngó mông ra xa nhìn chút nắng nhạt nhòa trên những tàn cây thấp rất xanh, chi chít mọc dọc theo bờ sông bên kia, nơi có con đường mòn rất dài, loanh quanh dẫn qua Làng Báo Chí.

Cái tĩnh lặng của chiều tà, dù trên đồi cao hay đường quê, biển khơi hay ngay trên dòng sông nho nhỏ trước hiên nhà... với tôi luôn là những giấc mơ êm ái.

Hôm nay, "chiều" của tôi đã không còn thanh tịnh. Mắt tôi chằm chằm nhìn theo một người mặc áo thụng dài màu lam, ông nắm con chó quăng rất xa xuống nước, chờ cho đến khi nó loi ngoi lúp xúp lên được bờ, ông lại quăng nó xuống nước trở lại, và cứ cả chục lần như thế... Không hiểu chú chó nhỏ có thích thú với cách đùa của ông chủ hay không, nhưng từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy thương nó lạ lùng, thương rồi sốt ruột đến nỗi không còn dám nhìn thêm chút nào nữa.


Khi nghe tiếng đập cửa dồn dập, tôi mở rất vội vàng và đứng sững nhìn. Ông Sư và con chó ướt nước đứng chờ bên chiếc xe đạp cũ kỹ. Chẳng hiểu gì và sao vậy, tôi chỉ nhìn con chó nhỏ mà cảm thấy như toàn thân mình lạnh giá.

Chẳng chờ gì tôi, ông hỏi trước:

- Nghiêu Đề, sáng có nhắn ra chơi, hắn, hắn về chưa cô?

Ngạc nhiên, té ra cái người "thấy mà ghét" đã hành hạ con chó nhỏ lại đang đứng trước mặt. Rất máy móc, tôi chạy vô gọi anh Nghiêu Đề ra mà "chịu trách nhiệm".


Thời gian đó Lâm Triết tá túc nhà chúng tôi ở cư xá Thanh Đa. Anh gốc người Bình Định, rất thân với Nguyễn Đức Sơn. Cả ba ông mày mày, tau tau mừng rỡ với một giọng phải nói là "la làng" của ông khách lạ. Việc đầu tiên tôi làm là lấy ngay máy sấy tóc hong khô cho chú chó nhỏ đáng thương và tội nghiệp của ông Sư. Nó rúc vào cánh tay tôi trìu mến như một lời cảm ơn ấm áp. Tôi cũng ôm nó trong lòng như một vỗ về đầy thương yêu...

Trước khi sửa soạn cho bữa ăn tối, ngập ngừng tôi hỏi nhỏ Nghiêu Đề về mặn, về chay. Ông át hết giọng mọi người, dù tôi cũng đang nói rất khẽ:

- Trước tiên, Cô đừng gọi tui bằng Sư bằng Thầy. Tui đây, Nguyễn Đức Sơn, thằng phải vô chùa nằm vì trốn quân dịch, có vợ với con cái rất đông. Sống trong chùa nhưng toàn ăn mặn với thịt, cá, và nước mắm...

Ông "hét" ra một tràng chữ nghĩa làm tôi bối rối, chỉ Lâm Triết và Nghiêu Đề hiểu chuyện, cười thản nhiên. Riêng tôi đã thấy rất ngại ngùng, nhủ với lòng chắc phải e dè với lối nói năng bạt mạng của người khách mới.

Nguyễn Đức Sơn, cái tên vừa lạ lại vừa quen. Quen vì đâu đó trong những chuyện trò, thiên hạ hay nhắc đến, lạ vì tôi chưa hề bao giờ đọc thơ anh.


Thời đi học, tôi mê mải với những tác phẩm được dịch từ nhiều ngôn ngữ trong tủ sách của ông anh trên căn gác nhỏ. Tôi đã đọc hết không chừa cuốn nào một cách say mê. 

Thẩm thấu được những chữ nghĩa đẹp ngời của văn chương, hay đã bị "tẩu hỏa nhập ma" bởi làm dáng, làm điệu với một núi sách thì tôi không biết, nhưng nhất định cứ phải là Tagore, Kahlil Gibran, hay Hermann Hesse… 

Tôi mê sách cho đến nỗi khi bị Ba Mẹ chống đối chuyện nhân duyên của tôi với anh Nghiêu Đề, bị dọa đuổi ra khỏi nhà hay đăng báo "từ con"... 

Mọi biện pháp đều đã không cách gì thành công, và trước khi Ba Mẹ tôi nhân nhượng, anh tôi, bằng một giọng trang trọng hỏi: “Hãy cho anh biết nguyên do nào đúng nghĩa nhất..." 

