Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Người Đàn Ông Da Trắng Trong Tấm Hình Đó

19/06/202006:52:00(Xem: 3909)
H 1_NGUOI DAN ONG DA TRANG

Trong Thế Vận 1968 ở Mexico City, trên bục nhận huy chương, từ trái: Peter Norman, Tommie Smith và John Carlos. Cả 3 người mang nơi ngực trái huy hiệu Dự Án Thế Vận Vì Nhân Quyền, đòi bình đẳng sắc tộc. Hai lực sĩ da đen đi chân trần, đưa tay chào kiểu Sức Mạnh Đen.


(Bài này bản gốc viết bằng tiếng Ý của nhà văn Riccardo Gazzaniga trên báo griotmag.com ngày 10/10/2015, được Alexa Combs Dieffenbach dịch sang tiếng Anh, và Phan Tấn Hải dịch sang tiếng Việt.)

Đôi khi hình ảnh lừa gạt người xem. Thí dụ, như tấm ảnh này. Hai vận động viên da đen John Carlos và Tommie Smith đứng cuối đầu, đưa một tay lên cao, vào ngày họ lãnh huy chương chạy 200 mét tại Thế Vận Mùa Hè 1968 ở thành phố Mexico City, và tấm ảnh này đã lừa gạt tôi trong thời gian dài.

Tôi luôn luôn nhìn tấm ảnh đó như một hình ảnh mạnh mẽ của hai người đàn ông da đen, chân trần, với đầu cuối xuống, các bàn tay mang găng đen đưa cao lên trong khi nhạc trổi lên quốc ca Hoa Kỳ, bản “The Star-Spangled Banner.” Đó là một cử chỉ biểu tượng mạnh mẽ -- đấu tranh vì dân quyền cho người Mỹ gốc Phi trong một năm mà các thảm kịch xảy ra, trong đó có cái chết của Martin Luther King và Bobby Kennedy.

Đó là tấm hình lịch sử của 2 người đàn ông da màu. Do vậy, tôi chưa bao giờ thực sự chú ý tới người đàn ông kia, da trắng, giống tôi, bất động nơi bậc thứ nhì của bục nhận giải thưởng đó. Tôi xem người kia như một hiện diện tình cờ, phụ thêm trong khoảnh khắc của Carlos và Smith, hay là một kiểu như người chen vào. Thực sự, tôi còn đã nghĩ rằng người đó --- trông như dường chỉ là một người Anh quốc cười gượng --- trong kiểu đứng bất động lạnh lẽo như đại diện cho các ý chí muốn chống lại sự thay đổi mà Smith và Carlos đang đưa lên trong hành động phản đối lặng lẽ. Nhưng tôi đã nhầm.

Nhờ một bài báo cũ của Gianni Mura, hôm nay tôi khám phá ra sự thực: rằng người đàn ông da trắng trong tấm ảnh đó, có lẽ, là vị anh hùng thứ ba trong đêm đó của năm 1968. Tên vận động viên đó là Peter Norman, một lực sĩ Úc chạy kỳ thi chung kết 200 mét sau khi chạy đường bán kết với thời lượng tuyệt vời 20.22 giây đồng hồ. Chỉ có 2 người Mỹ, tên là Tommie “The Jet” Smith và John Carlos, đã chạy nhanh hơn với tốc độ, theo thứ tự là 20.14 và 20.12 giây đồng hồ.

Như dường rằng chiến thắng sẽ được quyết định giữa 2 người Mỹ. Norman là một vận động viên chạy vô danh, người như dường vừa mới chạy cho nóng người. Vài năm sau, John Carlos nói rằng anh được hỏi về những gì đã xảy ra cho người lực sĩ da trắng nhỏ con đó --- đứng cao chỉ 5’6”(= 1.68 mét) và chạy cũng nhanh như anh và Smith, cả hai đều cao hơn ở mức 6’2” (1.8796 meters).

Tới khi chạy tuyến chung kết, kẻ bên lề có tên là Peter Norman đã chạy nhanh kỷ lục, tốc độ là 20.06 giây đồng hồ, nhanh nhất đối với bản thân và vẫn là kỷ lục nhanh với Úc châu tới giờ, 47 năm sau (bài này viết năm 2015).

H 2_NGUOI DAN ONG DA TRANG

Tượng đài xây năm 2003 ở khuôn viên đại học San Jose State University, chỉ có 2 lực sĩ da đen chân trần. Vị trí của Norman được bỏ trống để khách tới có thể đứng vào chỗ trống để chụp hình, vì chính nghĩa bình đẳng.


Nhưng kỷ lục đó vẫn chưa đủ, vì Tommie Smith thực sự là “The Jet” (phi cơ phản lực) và Smith vượt hơn kỷ lục Úc châu của Norman với một kỷ lục thế giới. Ngắn gọn, đó là một cuộc thi chạy tuyệt vời.

Nhưng cuộc thi chạy đó sẽ không bao giờ được ghi nhớ như chuyện xảy ra tại lễ trao huy chương.

Không lâu sau cuộc thi chạy là người ta thấy một chuyện lớn chưa từng có đã xảy ra trên bục lãnh huy chương. Smith và Carlos quyết định rằng họ muốn cho toàn thế giới thấy cách họ đấu tranh cho nhân quyền, và cho tiếng nói là truyền bá khắp các lực sĩ.

Norman là người da trắng từ Úc châu, một quốc gia có luật phân biệt chủng tộc gay gắt (apartheid laws), gần nghiêm khắc như ở Nam Phi. Đã có căng thẳng và biểu tình trên đường phố Úc châu sau khi có hạn chế nặng nề việc đón nhận người da màu nhập cư và về luật kỳ thị chống lại dân nguyên trú, một số trong đó bao gồm việc cưỡng bách trẻ em nguyên trú đưa làm con nuôi trong các gia đình da trắng.

Hai vận động viên Mỹ đã hỏi Norman rằng anh có tin vào nhân quyền hay không. Norman trả lời rằng anh tin. Họ hỏi Norman tiếp rằng anh có tin vào Thượng Đế không, và anh, người trước đó hoạt động trong tổ chức Salvation Army (Đạo Binh Cứu Rỗi), nói rằng anh tin mãnh mẽ vào Thượng Đế. John Carlos nhớ lại rằng, “Chúng tôi biết ngay rằng chúng tôi sắp làm một hành động vĩ đại hơn bất kỳ thành tích lực sĩ nào, và anh ta [Norman] nói, ‘Tôi sẽ đứng với 2 bạn’ – Tôi dự kiến sẽ nhìn thấy nỗi sợ trong mắt Norman, nhưng thay vào đó chúng tôi nhìn thấy sự thương yêu.”

Smith và Carlos trước đó đã quyết định đứng trên bục giải thưởng trong khi mang huy hiệu của Olympic Project for Human Rights (Dự Án Thế Vận Vì Nhân Quyền), một phong trào của các lực sĩ hỗ trợ cuộc chiến đòi bình đẳng [màu da].

Họ sẽ lãnh huy chương trong khi để chân trần, biểu tượng sự đói nghèo vây quanh người da màu. Họ sẽ mang găng tay đen nổi tiếng, biểu tượng cho chính nghĩa của nhóm Black Panthers (Báo Đen). Nhưng trước khi bước lên bục huy chương, họ nhận ra họ chỉ có một cặp găng tay đen. Norman mới nói, “Mỗi người một chiếc [găng].” Smith và Carlos đón nhận lời khuyên đó.

Nhưng rồi Norman làm một chuyện khác. Norman vừa chỉ vào huy hiệu Olympic Project for Human Rights trên ngực 2 lực sĩ Mỹ vừa hỏi, “Tôi tin vào điều hai bạn tin. Bạn còn có một huy hiệu nào cho tôi không? Như thế tôi có thể bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với chính nghĩa của hai bạn.” Smith thú nhận là lúc đó kinh ngạc, nghĩ rằng, “Thằng cha da trắng Úc châu này là ai vậy? Nó thắng huy chương bạc, nó không thể thấy nó chỉ cầm huy chương và thế là đủ sao!”

Smith trả lời rằng anh không có dư huy hiệu, cũng vì anh sẽ không bị từ chối huy hiệu của anh. Lúc đó có một lực sĩ da trắng Hoa Kỳ bên cuộc thi chèo thuyền, tên là Paul Hoffman, một nhà hoạt động cho phong trào Olympic Project for Human Rights. Sau khi nghe được, Hoffman không do dự, nghĩ ngay: “Nếu một người Úc da trắng hỏi xin tôi huy hiệu Olympic Project for Human Rights, thì Chúa ơi anh ta sẽ có. Tôi sẽ tặng anh này cái duy nhất tôi có: cái của tôi.”

Ba lực sĩ bước ra sân và bước lên bục huy chương: phần còn lại là lịch sử, được giữ lại nhờ sức mạnh tấm hình chụp lại (huy hiệu nhìn thấy trong hình là vòng tròn nền trắng có khắc chữ và hình đeo nơi ngực trái ba lực sĩ). Norman kể lại, “Tôi không có thể nhìn thấy chuyện xảy ra, nhưng tôi đã biết trước rằng ba người chúng tôi đều theo đúng kế hoạch khi một giọng trong đám đông cất tiếng hát bản quốc ca Hoa Kỳ nhưng rồi giọng hát dịu xuống, dứt bặt. Cả sân vận động lặng im như tờ.”

Trướng phái đoàn Thế Vận Hoa Kỳ thể là các lực sĩ này sẽ phải trả giá trọn đời họ vì cử chỉ đó, một cử chỉ ông nghĩ là không liên hệ gì tới thể thao. Smith và Carlos tức khắc bị ngưng trong phái đoàn Thế Vận Hoa Kỳ và bị trục xuất ra khỏi Làng thế Vận, trong khi lực sĩ đua thuyền Hoffman bị cáo buộc tội âm mưu.


Khi về Mỹ, hai người đàn ông chạy nhanh hàng đầu thế giới bị truy bức nặng nề và bị hăm dọa ám sát.

Nhưng với thời gian, trong tận cùng, đã chứng minh rằng họ đã làm điều phải và họ trở thành các nhà vô địch trong cuộc chiến vì nhân quyên. Với hình ảnh được hồi phục, họ đã hợp tác với hội Vận Động Viên Hoa Kỳ, và một bức tượng của họ được dựng lên trong khuôn viên đại học San Jose State University. Nhưng Peter Norman vắng mặt trong tượng đài này. Việc Norman vắng mặt [trên tượng đài] trông như bia mộ của một anh hùng mà không ai từng ghi nhận. Một lực sĩ bị bỏ quên, bị xóa khỏi lịch sử, ngay cả tại Úc châu, nơi đất nước của anh.

Sau đó 4 năm, tại Thế Vận Mùa Hè 1972 tổ chức tại Munich, Đức quốc, Norman không được cho vào đội lực sĩ chạy điền kinh của Úc, bất kể anh từng chạy đủ điều kiện 13 lần cuộc thi chạy 200 mét và 4 lần cuộc thi chạy 100 mét.

Norman đã rời bỏ sự nghiệp lực sĩ chạy thi sau nỗi thất vọng này, chỉ tiếp tục chạy ở mức độ tài tử.

Trở về trong một nước Úc bảo thủ và bị tẩy trắng, Norman bị xem như kể ngoài lề, gia đình anh bị xem như mạt hạng, và việc làm không thể tìm được. Có một lúc, Norman làm việc như một thầy dạy thể dục trong phòng gym, tiếp tục cuộc chiến chống bất bình đẳng trong cương vị người hoạt động nghiệp đoàn, và thỉnh thoảng làm việc trong một tiệm chặt thịt. Thế rồi Norman bị một vết thương, gây ra nhiễm trùng hoại cơ, dẫn tới việc anh trầm cảm và nghiện rượu.

Như lời John Carlos, “Trong khi chúng tôi bị bầm dập, thì Peter Norman đối mặt với cả đất nước của anh và đơn độc đau khổ.” Trong nhiều năm, Norman chỉ có một cơ hội duy nhất để tự cứu: Norman được khuyến dụ là hãy lên án hành vi của hai lực sĩ kia, John Carlos và Tommie Smith, để bù lại Norman sẽ được hệ thống này ân xá, miễn truy bức.

Việc ân xá sẽ có thể cho Norman tìm được việc làm ổn định nhờ tổ chức Ủy Ban Thế Vận Úc Châu và sẽ được là một phần tử trong tổ chức Thế Vận 2000 Sydney (2000 Sydney Olympic Games). Nhưng Norman không bao giờ ân hận, và không bao giờ lên án sự lựa chọn của 2 lực sĩ Mỹ kia.

Norman là lực sĩ Úc chạy nhanh nhất trong lịch sử và vẫn là người giữ kỷ lục 200 mét, nhưng Norman không được mời vào Thế Vận ở Sydney. Chính lúc đó, Ủy Ban Thế Vận Hoa Kỳ khi biết chuyện đã mời Norman tham dự trong nhóm của họ và đã mời Norman dự tiệc sinh nhật nhà vô địch Thế Vận Michael Johnson, người đã ngưỡng mộ Peter Norman như là một anh hùng và là mô hình gương mẫu.

H 3_NGUOI DAN ONG DA TRANG

Peter Norman từ trần tháng 10/2006 vì bệnh tim. Hai bạn lực sĩ da đen từ Hoa Kỳ sang Úc khiêng quan tài từ biệt.


Peter Norman đột tử vì bệnh tim trong năm 2006, mà không hề được đất nước của anh xin lỗi vì đã xử tệ bạc với anh. Trong tang lễ của anh, Tommie Smith và John Carlos, những người bạn của Norman kể từ khoảnh khắc đó của năm 1968, là hai người khiêng quan tài cho anh, đưa tiễn anh như một anh hùng.

John Carlos nói, “Peter Norman là một chiến sĩ cô đơn. Một cách ý thức, anh đã tự lựa chọn làm con cừu hiến tế trong khi nhân danh nhân quyền. Không có ai khác hơn anh xứng đáng để Úc châu nên vinh danh, công nhận và biết ơn.”

Tommie Smith nói, “Norman đã trả giá với lựa chọn của anh. Đó không chỉ là một cử chỉ đơn giản để giúp chúng tôi, đó là cuộc chiến CỦA ANH TA. Anh ta là một người da trắng, một người đàn ông da trắng Úc Châu giữa hai người đàn ông da màu, đứng thẳng trong khoảnh khắc chiến thắng đó, tất cả [ba người] đều nhân danh cùng một chính nghĩa.”

H 4_NGUOI DAN ONG DA TRANG

Tình bạn lực sĩ vượt qua màu da ở Làng Thế Vận 1968.


Chỉ tới năm 2012, Hạ Viện Úc Châu chấp thuận một bản văn chính thức xin lỗi Peter Norman và ghi tên anh trở lại vào lịch sử với nội dung Hạ Viện:
“Công nhận thành quả thể thao xuất sắc của cố vận động viên Peter Norman, người thắng huy chương bạc trong cuộc thi chạy 200 mét tại Thế Vận 1968 ở Mexico City, với thời lượng 20.06 giây đồng hồ, vẫn còn là một kỷ lục Úc Châu.

“Công nhận lòng can đảm của Peter Norman khi mang huy hiệu Olympic Project for Human Rights lúc đứng trên bục huy chương, trong đoàn kết với các lực sĩ Mỹ gốc Phi Tommie Smith và John Carlos, những người đã bày tỏ hình thức chào ‘sức mạnh da đen’.

“Xin lỗi Peter Norman vì những sai trái Úc Châu đối xử khi gạt tên ông ra ngoài Thế Vận 1972 Munich, bất kể ông liên tục đủ điều kiện thể thao; và tuy chậm trễ, nay công nhận vai trò mãnh liệt mà Peter Norman đã thực hiện trong việc đòi hỏi bình đẳng sắc tộc.”

Tuy nhiên, có lẽ, những chữ nhắc chúng ta về Peter Norman đầy đủ nhất là chính lời anh khi mô tả lý do anh làm như thế, trong phim tài liệu nhan đề “Salute,” được viết, đạo diễn và sản xuất bởi cháu trai của anh là Matt.

“Tôi không có thể nhìn thấy vì sao một người da đen không có thể uống cùng nước từ một vòi nước, đi cùng một xe buýt hay vào học cùng trường như một người da trắng. Có một sự bất công xã hội mà tôi không có thể làm bất cứ gì từ nơi tôi ở, nhưng tôi hẳn nhiên là ghét bất công đó. Người ta nói rằng khi chia sẻ huy chương bạc của tôi trong sự kiện đó trên bục chiến thắng đó đã làm cho thành quả của tôi trật hướng. Ngược lại. Tôi phải thú nhận, rằng tôi khá là hãnh diện khi là một phần của nó.”

Khi ngay cả bây giờ, như dường cuộc chiến vì nhân quyền và bình đẳng có vẻ bất tận, và sinh mạng vô tội đang bị giết đi, chúng ta phải nhớ những người đã tự hy sinh, như Peter Norman, và tìm cách theo bước của họ. Bình đẳng và công lý không phải là cuộc chiến của một cộng đồng đơn lẻ, nó là cuộc chiến của tất cả mọi người.

Do vậy, tháng 10/2015 này, khi tôi có mặt ở San Jose, tôi sẽ tới thăm tượng Olympic Black Power (Sức Mạnh Đen ở Thế Vận) nơi khuôn viên đại học San Jose State University, và bục huy chương không người đó sẽ nhắc tôi về Peter Norman, người anh hùng can đảm chân thực nhưng đã bị bỏ quên.

Tác giả cập nhật ngày 13/10/2015: Tác giả viết một blog để đáp ứng với các lời bình ông nhận được từ khi bài viết được chia sẻ ào ạt: " Nhà Văn Trong Bài Viết Đó.”

Trang Films For Action cập nhật ngày 18/10/2015: Trong tuần lễ từ khi chúng tôi chia sẻ bài viết, bài tuyệt vời này đã được hơn 4 triệu người đọc. Rõ ràng đây là mộtc âu chuyện làm rung động một cách phổ quát, làm thăng hoa và cho thấy mặt đẹp nhất của bản chất con người. Đã có nhiều cuộc thảo luận về bài này từ đó, và một trong các chủ đề là về tượng đài ở San Jose. Nơi tượng đài này, vị trí Peter Norman đứng bị bỏ trống, làm nhiều người kêu gọi hãy thêm tượng Norman vào. Nhưng đó lại không phải là điều Norman muốn. Trong cuộc phỏng vấn của Democracy Now, lực sĩ John Carlos giải thích rằng Norman muốn chỗ anh đứng bỏ trống để bất kỳ ai tới thăm tượng sẽ có thể đứng vào nơi đó và để chụp hình cho thấy họ đứng đoàn kết với Smith và Carlos, y như Norman đã làm năm 1968. Peter Norman, chúng tôi chào vinh danh anh.

(Bản văn gốc của  nhà văn Ý Riccardo Gazzaniga. Dịch sang tiếng Anh và bình luận do Alexa Combs Dieffenbach. Phan Tấn Hải dịch sang tiếng Việt.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sven Ouzman thuộc Đại Học Tây Úc, một trong những nhà nghiên cứu chính của dự án, cho biết bức tranh vẽ trên đá sẽ giúp mở rộng hiểu biết về lịch sử văn hóa bản địa: “Hình ảnh con kangaroo mang tính biểu tượng này trông giống với những bức tranh vẽ trên đá từ các hòn đảo ở Đông Nam Á có niên đại hơn 40,000 năm trước, gợi ý về mối liên kết văn hóa - và gợi ý về nghệ thuật đá vẫn còn lâu đời ở Úc,” theo Ouzman cho biết trong một tuyên bố.
Xuân Tân Sửu với nắng trong buổi sớm đang trải nhẹ bao nhiêu sắc màu tươi thắm lên khuôn mặt còn đượm nét kinh hoàng của mẹ đất. Một năm cũ với nhiều thiên tai khủng khiếp của cháy rừng, hạn hán, lụt lội, tuyết lở, đất truồi và đại dịch đang lùi dần vào quá khứ. Niềm tin về một bộ mặt mới toàn cầu đang sống lại khắp nơi.
Nghệ thuật gốm là một thứ văn hóa dân gian, được hình thành và phát triển từ xa xưa, đã qua nhiều thiên niên kỷ. Sản phẩm của người thợ gốm, trước tiên là vì nhu cầu thực dụng, rồi dần dà, ngày càng được nâng cấp mà thành nghệ thuật.
Trong bức ảnh này, tôi đã sử dụng trí tưởng tượng của mình với sự sáng tạo thông qua máy ảnh số, gương, ánh sáng và một số công cụ xử lý hậu kỳ để tạo ra một bức ảnh có đường nét, màu sắc, kết cấu, hình dạng vừa thực, vừa siêu thực với nội dung trừu tượng về tình yêu.
Có thể nào một cái quần đùi giúp mang chúng ta lại gần nhau hơn? Đó là một câu hỏi mà họa sĩ Jonathan Lyndon Chase suy nghĩ hoài khi họ sáng tạo ra cuộc triển lãm gần đây nhất của họ, “Big Wash,” tại Fabric Workshop và Bảo Tàng Viện Philadelphia, từ nay tới ngày 6 tháng 6. Những cái quần đùi tạo thành chủ đề xuyên suốt lập đi lập lại trong các bức tranh canvases của cuộc triển lãm, tác phẩm điêu khắc mềm mại, và các yếu tố cài đặt vào, cũng như chương trình trao đổi chiếc quần đùi đang diễn ra mà có nghĩa là để giúp tạo ra cộng đồng và sự thân thiện vào thời điểm mà trong đó các nghệ sĩ đã phải thiết kế nhiều cách mới của việc ở bên nhau trong khi đang bị xa cách về mặt xã hội. Cuộc triển lãm, mà Chase cho biết trong một cuộc phỏng vấn video gần đây, là “làm chứng cho sự biến đổi và chữa lành: nước, bị nhận chìm, một làn sóng tắm gội bạn.” Nó cũng dựa nhiều vào thời trang và các videos nhạc của đầu thập niên 2000s – Mariah Carey vào lúc đó đã ở trên đỉnh cao của cô,” theo họ cho biết
Trong một năm mà khiến cho nhiều cơ chế trên khắp thế giới bị đóng cửa vào nhiều tháng cuối năm, nghệ thuật công cộng trên sự cộng hưởng mới tại nhiều thành phố và đã mang đến nhiều kinh nghiệm an toàn cho những ai tìm kiếm sự giải trí qua mạng trong lúc cách ly. Nhiều tác phẩm nghệ thuật công cộng được tạo ra trong năm 2020 thường đề cập đến những vấn đề chính trị và xã hội cấp bách, và khái niệm về các tượng đài – về các con số đã được leo thang và cách chúng được thể hiện – được tìm thấy trong các phong trào biểu tình, các trang quan điểm, và nhiều hơn nữa. Hướng dẫn dưới đây trình bày một cuộc thăm dò của một số dự án, các đụng độ, và các sự kiện đáng chú ý nhất trong năm liên quan đến nghệ thuật công cộng, phần nhiều trong số đó đã thay đổi cách chúng ta nhìn và suy nghĩ về lịch sử và môi trường của chúng ta.Các bức tranh tường nổi lên giữa bối cảnh các cuộc biểu tình chống kỳ thị chủng tộc có hệ thống và sự bạo hành của cảnh sát. Các cuộc biểu tình theo sau việc giết George Floyd
Họa sĩ Ann Phong được giám đốc điều hành ban nghệ thuật tạo hình trong chương trình Community Focus Space tại John Wayne Airport tuyển chọn và mời triển lãm trong phi trường. Các tác phẩm nghệ thuật của Ann Phong được đặt tại: Departure (trên lầu) gần nơi trước khi vào cổng kiểm soát tại Terminal A, B và C. Và tại Arrival (dưới lầu) gần Baggage Carousel 1 và 4. Cuộc triển lãm dành cho tất cả mọi người, không cần có vé đi máy bay.
Juszkiewicz: Tôi đã thích thú chân dung từ lúc bắt đầu con đường nghệ thuật của mình. Và bởi vì điều này, trở lại lịch sử và khám phá cách vẽ chân dung đã tiến triển qua nhiều thế kỷ là điều tôi cảm thấy hoàn toàn tự nhiên và quan trọng. Trong khi tìm hiểu các điển hình cổ điển về chân dung từ quá khứ, tôi cảm thấy sự lạc điệu trong cách mà tôi đã nhận thức về chúng. Nói cách khác, những bức họa đó lôi cuốn tôi và quyến rũ tôi bởi vì tính nghệ thuật và kỹ thuật của chúng. Mặt khác, tôi cho rằng nhiều bức họa trong số đó đại biểu người phụ nữ theo một công thức hay quy ước đặc biệt. Thí dụ, trong tranh vẽ tại Âu Châu cùa thế kỷ thứ 18 và 19, những người phụ nữ thường được vẽ chân dung trong cách giống nhau. Những biểu lộ tư thế, cử chỉ và khuôn mặt của họ thì rất giống và cho thấy không cảm xúc hay cá tính sâu sắc. Kết quả, tôi đã phát triển nhu cầu mạnh mẽ để tham khảo những bức chân dung đó, và thiết lập đối thoại với chúng. Tôi được thúc đẩy bởi ước muốn làm sống lại lịch sử,
Đây được mô tả là một trong những vụ tấn công lớn nhất vào nghệ thuật và cổ vật trong lịch sử Đức hậu chiến tranh, nhưng nó chỉ cần hơn 2 tuần để bùng lên, theo bản tin của BBC tiếng Anh cho biết hôm Thứ Tư, 21 tháng 10 năm 2020.
Một nghiên cứu mới về bức tranh ‘Mona Lisa’ đã đưa ra chứng cứ về việc vẽ đường phác thảo trước bằng than và rồi sau đó phủ sơn lên, cho thấy lần đầu tiên rằng họa sĩ Leonardo da Vinci đã vẽ phác thảo chuẩn bị trước để tạo ra bức tranh nổi tiếng này, theo bản tin của trang mạng www.artnews.com cho biết hôm 29 tháng 9 năm 2020.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.