Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Qua với Bậu - Hôm qua, qua hứa qua qua ....

23/01/202020:29:00(Xem: 1232)

Qua với Bậu

Hôm qua, qua hứa qua qua ....

  

Nguyễn thị Cỏ May

 

  

Nhơn ngày Tết, ông Nguyễn văn Tương (*) tới thăm và mừng tuổi Cụ Trần văn Hương tại tư thất của Cụ . Bắt tay khách, Cụ Trần văn Hương vui vẻ nói :

-Em còn trẻ quá, chắc em không có học với qua . Mà nay, qua không còn làm việc chánh quyền nữa, được em tới thăm  như vầy, thật cảm động . Qua mời em ở lại ăn cơm với qua . An cơm cá kho, canh chua, …(*)
 

Chữ “qua” còn được thông dụng với Cụ Trần văn Hương, người gốc Nam kỳ ở lớp tuổi 60, năm 1965 tại Sài gòn .
 
blank                                                   Cụ Trần văn Hương

Cụ Trần văn Hương xưng “qua” nhưng lại gọi ông Nguyễn văn Tương bằng “em” chớ không phải “bậu” như trong ngôn ngữ giao tiếp rất phô thông ở Nam kỳ trước kia .
 

Hai chữ «qua» và «bậu» được người có địa vị cao và có học trong xã hội dùng trong sanh hoạt hằng ngày chớ không riêng gì chỉ giới bình dân . Nhưng có lẽ tới thời Cụ Trần văn Hương, người ta không dùng “bậu” nữa mà dùng tiếng «em» để chỉ người đối thoại nhỏ tuổi hơn .

Chữ "bậu" có nghĩa là "bạn, là em" cả khi nói với người con trai, và cũng có nghĩa "em" trong nghĩa "vợ", trong quan hệ vợ chồng .

Như trong Truyện Lục Vân Tiên, Lý Thông nói với Thạch Sanh khi gặp nhau lần đầu tiên, thấy Thạch Sanh trẻ tuổi hơn mình :

           

             "Chẳng hay chú bậu (chú em) ở đâu,

               Áo quần chẳng có dãi dầu khá thương ?

 

Thường thì người ta vẫn hiểu lầm là tiếng bậu chỉ dùng để chỉ người con gái, người phụ nữ . Như trong bài hát dân gian châm biếm, trêu chọc người con gái lớn tuổi mà còn ế chồng :

               

                Ống tre khô người ta còn chuộng

                Bậu lỡ thời như ruộng bỏ hoang

                Ruộng bỏ hoang người ta còn cấy

                Bậu lỡ thời như giấy trôi sông

               Giấy trôi sông người ta còn vớt

               Bậu lỡ thời như ớt chín cây

             ......

             Bậu lỡ thời như muốn người ta

             Muốn người ta người ta không muốn

             Xách cây dù đi xuống đi lên .

 

Ghi chú thêm - Theo  Gíao sư Âm nhạc học Trần văn Khê, bài hát trên đây là bài "rap", một thể loại hát dân gian ở Việt nam xưa, như một cách nói chuyện nhanh, lời tiếp nối nhau nên không có chấm câu, ngụ ý chọc ghẹo một đối tượng nào đó trong xóm, trong làng . Rất dễ hát nên trẻ con nghe qua là có thể hát theo . Nhờ đó, dễ phổ biến rộng rải và chỉ trong thời gian ngắn, đối tượng có thể nghe được . Ngày nay, "rap", thanh niên phi châu thường hát, nhứt là hát để khiêu khích cảnh sát .

 

Cũng tiếng  «bậu” còn lưu hành ngày nay nhưng chỉ trong thi ca (Luân Hoán và Phan NiTấn, Phải lòng người con gái Bến Tre  ) :

                  

                 «Bậu sang phà Rạch Miễu, ngoe nguẩy xuống Bến Tre

                   Về Cái Mơn, Lương Hòa hay là, Về Sơn Đốc, Ba Tri ?

                   Guốc bậu rụng tiếng lá (ơ hơ), thoang thoảng mùi làm duyên

                   Thoáng mùi thương quá đỗi; mùi tình Lục Vân Tiên” .