Có hay không một nguyên do đúng nghĩa? Vậy thì chỉ có Trời mới hiểu chứ sao lại là tôi? Nhưng rất nhanh trí, tôi nhớ ra anh mình mê sách, lí nhí tôi trả lời: "Vì nhà Nghiêu Đề có một tủ rất nhiều sách". Cái nguyên do vớ vẩn và ngớ ngẩn lại rất lạc đề khiến anh tôi đập bàn hét: "Vậy thì mày phải đi mà lấy cái ông Khai Trí hay Xuân Thu..."  Chữ "mày” lần đầu tiên anh dùng để xưng hô với cô em nhỏ đã làm tôi hiểu đến nơi đến chốn mức độ giận dữ của gia đình mình trước cái quyết tâm, nhất định... đi lấy chồng của tôi.

Vậy đó, mê thơ Kahlil Gibran nên còn rất hời hợt, lạ lẫm với thơ Nguyễn Đức Sơn, và tôi vẫn chưa vội đọc dù hôm đó anh đã đề tặng cuốn "Tịnh Khẩu".

Sau này, đâu đó trong một tạp chí nào tôi không nhớ, bỗng thấy thích một chút thơ của anh:


"... Mẹ con muôn kiếp nào ngờ

Đời Cha mạnh khỏe cũng nhờ rong chơi..."


Lần duy nhất tôi được gặp chị Phượng, đi cùng anh Nguyễn Đức Sơn tay dắt chiếc xe đạp xẹp bánh. Ai cũng ướt mồ hôi dưới cái nắng chang chang, dễ sợ của Sàigòn.

Nghiêu Đề và tôi ngồi bên lề đường, uống nước mía, chờ vá xe cùng anh chị. Dưới ánh nắng chói lòa, gay gắt mà tôi vẫn nhìn ra trong đôi mắt chị ẩn chứa những buồn bã cùng sự chịu đựng vô bờ...

Lóng lánh trong thơ của các Thi Sĩ là những bà Tú Xương (sao nhiều bà Tú Xương vậy?)

Câu hỏi này cũng làm tôi nhớ bài thơ Trần Tuấn Kiệt tặng Nghiêu Đề:


".... Ta ngồi hát nghêu ngao

Ba mươi năm rồi đó

Chỉ thấy một vì sao

Thôi tối rồi, đi ngủ


Trong mộng, ước gặp mày

Gặp nhau nói mấy lời

Ngủ xong rồi... vui chơi..."

(Trần Tuấn Kiệt)


                                                                                   **********


Sau 1975 Việt Cộng bày ra cái "Hội Văn Nghệ", trụ sở này đặt ở ngã tư Hiền Vương và Trương Minh Giảng. Nơi đó, mỗi tuần các vị Văn Nghệ Sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa phải tới trình diện. Nhưng với thói lè phè cố hữu, nơi đây chỉ là chỗ để tụ tập, café và tán dóc. 

Tiền bạc không có, mua một ly café mà xin thêm năm bình trà để có cớ ngồi từ sáng đến trưa...

Khoảng chừng mười hai giờ, Hồ Thành Đức gõ leng keng chiếc muỗng lên cái nắp nhôm của bình trà, rồi rất hài hước anh réo bằng giọng Quảng Nam, kéo lê thê, kéo nặng nề: "Tan hàng, tan hàng, về thôi bay!" 


Nguyễn Đức Sơn không thường lui tới Hội Văn Nghệ, nhưng khi đã tới anh đều làm anh em ngạc nhiên với quần áo, giày và đầu tóc chỉnh tề, một điều không từng có trước 1975. 

Anh ngồi đó lầm bầm chửi bóng, chửi gió, chửi liên miên… Anh nói ra những sự thật mà ít ai dám đề cập đến.

Anh chửi hết từ phường khóm tới lãnh đạo... Thiên hạ nhát gan, không ai dám ngồi chung bàn vì sợ tai bay vạ gió, sợ những kẻ tiểu nhân "thừa bóng đêm quăng lựu đạn".

Anh ngồi đó một mình, không café, không trà đá, lầu bầu, chửi thề chán rồi bỏ về. 

Cũng có lần ai đó thắc mắc: "Tới đây mà xiêm y lộng lẫy… chi vậy, cha? " Da anh sạm nắng nên không chút ánh sắc nào còn có thể nhuộm lên nét mặt, nhưng qua câu trả lời đầy giận dữ của anh, tôi thấy ra mặt anh đang đỏ bừng như lửa:

 "Tau không muốn lộn, tau không muốn lộn".

Câu nói ngắn, rất ngắn của Nguyễn Đức Sơn đã làm tôi nhìn ra những điều bất mãn, căm hận nhưng với nhiều khí tiết của anh. 


