Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chùm Thơ “Chữa Lành Thế Giới”

21/05/202009:55:00(Xem: 1425)

 

(Cảm niệm bài viết “Thơ sẽ chữa lành thế giới” của cư sỹ Nguyên Giác, nên xin hoan hỷ chia sẻ dăm ý tưởng thường nhật, bằng những lời thơ chất phác)

TN Huệ Trân

 

TN Hue Tran 01
CẤT TIẾNG HÁT THƠ


Thơ sẽ chữa lành thế giới

Mỗi lời xin nụ nở hoa

Mỗi âm điệu là sông suối

Hòa giòng hợp tấu hoan ca

 

Cất tiếng hát thơ, ca ngợi

Từ Bi Hỷ Xả bao la

Tình thương không còn ranh giới

Khi thương người như thương ta

 

Cất tiếng hát thơ, chia sẻ

Muôn loài, vạn hữu, nào xa

Luân hồi từ vô lượng kiếp

Thân sơ, ai biết chăng là!

 

Cất tiếng hát thơ, cùng bước

Nương Bát Chánh Đạo, cùng đi

Bỏ bờ mê, qua bến giác

Chân-như bất khả tư nghì

 

Cùng nhau thả thơ trong gió

Gió vờn tà áo ai bay

Thả thơ, trong chiều mưa xuống

Nón ai, nghiêng nhẹ vai gầy

 

TN Hue Tran 02 

 

CHỈ LÀ NGỒI YÊN


Chiều xuống, rồi ánh dương lên

Vạn hữu tuần hoàn tự nhiên

Tịnh thất, bóng ai thầm lặng

Thân tâm an lạc tọa thiền

 

Chiều xuống, thở vào thở ra

Nắng lên, hơi thở điều hòa

Tâm bình an trong chánh định

Thân vững chãi, thế kiết già

 

Ngồi yên, chỉ là ngồi yên

Nhìn sâu, thấu rõ tự thân

Đến, đi, vô thường muôn sự

Còn đây, chỉ lúc hiện tiền

 

Nhận thức phút giây hiện tại

Để sống từng phút, từng giây

Hiến tặng niềm vui, bớt khổ

Quá khứ, tương lai, nơi này!

 

NHỔ CỎ DẠI


Người làm vườn,

Phải siêng năng

Nhổ cỏ dại.

Hoa lá mới reo vui

Mà xanh tươi mãi mãi

 

Vườn-tâm cũng cỏ dại

Tham, sân, si, mạn, nghi

Người không siêng nhổ cỏ

Vườn-tâm người còn chi!?


TRỜI MƯA, NHẮN BẠN


Trời mưa, làm việc trong nhà

Kẻo mưa ướt áo, đường xa khó về

Chợt nhớ lời dạy xưa kia

Có ai tránh ướt vì che dù người!

Phải tự tìm dù che thôi

Mới mong đi hết đường đời trầm luân

Chúng sanh thừa tự nghiệp thân

Lành dữ, thiện ác, tỏ phân rõ ràng

Không gieo Nhân,

Qủa nào mang?!

 

TN Hue Tran
QUỲNH NỞ ĐÊM RẰM


Công phu khuya vừa dứt

Bước ra thăm tiểu viên

Một đóa quỳnh vừa nở

Chắp tay đón Chư Thiên

 

Bên hiên, trăng rằm tỏ

Lồng bóng suối Tào-Khê

Quỳnh hoa và bóng nguyệt

Tương giao một lối về

 

Về đây, nghe chuông điểm

Ngân nga Chứng Đạo Ca

Về đây, nghe nhịp mõ

Nam Mô A Di Đà

 

Thân Tâm đồng thanh tịnh

Bát Nhã nào đâu xa!

 

 

VỀ CÕI TỊNH


Về Cõi Tịnh bằng Tâm

Không bằng Thân tứ đại

Tâm chưa tịnh, chưa thanh

Sẽ là bao chướng ngại

Niệm niệm dẫu không rời

Vẫn còn muôn cửa ải!

 

NÀO GẦN, NÀO XA


Đã lâu Sư không lên chùa

Tịnh tu nhập thất bao mùa Đông Xuân

Thoắt đây, nắng Hạ vàng sân

Sư về thăm lại bạn gần, bạn xa

Chắp tay chào “A Di Đà”

Xôn xao vồn vã, níu tà áo nâu

“Sư Cô ơi, qúa là lâu,

Chúng con nhớ lắm, biết đâu mà tìm!”

Nhẹ nhàng đáp lời tình thân

“Cùng quy một hướng, nào gần nào xa

Gặp nhau, một niệm Di Đà

Tâm tâm giao cảm là ta đang gần”

 
TN Hue Tran 04


NGƯỜI VỀ XỨ PHẬT


Chân người “Theo dấu Như Lai” (*)

Tâm người, tâm Phật bản hoài dung thông

Người về xứ Phật thong dong

Nắng mưa nào quản, trải lòng vị tha

Mặc danh, mặc lợi gần xa

Tâm-sen chỉ nở đóa hoa Đại Từ.

 

(*) (Tỳ-Kheo Thích Tánh Tuệ,

miệt mài làm từ thiện nơi Xứ Phật)


CHO VÀ NHẬN


Của Cho không bằng Cách Cho

Ngã chấp, ngã sở đắn đo làm gì!

Vô thường, đến đó rồi đi

Còn đó rồi mất, có chi vững vàng!

Vui, buồn, hợp đó rồi tan

Xuôi tay nhắm mắt, ai mang được gì!

Sống tử tế với nhau đi

Trực tâm thị đạo, ngay khi hiện tiền.

 

QUÁN KHÔNG


Thân nhẹ lâng lâng, tâm đối vách

Khẩu tịnh vô ngôn,

Làn sương rơi

KHÔNG chỉ là KHÔNG, không gì khác

Trong, ngoài, trên, dưới,

Chẳng đầy vơi

 

Gạn sạch tư duy, dừng hý luận

Thảnh thơi dứt nghiệp, buông duyên thôi

Thì TÂM thanh tịnh, cùng KHÔNG ấy

Hợp nhất chung giòng Diệu Pháp xuôi

 

Lẽ đạo là đâu? Gần hay xa?

Phút giây KHÔNG quyện chặt TÂM ta

Muôn sự oan, ưng, sang, hèn, phải, trái

Tự tan, tự biến,

Tựa như-thị-là.

 

TN Huệ Trân

(Tào-Khê tịnh thất – Những ngày tịnh tu)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài
Rừng ngưng thở / thức / chíu chít tiếng chim
Lửa ! Lửa ! Lửa ! / khắp nơi, biết chạy về đâu
Núi chiều nay đã quay về chờ đợi. Còn gì đâu những hò hẹn trong đời.
Làm sao quên / mỗi chiều / Venice lóng lánh tà dương
Chiều ấy rất nhiều gió Đàn chim nhớ phố bay về(1)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.