 

 

Qua» và «Bậu»

Theo Giáo sư Hán nôm Nguyễn văn Sâm (Đại Học Văn Khoa Sài gòn), chữ qua  là tiếng biến âm từ tiếng quá (hóa) giọng Triều Châu của chữ ngã 我 (tôi). Dùng tiếng «tôi, anh» bình thường, người ta thấy không sang, không thân mật, và quan trọng nhứt là hơi mất tự nhiên nên người ta dùng tiếng qua.  Chuyện nầy cũng tương tợ như người Việt Nam thời còn nặng mùi Tây hay dùng toi, moi (tutoyer) khi nói với bạn hay với cả người mình yêu khi mới bắt đầu tấn công ái tình . Ngày nay, ở Mỹ, tuổi trẻ Việt Nam  có một chút học vấn khi bắt đầu tán tỉnh cũng thích dùng  hai từ me, you hơn là anh em, em anh vì quá quen thuộc .

Chữ qua với nghĩa tôi, anh thân mật cũng thấy trong văn chương thế kỷ 19, như Lý Thông nói chuyện với Thạch Sanh (Truyện Thạch Sanh Lý Thông) . :.               

        

          “Lý Thông thấy nói, sầu bi :

‘            Qua xin kết nghĩa vậy thì đệ huynh”

        

        …Qua thời vốn có một mình,

             Mẹ thời già cả kết chưng bạn mày» .

 

Điều đáng để ý, qua lời của Lý Thông nói với Thạch Sanh, người ta hiểu tiếng qua của Lý Thông dùng có nghĩa là anh, là ta, là kẻ lớn hơn, vai vế là bực đàn anh của Thạch Sanh và tiếp theo, đã không ngại gọi Thạch Sanh bằng mày .

Cũng theo Giáo sư Nguyễn văn Sâm, chữ bậu có nghĩa là em, dùng trong cách nói thân mật . Người Nùng có tiếng bậu nghĩa là em. Người Thái có tiếng phậu cũng có nghĩa tương tợ (Tự điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của BS Nguyễn Hy Vọng) . 
 

Người Nam kỳ nói bậu bạn, trong cách nói thân mật. Nên khi nói nó «làm bạn với…» có nghĩa là cưới vợ lấy chồng. Văn thơ Nam Kỳ dùng chữ bậu chỉ người mình thương khi nói trực diện .

                                 Bậu nói với qua bậu không bẻ mận hái đào,

                                  Mận đâu bậu bọc, đào nào bậu cầm tay ?

 

 

Nguồn gốc quabậu

Theo Giáo sư Nguyyễn văn Sâm, như trên đây, hai tiếng qua bậu có nguồn gốc từ tiếng Triều châu và Nùng, Thái, Miên . Có người lại quả quyết một cách chắc nịch hai tiếng quabậu hoàn toàn là sản phẩm trong ngôn ngữ đặc sệt của dân Nam kỳ Lục tỉnh và cà cách sử dụng hai tiếng đó trong nói chuyện hằng ngày .

Nhưng có người khác (Trang “Ngày Ngày viết văn”, internet) lại dẩn chứng Từ điển Lê Ngọc Trụ để tìm về nguồn gốc của chữ quabậu và cho rằng cách lý giải của Học giả Lê Ngọc Trụ là dễ hiểu, logic, có cơ sở hơn hết . Theo đó, xin trích :

 

- Qua là cách phát âm của người Triều Châu của chữ "ngã" mà âm đọc phổ thông là “". Người Triều Châu đọc chữ này là "wá". Người ta giải thích thêm là khi xưa, ở miền Nam, nhất là khu vực Bạc Liêu, người Triều Châu di dân đến sanh sống rất đông. Cái tên Bạc Liêu cũng được cho là từ gốc Triều Châu mà ra.

 

- Tuy Từ điển Lê Ngọc Trụ không giải thích chữ "bậu" nhưng nếu "qua" là gốc Triều Châu thì cũng có thể suy ra "bậu" cũng từ gốc ấy mà ra. Người Triều Châu gọi vợ hay em bằng "pau", "bấu" hoặc "bô" tùy theo từng vùng.