“... Vì sao ta đến đây hò hét

Học trò bẻ bút, tập mang gươm

Tập uống máu người thay nước uống

Múa may theo

Lịch sử điên cuồng…”

(NguyễnĐứcSơn)


Từ năm 1979, Nguyễn Đức Sơn mang hết gia đình anh lên Bảo Lộc, Phương Bối.

Nơi đây anh sống hoàn toàn biệt lập, bất hợp tác với xã hội dưới mọi hình thức. Sống tự túc với đèn dầu tăm tối, ăn uống từ suối nước không trong, và cả với khoai sắn, nấm và rau trái do mình trồng ra… Một hình thức chống lại chế độ vô cùng quyết liệt và tuyệt đối của anh.

Và cho dù có vì thế mà trong rất nhiều năm, gia đình anh đã phải sống trong vất vả, cực khổ đầy lam lũ…


Quyết định bỏ Sàigòn lên sống nơi rừng thông Phương Bối, gian nan, thiếu thốn, và rất khó khăn của Nguyễn Đức Sơn. Phần nào cho tôi nghĩ đến Bá Di, Thúc Tề: Quyết không theo nhà Chu, không ăn thóc nhà Chu. Bỏ lên núi Thú Dương, và chỉ ăn rau Vi, cho đến chết.


“Lên núi Tây chừ hái rau Vi

Lấy bạo đổi bạo

Chừ

Có hay chi?

Thần Nông, Ngu, Hạ...Chìm cả rồi

Ta

Biết nơi nào đi?


[Bá Di, Thúc Tề, trước khi qua đời]



Tôi đang đọc thơ Anh. Đọc chỉ để ngậm ngùi, đọc để ước ao nếu có một lần gặp lại, được ngồi với Anh trong những bữa cơm cùng Nghiêu Đề, Lâm Triết. 

Những buổi cơm chiều vừa mặn, vừa chay. Vừa nói chuyện chùa chiền, vừa nghe tiếng anh cười bạt mạng, la làng, và chửi thề vung vãi...


"... Trăm năm bóng lửng qua thềm

Nhớ nhung gì buổi chiều êm, biến rồi..."

(Nguyễn Đức Sơn)




Bỏ nhà


Cánh cửa

Sầm. Đóng lại

Chìa khóa?

Quăng lên trời

Ta,

Bước chân phiêu bạt

Tay không

bày cuộc chơi


Lưu Linh? Ờ, Lưu Linh

Tản Đà? Ta chấp hết!

Cà phê?  Dạ, Khổng Tử

Ngàn ly chưa thấm tháp


Mắt sắc như kiếm dao

Chém chơi vài

Phạm Thái

Đàn đứt dây, lỡ nhịp

Hết hơi

đêm chưa tàn

Ta hát lời ly biệt

Tử Kỳ

chết, dưới trăng


Đứng giữa trăm ngả đường

Không lui

và chẳng tới

Ta như đêm

Mịt mù

giữa trùng trùng duyên khởi


Quanh một vòng trái đất

Thèm,

Trở lại chốn xưa

Ngồi bên hè phố cũ

Tỉ tê 

Khóc... nhớ nhà.



Bố cáo thất tung


Cắm cổ

Ta chạy bừa phía trước

Đêm trắng toát

Đêm,

trắng toát

Có tiếng nói nào trên trời kia

Dẫn dắt ta về nơi

... không biết


Ta ra đi

Bàn chân u mê

Thôi,

Chắc không tìm đường trở lại

Những gì chờ

Ở nơi sắp tới

Bếp ấm?

Hay tro tàn

Một ngày?

Hay trăm năm

Ta thật

không biết.


Nếu chẳng thấy ta thành phố này

Cũng đừng

gắng tìm ở nơi khác

Thôi,

Hãy đăng

“Bố cáo thất tung”

