Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bản Tuyên Ngôn Của Người Lính

16/03/202010:06:00(Xem: 1919)

                               

                                                                                         

                                                           

Vô cùng thương tiếc Trung tá Nguyễn Văn Đồng

Anh từng ghé lại Cau Lạc Bộ anh nói chuyện với anh em với tất cả hào khí của người lính. Anh khẳng định:”Sống là chiến đấu, là chấp nhận thử thách”. Đôi khi đời không hiểu ta, ta cũng phải ôm nó vào lòng, ôm chặt nó, há miệng cắn vào nó như xích của tank cạp lấy mặt đường, bùn lầy,  tiến về phía trước, tiến về mục tiêu đã qui định. Dù cho trước khi đến được mục tiêu qui định chúng ta đã phải vượt qua những trận phục kích, những bãi mìn, mất hết đôi chân, mất sừc chiến đấu, có thể ta gục ngã. Nhưng các bạn ta, các thế hệ trẻ sau ta, sẽ tiếp tục khai phá mở đường. Anh nói: “đã là lính ai cũng phải chịu chơi, chấp nhận thử thách và dư biết thử thách không bao giờ thừa. Kẻ nào không chịu chơi kẻ đó coi như bỏ đi- Qui ne risque pas n’a rien!..”. Nói xong, anh cười vang lên. Vang lên cả cơ quan, vang lên trong Cau Lạc Bộ. Sau nhiều năm, anh em không quên được tiếng cười hào sảng của anh, người lính Khóa 5-Trường Võ Bị Quốc Gia ĐaLạt.

      Và bây giờ tại bịnh viện, anh nằm im bất động, thở dưỡng khí mệt nhọc. Bờ vai anh rộng, da mặt anh tái xanh, anh nấc lên từng hồi. Anh đang chiến đấu với thần chết. Anh có nghe tiếng khóc của Nga không anh? Nga, người nữ nhân viên xã hội tư vấn tâm thần mà anh và chị thường gọi là ‘Bé Nga’. Vâng, bé Nga đang nắm lấy bàn tay anh và uốn nắn từng ngón tay khô cằn của anh. Nga, Đại úy Nguyễn Văn Danh, người bạn tù của anh, và tôi đến thăm anh đây. Anh đang tập trung chiến đấu với tử thần. Chúng tôi nhìn anh hấp hối nhớ lại Tổ quốc trong cơn thập tử nhất sanh 30 tháng Tư -75. Biết bao nhiêu chiến đấu trong tuyệt vọng của chúng ta để giành lại Sàigòn. Nga vẫn nắm lấy tay anh, cúi xuống gần anh nghe anh thở dưỡng khí mệt nhọc, mắt cô mờ cả lệ. Hình như Nguyễn Văn Danh cũng đang khóc. Danh đang bám lấy thành giường, có nắm lấy cổ chân anh. Nhưng là sao được bây giờ. Làm sao ngăn chận được sự ra đi của anh. Trái nào chín trước, rụng trước. Anh đã 75 rồi! Tôi cúi xuống ôm bờ vai rộng lớn của anh. Tôi nhin qua cửa sổ, ngoài trời Chicago đang lạnh dưới không độ F. Nắng vẫn chiếu sáng trên tuyết trắng lạnh lùng. 

    Chúng tôi ra về thành thật mong anh đi sớm. Thương anh chống trả mệt nhọc quá. Trong cuộc chiến đấu này một mình anh gánh chịu. Không một ai san sẻ với anh được. Trông anh vật vã, cô đơn quá. Chúng ta chiến đấu cô đơn quá phải không anh? Nhất là sau tháng Giêng-1973. Tôi nhớ lại những lời phát biểu đầy phẫn nộ của anh tại những buổi họp điều trị tâm thần tập thể:Khốn nạn thay, trước 23-1-73 chúng ta chưa từng “nhận” một viên đạn của kẻ thù. Nhưng sau đó chúng ta nhận những nhác chém từ sau lưng. Chúng ta đã bị phản bội tận xương tủy. “Chúng ta mất Miền Nam là vì chúng ta bị người bạn Đồng Minh phản bội. Chúng ta chưa hề thất trận…”. Những buổi họp Cau Lạc Bộ sau này, các anh  em thường nhắc lại câu nói đó của anh và coi đó như là “Bản Tuyên Ngôn Của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”  sau tháng giêng năm 1973

     Sáng nay, ngày 6-2-2002 Trần Quốc Bảo Định đột xuất đến thăm tôi tại văn phòng rất sớm lúc 9 giờ sáng. Định mang tặng tôi tập Hồi ký của ông Trần Văn Khê. Định có hỏi thăm anh ra sao rồi?  Anh còn nhớ Trần Quốc Bảo Định chớ anh? Định là người bạn tù của anh ở khám lớn Chí Hòa đấy. Anh ấy uống vội chén trà nóng với tôi rồi hối hả đi làm. Tôi mở Tập Hồi Ký của ông Trần Văn Khê ra xem chợt thấy bức thư của Định gửi cho tôi nói về anh:

 

 Kính BS Thể

Tôi cám ơn Bác sĩ đã nhắc tôi đến thăm ông già Đồng. Tôi cảm thấy ngậm ngùi cho thân phận chúng ta. Ông già Đồng từ ngày qua Mỹ đến lúc nằm liệt như hôm nay, ông Già đã đi cày ở Uptown/Chicago thật mệt nhọc. Mà không đi cày cũng không được. Nhu cầu cuộc sống đòi hỏi ông Già. Tôi đã đến thăm ông già Đồng của chúng ta. Ông già nằm bất động trên giường nệm với đầy đủ dụng cụ y khoa tối tân của Chú Sam. Nếu so sánh với đất Tượng Quận của Annam ta, thì ông Già thật sung sướng, anh ạ! Ông Già còn thật sung sướng hơn người bạn tù của ông tại khám lớn Chí Hòa, Đại tá Trần Vĩnh. Đại tá Trần Vĩnh vào tù học tập cải tạo, bị mù lòa và trong những năm tháng gần đi về với ông bà, đại tá Trần Vĩnh nằm trần truồng ở một chỗ, và nói theo kiểu Đức Tin thì ông đã được mặc khải nói tiên tri tức là những ai muốn biết ngày nào được thả tù, trở về với gia đình thì đến bên chỗ nằm hôi hám của Đại tá Trần Vĩnh xin ông bói cho xem thử. Đại tá Trần Vĩnh đã chết trong ngục tù Chí Hòa…”.

   Nghe xong bức thư chắc anh không đồng ý với người bạn tù của anh, Trần Quốc Bảo Định, vì anh chủ trương không bao giờ tự an ủi mình bằng cách nhìn vào số phận hẩm hiu của bạn bè hay của người khác. Như anh đã từng nói: biết đâu Đại tá Vĩnh đã nghĩ thà chết như ông vẫn cón hơn chúng ta sống nhăn răng vô liêm sĩ với cộng sản, hay sống lầm lũi trong thân phận lưu vong tù dày trên đất nước người. Anh đã từng nói với anh em trong Cau Lạc Bộ anh tìm thấy ở cái chết bi thương của luật sư Đại tá Trần Vĩnh như giá trị lịch sử của một khúc ngoặt  của tổ quốc hơn là phần số riêng của ông ta…

    Tôi đến chào vĩnh biệt anh tại Nhà Quàn. Rất mừng các anh em trong ‘Cau Lạc Bộ’ có mặt đông đủ hết. Có người đem cả vợ con đến vĩnh biệt anh. Tại đây tôi cũng gặp người bạn tù của anh tại khám lớn Chí Hòa, Bác sỹ Đại tá Nguyễn Minh Châu-Cục phó Cục Quân Y-QĐVNCH trước 75. Nom ông ấy yếu hẳn đi, có lẽ từ ngày ông ấy nghe tin anh nhập viện…Tôi quì xuống bên cạnh quan tài anh, cầu nguyện. Tôi thấy đấng Christ treo mình trên Thánh giá, tôi nhớ câu ai nói: “Đấng Christ chết cho tội ác của chúng ta-Christ dies for our sin”- Không hiểu đấng Christ có chết cho tội ác của những người cộng sản chuyên chính vô sản không anh nhỉ? Đấng Christ có chết cho tội ác của những người bạn đồng minh phản bội chúng ta không anh?

   Tôi cúi xuống thật gần nhìn lại gương mặt anh lúc đó hài hòa siêu thoát vô cùng! Anh đã tha thứ cho tất cả phải không anh? Anh tha thứ cho chiếc ‘koòng’ bằng thép siết chặt tay anh rướm máu. Anh đã tha thứ cho các nhà tù, trại cải tạo cộng sản mà anh phải đi qua. Anh tha thứ mùi hôi hám và bóng tối thê thảm của các Cacho trong khám lớn Chí Hòa. Anh cũng tha thứ cho những năm tháng nhọc nhằn của kiếp tù đày lưu vong xứ người… Mong Anh ra đi thảnh thơi không vướng bận.

    Tôi từ giả anh ra về. Tôi nghe lời cầu kinh của anh em sau lưng tôi, lời cầu nguyện của anh em mong anh sớm về Nước Chúa.

     Anh sinh tại Hà Nội, tốt nhiệp Võ bị Quốc Gia ĐaLạt, Khóa 5. Nước Mỹ đối với anh là đất trích. Thương tiếc anh vô hạn. Người trai anh dũng của thời loạn. Chí lớn chưa thành, anh đã vội bỏ anh em ra đi. Tôi quên thế nào được giọng đọc thơ san sảng của anh tại ‘Cau Lạc Bộ’:

                             “Từ đô mang gươm đi mở cõi

                            Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”

   Đào Như

   Bác sỹ Đào Trọng Thể

   30-4-2002


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi vẫn tin rằng tương lai một dân tộc, một đất nước sẽ khá hơn khi những công dân trẻ tuổi đặt câu hỏi này cho bản thân. Bởi vì những bạn trẻ đã tự vấn như vậy sẽ không để cho cuộc sống quí giá của mình trở nên lãng phí.
Khi nó mở mắt tỉnh dậy thì có cảm giác cả thân mình nó bị lôi ngược. Nó cố vùng vẫy nhưng cái đuôi có sợi dây buộc. Nó nhướng mắt nhìn về sau thì thấy hai con tàu màu xanh với những sọc đỏ chạy dọc hai bên lườn đang kéo nó ra khơi. Muosa cũng được hai con tàu khác lôi ngược ra xa. Khi cả thân mình to lớn của nó vẫy vùng dễ dàng trong làn nước biển thì sợi dây buộc ở đuôi được tháo ra. Nó ngoái đầu lại kêu “hoop hoop hoop” liên hồi. Nó không biết nói tiếng của loài người, nó cảm ơn những con tàu đã kéo nó về biển sâu bằng âm thanh của nó.
Vốn đã đóng góp nhiều cho một số tổ chức thiện nguyện hàng năm, đặc biệt là tổ chức "Raise Hope for Congo"(Phi Châu), trong đại dịch Aaron Rodgers đã trích một triệu đồng từ tiền túi của mình để giúp đỡ cho 80 cơ sở thương mại ở sinh quán của anh, thành phố nhỏ Chico ở miền Bắc California.
Vẫn như có sẵn định mệnh cho từng người, không ai chọn lựa được đâu! Ai mà biết được mình sẽ chết vì cái gì, chết lúc nào và chết ra sao? Có lẽ vì đã chứng kiến quá nhiều người chết nên Ái có một cách nghĩ cho riêng mình. Đó là làm việc bằng tinh thần của một người lính. Giường bệnh là chiến trận. Người lính chỉ có một con đường là chiến đấu.
Ngoài sân tuyết lất phất bay, tôn tượng bổn sư bằng đá trắng như hòa vào trong tuyết trắng, những dây cờ ngũ sắc như viền quanh chùa một vòng kiết giới an lành. Trên đường lài xe về, Sơn nghe ca khúc “ Xuân này con không về” mà khóe mắt cay cay. Bản nhạc tha thiết đầy ắp nỗi niềm của những người con xa quê.
Khi Diên chào, bắt tay từ giã Dinh, Dinh nhìn vào mắt Diên – chính lúc đó Dinh cảm nhận được niềm thương yêu vô bờ dâng ngập trái tim chai sạn của chàng. Dinh bịn rịn, không muốn rời tay Diên. Nhưng, Trang đưa tay đón, chiếc xe đò dừng lại.
Tôi lớn lên, quên ưu phiền ba tháng biết lẫy, bảy tháng biế bò, chín tháng lò dò biết đi. Bà dạy tôi gọi chị là Vú và Vú với tôi là Mẹ. Cô Út tôi kể lại là tôi vui ngay ít ngày sau khi có Vú và tôi chỉ biết có Vú thôi. Tối tối tôi ngủ với Vú. Ban ngày Vú làm việc trong bếp, tôi thơ thẩn ngoài sân chơi với mấy cái vỏ ngao, vỏ sò, vỏ hến quanh đâu đó vừa dòm chừng Vú.
Các thiên thần áo trắng làm việc thời đại dịch, ngoài khẩu trang, còn có face shield, blouse, và cả PPE, chỉ có cặp mắt lộ rõ, và họa sĩ Krishnan đã diễn tả được những ánh mắt của từng người trong các bức vẽ các nhân viên tuyến đầu (front line worker) là "những đôi mắt biết nói".
Bà khụy chân xuống nhìn sát vào mặt mẹ, bà thấy đầu Cụ như nghiêng về một bên, hai mắt vẫn nhắm và những giọt nước mắt nữa… và hình như Cụ không còn thở. Bà vòng tay ôm đầu Cụ ngã vào vai mình. Bà yên lặng, vùi cái đầu đã hoa râm của mình vào mái tóc bạc phơ của mẹ. Tiếng Thái Thanh vẫn cất lên: Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…Nước Ơi!
Hãy nghe một bà mẹ trẻ (Christine Derengowski, một người viết báo) an ủi khuyến khích con mình: "Con sẽ không bị phạt, và con sẽ không bị ở lại lớp một. Mà thật ra, chính con là một anh hùng. Con có biết là chưa có một đứa trẻ nào trong lịch sử phải học lớp một ở nhà qua màn hình computer, ngồi trong phòng ngủ, nhìn cô giáo qua màn hình. Con và các bạn của con đã làm nên lịch sử."