Nếu đúng "qua" và "bậu" đều là gốc Triều Châu, thì người ta có thể nghĩ rằng trong ngôn ngữ gốc, hai tiếng này không nặng tính chất tình cảm, không có ý nghĩa thân mật chi hết, cũng bình thường như tôi với anh hay như tao với mày vậy thôi . Trái lại trong tiếng việt, 2 tiếng ấy lại chứa chan tình cảm mỗi khi nghe nói, tuy ngày nay không còn dùng trong giao tiếp, chỉ còn thấy trong thơ ca, trong văn chương mà thôi . Hai tiếng quabậu luôn thắm đượm nghĩa tình. Có ai mà không cảm thấy thắt lòng khi đọc những câu ca dao này:

 

Trách mẹ với cha chứ qua không trách bậu,

   Cha mẹ ham giàu gả bậu đi xa”

 

Bậu có chồng chưa, bậu thưa cho thiệt,

  Kẻo anh lầm tội nghiệp cho anh

 

Hay đau khổ, trách hờn người yêu:

 

“Trách lòng bậu cứ đẩy đưa,

Gạt anh dãi nắng, dầm mưa nhọc nhằn”

 

Hoặc thể hiện nỗi da diết, nhớ mong:

 

Bướm xa hoa, bướm dật, bướm dờ,

 Anh đây xa bậu, đêm chờ ngày trông”

 

Và có đứt ruột không khi xa nhà, bổng nghe văng vẳng tiếng hát “Ầu ơ ….” ( không phài giọng “À ơi …” của Bắc kỳ) :

 

….” Chim chiều lẻ bạn ngoài song

       Em còn mong đợi người dưng.

       Qua không thương bậu, bậu còn buồn ai!” .

 

Có người (trên báo Tuổi Trẻ gần đây) giải thích một cách quả quyết: “Nhiều người lầm tưởng “qua” là một từ mới nhưng thật ra đây là một từ địa phương Nam Bộ giàu sắc thái biểu cảm, đã hình thành từ thời người dân nước Việt đi xuống phương Nam mở cõi”.

 

Có thật đó “là một từ địa phương Nam Bộ”?

Năm 1602, Nguyễn Hoàng  sai lập dinh trấn, xây kho tàng chứa lương thực, vũ khí rồi sai con trai thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên (sau là Chúa Sãi) trấn giữ. Ban đầu dinh trấn được dựng ở Cần Húc, huyện Duy Xuyên, ít lâu sau dời sang Thanh Chiêm, rồi năm 1833, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở Quảng Nam qua làng La Qua,Điện Bàn. Từ đó, ca dao địa phương có câu:

 

“Tỉnh thành đóng tại La Qua,

  Hội An tòa sứ vốn là việc quan”.

 

Và La Qua đã đi vào câu đối với cách chơi chữ tuyệt vời, lấy chữ qua với chữ đồng âm:

 

“Con gái La Qua,

qua hôn,

qua hít,

qua vít,

qua véo,

qua chọc,

qua ghẹo,

qua biểu em đừng có la qua” (la nghĩa là rầy mắn, qua là anh, tôi).

 

Có câu đối lại cũng sát sàn sạt về chữ nghĩa, ý tứ:

“Đàn bà Phước Chỉ,

chỉ xấu,

chỉ xa, chỉ lười,

chỉ nhác,

chỉ bài,

chỉ bạc,

chỉ có chồng là may phước chỉ” (chỉ là chị ấy)

 

Không riêng gì Quảng Nam, vượt qua đèo Hải Vân ngược ra Bắc, nếu dừng chân tại Quảng Bình, người ta còn nghe câu hát huê tình đầy tiếng qua:

 

Răng chừ đá nổi lắc lư

  Lạch Ròn kia cạn, qua mới từ nghĩa em”. (Theo Lê Minh Quốc)

 

Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi từ Quảng Nam đi xuôi về phương Nam, người ta sẽ nghe nói thường hơn 2 tiếng quabậu :

 

“Xa xôi chưa kịp nói năng

  Từ qua với bậu như trăng xế chiều”

 

Và khi tới xứ Nam kỳ Lục tỉnh, 2 tiếng quabậu dường như cũng dừng bước và đóng đô luôn ở miền đất lành chim đậu này :

 

“Bảng treo tại chợ Mỹ Lồng:
   Chữ đề tên bậu, không chồng có con”

Khi quabậu đã bén rể ở đất Nam kỳ, thì cách nói năng cũng bộc trực, nghĩ sao, nói vậy như dân Nam kỳ :

 

«Bậu đừng lên xuống đèo bồng
Chồng con hay đặng sanh lòng nghi nan” .

 

Nguồn gốc qua, bậu là Nam kỳ, là từ tiếng Triều châu, tiếng Nùng, Thái… ?

Nói 2 tiếng qua bậu là tiếng của địa phương xứ Nam kỳ hay do bắt chước theo cách phát âm của tiếng triều châu vì người triều châu sanh sống ở vùng đất mới này khá đông đảo, lẩn lộn với người việt nam nên ảnh hưởng qua lại là bình thường.

Nhưng người ta bắt gặp rất phổ biến 2 tiếng quabậu trong nói chuyện, trong câu hát của người dân miền Trung, từ Quảng Nam trở ra tới Quảng Bình và từ thời Chúa Nguyễn (1602), nghĩa là trước khi người Triều châu từ bên Tàu qua và xuống Bạc liêu lập nghiệp, làm rẩy, “dưới sông cá chốt, trên bờ Triều châu” . Như câu ca dao sau đây mang rất đậm nét địa phương và thời điểm :

 

“Ngó lên hòn Kẽm, đá Dừng

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi... 

Thương cha nhớ mẹ thì về

Nhược bằng thương cảnh nhớ quê thì đừng !”

 

Hòn Kẽm, đá Dừng là hai địa danh đèo heo, hút gió tận thượng nguồn sông Thu Bồn của Quảng Nam. Ngày trước, để ngược dòng lên đây, từ Hội An là nơi đô thị trên bến, dưới thuyền, nếu đi thuyền, người ta phải mất cả tháng trời chèo chống . Và người Quảng Nam có lẽ ít có ai mà không biết vùng đất hẻo lánh kia cùng câu ca dao buồn tênh này (Theo Lê Minh Quốc) .

 

Như vậy, nếu nói 2 tiếng quabậu là 2 tiếng địa phương của Nam kỳ Lục tỉnh có thể đúng trong sự chấp nhận 2 tiếng đó từ Miền Trung đi theo người Miền Trung vào đất Nam kỳ . Trong trường hợp này thì 2 tiếng quabậu hoàn toàn không có liên hệ họ hàng xa gần gì với chú ba triều châu hết cả .

Còn do ảnh hưởng tiếng nùng, thái, miên ? Người ta có thể hiểu được cũng từ miền Cao nguyên theo bước di dân mà vào Nam và ở lại trở thành tiếng địa phương chăng ?

 

Nhưng theo cách diển giải, suy diển thế nào đi nữa thì 2 tiếng quabậu, tuy xưa, nhưng khi thốt lên, vẫn dễ làm rung động lòng người vì sức nặng ý nghĩa thân thương, đạc tính nam kỳ của nó :

 

    «Hôm qua qua hứa qua qua mà qua không qua . Nay qua không nói qua qua mà qua qua !»

 

(*) Hồi ký của Nguyễn văn Tương, Paris . Ông Nguyễn văn Tương làm Tổng Thư ký Văn phòng Chủ tịch Quốc hội, Thứ trưởng Bộ N-(i vụ, Giáo sư Công pháp Trường Luật và Học Viện Quốc gia Hành chánh . Tỵ nạn ở Pháp, ông dạy ô Đại học Brest, Poitiers, …Nay huu trí, ở ngoại ô Paris .

 

  

Nguyễn thị Cỏ May



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi biết. Giá như anh còn sống. Nghe đến đây rất có thể, tôi sẽ nghe ra : Thằng nào ? Thằng chó nào ?... Nhưng có là thằng gì,….Tôi vẫn giữ cái quyền Nghĩ đến anh. Mình với nhau… Hay anh chọn những người này là bạn anh
Địa Ngục Có Thật là tên của vở nhạc kịch do nghệ sĩ dương cầm Hồng Ân biên soạn và là người châu Á đầu tiên đoạt giải đạo diễn sáng tạo tại cuộc thi quốc tế HUGO tại Áo. HUGO là cuộc thi quốc tế dành cho sinh viên các Đai học Nghệ thuật châu Âu nhằm tìm ra những đạo diễn sáng tạo về nghệ thuật
Ban Tổ Chức Diễn Hành Tết tại Westminster xin hân hoan tường trình về thành quả tốt đẹp của cuộc diễn hành Tết được tổ chức trên Đại Lộ Trần Hưng Đạo trong khu Little Saigon vào ngày thứ bảy, 25 tháng 1, nhằm ngày Mồng Một Tết Năm Canh Tý vừa qua.
Một du khách Trung Quốc đã chết tại Pháp sau khi bị nhiễm vi khuẩn corona, là trường hợp tử vong đầu tiên của dịch corona bên ngoài Châu Á, theo bản tin hôm 15 tháng 2 năm 2020 của BBC tiếng Anh cho biết.
Gần 700,000 người trên khắp nước Mỹ có thể mất food stamps một khi quy định mới có hiệu lực vào tháng 4 năm nay, theo các phỏng đoán của chính Bộ Nông Nghiệp Mỹ cho biết.
Ngày 12/2/2020 Nghị viện châu Âu chính thức thông qua Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam, với đa số ủng hộ là 401 phiếu, 192 phiếu chống, và 40 phiếu trắng.
Điều đáng nói là những tranh luận chính trị và kinh tế xem ra khô khan, xa vời và vô bổ nhưng lại tác động lên công ăn việc làm và tương lai của từng gia đình và mỗi chúng ta.
Suốt cuộc hành trình sanh tử của mình, con người luôn đau đáu về thân phận hình hài, không biết bao lần chúng ta tự hỏi:” Tại sao ta laị đến nơi này? đến đây để làm gì? Mai này sẽ về đâu?”… Dòng tử sanh vẫn bất tận, kẻ trước người sau, hết thế hệ này đến thế hệ khác, hết hình thái xã hội này đến hình thái xã hội khác… thay đổi liên miên nhưng câu hỏi ấy vẫn không có lời đáp.
Một công ty tại Việt Nam đã chế tạo khẩu trang bằng giấy cầu tiêu giữa lúc dịch vi khuẩn corona lan truyền. Các viên chức chính quyền đang xem xét hình phạt cao nhất có thể cho kẻ phạm tội.
Chúng ta không thể biết rằng nghiệp lực sẽ dẫn chúng ta, gia đình và dân tộc tới đâu, nhưng nên thấy rằng nếu dịch bệnh này làm kiệt sức toàn dân là có thể gặp cơ nguy mất nước, và cả cơ nguy Đạo Phật bị xóa sổ tại quê nhà.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
XEM NHIỀU
(Xem: 8053)
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
(Xem: 6439)
WASHINGTON (VB) -- Sở Hàng Không Liên Bang (FAA) nói rằng ngành hàng không rất là may mắn vì suýt nữa là có thể rớt thêm 15 chuyến bay trên phi cơ Boeing 737 MAX.
(Xem: 6398)
Vợ chồng ai cũng vậy, sau một thời gian dài sống chung thì thế nào tâm tánh cũng phải thay đổi chút chút…Chịu đựng nhau được hay không là chuyện riêng rẽ của từng gia đình và từng cá nhân mỗi người.
(Xem: 6061)
Lời tòa soạn: Gần đây, nhiều ý kiến, tranh cãi gay gắt về vai trò và công trạng sáng lập chữ quốc ngữ, đặc biệt xung quanh nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha Alexandre de Rhodes. Việt Báo xin trích đăng lại bài viết của tác giả Mai Kim Ngọc trong mục VVNM năm 2013, bài viết là một tham khảo kỹ lưỡng về chữ quốc ngữ và vai trò của Alexandre de Rhodes, và tác giả đề cập đến sự “vô phép” trong Phép Giảng Ngày khi người tu sĩ Đắc Lộ này nói về Tam Giáo của nước chủ nhà.
(Xem: 5193)
Mỹ đánh thuế lên thép nhập cảng từ Việt Nam lên tới 456% đối với các sản phẩm thép mà VN sử dụng nguyên vật liệu được nhập cảng từ Nam Hàn và Đài Loan, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết hôm 17 tháng 12. Bản tin VOA cho biết thêm thông tin như sau.