Cứ nghĩ như ta vừa

Mất tích.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Từ những ngày còn trẻ chưa biết lo là gì tôi đã tình cờ đọc tập thơ “Ngày Sinh Của Rắn” của nhà thơ Phạm Công Thiện, mà trong đó không biết vì sao tôi cứ nhớ mãi câu thơ này, “Cửu Long ca từ Tây Tạng!” Cũng từ đó Sông Cửu Long không bao giờ ngừng chảy trong ký ức của tôi. Và bây giờ tôi nhận được cuốn “Mekong – Dòng Sông Nghẽn Mạch” của nhà văn Ngô Thế Vinh như một tình cờ kỳ lạ mà tôi có với dòng sông lịch sử này.
Trong Đạo Phật có cả Pháp Học lẫn Pháp Hành và trong học đường cũng vậy. Nếu chỉ có nói, mà không ngồi xuống để đếm từng hơi thở để thực tập Thiền thì khó mà tiếp thu được. Tuy không được đem niềm tin tôn giáo vào trường học của chính phủ để dạy, nhưng Chánh Niệm vẫn là một danh từ, một khái niệm thực tập sự yên tĩnh cho nội tâm, mà Thiền Sư Nhất Hạnh đã rất thành công khi hướng dẫn người Tây phương trở về với nền Đạo Học Đông Phương, bằng con đường chuyển hóa nầy.
Lotus Media đã xuất bản SỐNG VỚI CHỮ vào đầu năm 2021, nay có duyên lành được xuất bản quyển sách thứ 2 của anh, 909 Bài thơ Ba Dòng. Một thể loại thơ tự do, không gò bó, nghiêm túc và mỹ học như thơ Hài cú, nhưng phóng khoáng và thoải mái như gu và con người thật của anh Tuấn: rất đẹp, rất riêng, rất thật, rất chay như trong Huế chay, thàng, ngông, rượn… và rất người.
Nhận thức được sự tiến triển qua từng chặn đường tu tập là một khích lệ lớn lao và sẽ củng cố niềm tin của chúng ta vào những giá trị thiết thực, lợi ích của sự tu tập. Khi hiểu được điều này, chúng ta sẽ có khả năng nhìn nhận một cách cụ thể hơn về con đường tu tập. Đó không chỉ là những đại nguyện lớn lao bao trùm chúng sinh trong khắp pháp giới, mà cũng chính là sự chú tâm nuôi dưỡng niềm an lạc trong từng sát na của cuộc sống hiện tại này.”
2034: A Novel of the Next World War tưởng tượng về một cuộc chiến tương lai giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra trong cùng năm, giống như sách Hạm đội Ma của Peter Singer. Đô đốc Stavridis có một binh nghiệp nổi bật bao gồm việc chỉ huy một nhóm tàu sân bay chiến đấu không kích, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền Nam và sau đó là Tư lệnh Tối cao Đồng minh Châu Âu, trước khi nghỉ hưu và trở thành Khoa trưởng của Trường Luật và Ngoại giao Fletcher. Cuốn tiểu thuyết là một bài đọc nhanh chóng và hấp dẫn, chứa đầy các chi tiết của các hoạt động hải quân mang lại cho sách rất nhiều màu sắc và tính hợp lý.
Thơ, văn của anh sáng tác, hầu như tôi đã đọc và một số đăng trên nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa. Khi đọc lại tác phẩm của anh, không khỏi ngậm ngùi và xót xa. Nay tuổi già, sức yếu, bệnh tật nhưng anh cố gắng gom lại sáng tác của minh để thực hiện tuyển tập như món quà lưu niệm.
Tác phẩm dày 700 trang, với 362 trang tiếng Việt và phần còn lại viết bằng tiếng Anh, sẽ giúp mọi gia đình hiểu biết về một dòng sông đang trở thành chiến trường thầm lặng giữa đại bá phương Bắc và nước nhỏ phương Nam. Tương lai dân tộc sẽ đi về đâu, một phần cũng từ cuộc tranh chấp nơi sông Mekong.
Hôm 13 tháng 5-2021 chúng tôi nhận được tập sách có chữ ký của phu nhân BS Mai Trung Kiên gửi biểu vợ chồng tôi. Tập sách của tác giả GS-BS Mai Trung Kiên có tựa đề " TÂM HỒN &THIỀN ĐỊNH trong KHOA HỌC NÃO BỘ "-một tựa đề rất lạ lẫm không những đối với chúng tôi mà ngay các độc giả có trình độ hiểu biết nào đó về tôn giáo, nhất là Phật giáo, và Khoa Học Não Bộ.
Vậy mà..., đôi khi trong phút không ngờ nhất và ở một chỗ không ngờ nhất..., lại trùng trùng từ trong tận cùng nỗi nhớ lồng lộng hiện về vây bũa... Ký ức. Chỉ là sương. Chỉ là huyễn mây. Nhưng khi hiển hiện, có thể khiến cho người ngậm ngùi hạnh phúc hoặc có khi đem về lại những niềm đau quắn quíu...Và có mấy ai trong chúng ta cũng như Ly, như Mỹ Linh; không từng một lần trong đời, loanh quanh trong rừng ký ức mù sương của mình... Và vì thế; mời bạn, hãy cùng đi vào vùng "Sương Ký Ức" của Đặng Mai Lan để bước xuyên thủng qua lớp sương mù ký ức dày đặc của chính mình. Chiêm nghiệm lại nỗi buồn hay hạnh phúc quẩn quanh cất dấu. Và, một lần. Cất bước đi tìm lại chính bạn...
Với hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” trong tháng 6/2010 qua nhận định của Nguyễn Mạnh Trinh cho thấy: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước.