Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khi nhà thơ nữ viết từ Ukraine

30/09/202200:00:00(Xem: 814)

 

_01 UKRAINE doc tho nhung qua mo Donbas

Lyuba Yakimchuk, trái, trong buổi đọc thơ ngày 24/6/2014 tại Kyiv, trích đoạn bài thơ "Apricots of Donbas" (Những quả mơ vùng Donbas), ba tháng sau khi quân Nga tấn công Donbas để hỗ trợ quân ly khai ở Donbas.

 

Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine.
 
Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới để gánh vác cho cuộc chiến.
 
Julia Friedrich viết rằng nhiều người tại Đức quốc không nhận ra rằng phụ nữ Ukraine, đặc biệt những người đã mất toàn bộ gia đình vì phi đạn Nga pháo kích, không còn muốn nghe về những lời kêu gọi chủ hòa, và thực tế, hoạt động nữ tín tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí, và tham dự vào cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.
 
Những con số đưa ra cho thấy, trước khi quân Nga xâm lược Ukraine tháng 2/2022, phụ nữ chiếm 23% giữ mọi nhiệm vụ trong quân lực Ukraine, kể cả các vai trò dân sự, và chỉ chiếm 15.5% trong các đơn vị vũ trang. Khi cuộc chiến ở Donbas bùng nổ vào năm 2014, số lượng chiến binh tình nguyện nơi này tăng vọt, trong đó 1/3 là phụ nữ, nơi lần đầu tiên có nữ chiến binh bắn tỉa trong quân lực Ukraine. Với tình hình Ukraine tổng động viên nam giới cho chiến trường chống Nga, tỷ lệ phụ nữ trong thành phần tác chiến Ukriane chỉ còn 10%. Bây giờ, nơi các tuyến phòng thủ Ukraine có khoảng 5,000 nữ quân nhân tác chiến.

Tuy nhiên, các hoạt động văn nghệ, thi ca tại các thành phố lớn vẫn tiếp diễn. Và vì nam giới phần lớn ra chiến trường, các nhà thơ nữ đóng một vai trò lớn trong các sinh hoạt đại học, trong các ban biên tập các tạp chí, trong những buổi đọc thơ tại các thành phố lớn…
 
CBC Canada phỏng vấn nhà thơ Lyuba Yakimchuk
 
Nhà thơ nữ Lyuba Yakimchuk sinh năm 1985 là một trong những người gắn liền với cuộc chiến bảo vệ đất nước Ukraine theo cách riêng. Trước khi quân Nga xâm lược Ukraine, Lyuba Yakimchuk đều theo học các khóa huấn luyện quân sự; bây giờ nhà thơ vẫn đang sống và làm việc tại thủ đô Kyiv. Yakimchuk giải thích với CBC rằng, “Ngôn ngữ có vẻ đẹp y hệt thế giới này. Do vậy, khi ai đó phá hủy thế giới của bạn, ngôn ngữ phản ánh điều đó.”

Từ những ngày trước khi vùng Donbas, miền Đông Ukraine, bùng nổ cuộc chiến 2014, nhà thơ Lyuba Yakimchuk nhìn thấy nơi đây là thiên đường, nơi hoa của cây mơ (apricots) nở rợp cả mùa xuân. Chị kể rằng, khi chị còn thơ ấu, vùng này gặp khủng hoảng kinh tế sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, dân chúng trong thị trấn của chị đi hái các quả mơ và bán cho các nhân viên trên các chuyến xe lửa nối tuyến đường Moscow và Kyiv: “Có một biên giới Nga gần thị trấn Pervomaisk của tôi. Một trong những người bà con xa của tôi một lần nói rằng sau khi bước qua lằn biên giới, không thấy cây mơ nào trên đất Nga.”
Và bài thơ nhan đề “Apricots of Donbas” (Các cây mơ vùng Donbas) của chị khởi đầu với dòng chữ, “Nơi không cây mơ nào mọc lên, nước Nga bắt đầu hiện ra.”
Nhà thơ Lyuba Yakimchuk nói, “Bây giờ lãnh thổ này bị Nga chiếm rồi. Nhưng các biên giới vẫn còn, đó là những hàng cây mơ… vĩnh viễn như thế.” 
 
Khi người ta đau khổ, họ nhớ tới các đấng siêu hình. Thiên chúa giáo có một bài kinh nổi tiếng là “Kinh Lạy Cha… Lạy cha chúng con ở trên trời…” Và nhà thơ Yakimchuk dựa một phần vào kinh để làm bài thơ “Prayer” (Kinh cầu). Ghi nhận rằng nhà thơ sử dụng biểu tượng mặt trời và mặt trăng từ Kinh Thánh. Trong sách Joel 2:31 và sách Acts 2:20, có ghi rằng, "Mặt trời sẽ trở thành đen tối, và mặt trăng trở thành mau, trước khi một ngày rực rỡ của Thiên Chúa tới."
 
Kinh cầu
 
Lạy Cha chúng con ở trên trời
của mặt trăng hoàn mãn
và của mặt trời trống rỗng
 
hãy che chở cha mẹ con khỏi sự chết
nơi nhà cha mẹ con vẫn đứng vững dưới làn đạn
và là những người sẽ không bỏ rơi ngôi nhà đó
như một ngôi mộ
 
hãy che chở chồng con
nơi bờ kia của cuộc chiến
như dường nơi bờ khác của một dòng sông
nơi chàng hướng súng về một bờ ngực
chàng đã thường hôn
 
con mặc bộ áo giáp chắn đạn
và không thể cởi ra nữa
nó dính vào con như làn da
 
con mang em bé của chàng trong con
và không thể buộc nó ra
vì chàng làm chủ thân thể con qua nó
 
con mang trong con một Đất Mẹ
và không thể nôn nó ra
vì nó lưu chảy như máu
xuyên qua tim con
 
bánh mì hàng ngày của chúng con trao cho người đói
và để họ ngừng nuốt chửng lẫn nhau
 
ánh sáng chúng con trao cho những người bị lừa dối
và để họ thấy được rõ ràng
 
và hãy tha thứ chúng con về các thành phố bị phá hủy
mặc dù chúng con không tha thứ cho họ, kẻ thù của chúng con
 
và chớ để con sa vào chước cám dỗ
để rơi xuống với thế giới mục nát này
nhưng hãy đưa chúng con ra khỏi sự dữ
để rời bỏ gánh nặng của một Đất Mẹ --
nặng nề và hầu như không hữu dụng
 
xin hãy che chở con
chồng con, cha mẹ con
con của con và Đất Mẹ của con.
 
(Theo bản dịch tiếng Anh của Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky)
.
Khi phe ly khai thân Nga kiểm soát vùng này từ 2014, ba mẹ của Yakimchuk tìm cách ở lại nhà họ ở thị trấn Pervomaisk. Họ trồng khoai tây khi cả vùng bị chiếm đóng và ngủ trong hầm cùng với khoai tây khi pháo kích trở nên dồn dập hơn. Rồi cũng như rất nhiều người khác, cuối cùng họ phải bỏ trốn. Trong 5 năm qua, ngôi nhà thời thơ ấu của Yakimchuk đã bị chiếm đóng bởi một tay súng bắn tỉa.
Gia đình cô đã dọn về một ngôi nhà mới ở miền trung Ukraine. Nhưng bây giờ, khi Nga xâm lược, toàn bộ đất nước đang gặp nguy hiểm. Yakimchuk nói, “Kyiv có thể là nơi tiếp theo [nguy hiểm]. Chúng tôi thấy nó ngay bây giờ. Chúng tôi sẽ là nhân chứng.”
 
Bạn có thể nhớ tới những ca khúc một thời ở Việt Nam, kiểu như “em hậu phương, anh tiền tuyến…” nhưng hình ảnh này trong thơ Lyuba Yakimchuk khác hẳn với ký ức chúng ra có về một thời Việt Nam. Khi nhà thơ được tin ngôi trường cũ thời thơ ấu đã bị quân Nga dội bom, khi được tin rằng lương thực đã cạn, và khi nghe pháo kích của quân Nga vang dội khắp trời… những dòng thơ vẫn hướng về một tương lai hy vọng bình yên.
Bài thơ nhan đề “He Says Everything Will Be Fine” (Anh Nói Mọi Thứ Rồi Sẽ Bình Yên) của Yakimchuk dịch như sau.
 
 Anh Nói Mọi Thứ Rồi Sẽ Bình Yên
 
anh nói: họ đã dội bom trường cũ của em rồi
anh nói: thực phẩm đang cạn và cũng hết tiền
anh nói: các xe tải trắng với viện trợ nhân đạo là hy vọng duy nhất của chúng ta
anh nói: đạn pháo từ các xe tải trắng vừa bay qua đầu
 
không còn trường học nào nữa
sao lại có thể không còn trường học nào nữa?
nó trống cả rồi? nó đầy những lỗ đạn, hay nó đã bị phá hủy hoàn toàn?
chuyện gì đã xảy ra với bức ảnh của em treo trên bảng danh dự?
chuyện gì đã xảy ra với giáo của em ngồi trong lớp học?
 
anh nói: tấm ảnh? ai mà bận tâm về tấm ảnh của em?
anh nói: trường học đã tan chảy rồi - mùa đông này quá nóng
anh nói: anh chưa thấy giáo của em, xin đừng bảo anh tìm cô
anh nói: anh đã thấy mẹ đỡ đầu của em; không còn ở với chúng ta nữa
 
chạy trốn đi, tất cả anh ơi
bỏ hết mọi thứ và bỏ chạy đi
rời căn nhà của anh, căn hầm của anh với những lọ mứt quả
bỏ cả hoa cúc hồng trên sân thượng
bắn những con chó của anh, để chúng không đau đớn
hãy bỏ mảnh đất này, ra đi thôi
 
anh nói: đừng nói nhảm, bọn anh xúc đất lên quan tài hàng ngày
anh nói: mọi thứ rồi sẽ bình yên, cứu rỗi sẽ đến sớm thôi
anh nói: viện trợ nhân đạo đang trên đường tới.
(Theo bản dịch tiếng Anh của Anatoly Kudryavitsky)
  
Nhà thơ Yuliya Musakovska

_02__Yuliya Musakovska
Nhà thơ Yuliya Musakovska
 
Nhà thơ Yuliya Musakovska là tác giả 5 thi tập bằng tiếng Ukraine. Thơ của bà được dịch ra nhiều ngôn ngữ, như tiếng Anh, Đức, Tây Ban Nha, Do Thái (Hebrew), Ba Lan, Lithuania, Bulgaria, và tiếng Estonian. Bà sinh năm 1982, được nhiều giải thưởng văn học quốc tế, hiện đang (theo tài liệu tháng 4/2022) cư ngụ nơi bà chào đời là thành phố Lviv, miền Tây Ukraine. Bài thơ “Jesus of War” của Yuliya Musakovska cũng là một thắc mắc giữa những đau đớn chiến tranh gửi lên trời cao. Hình ảnh Chúa Jesus nơi đây là pho tượng trong một vùng chiến tranh, nơi nhà thờ đổ nát và tượng Chúa vương mạng nhện và sương khuya.
 
Chúa Jesus Của Chiến Tranh
 
Ôi Chúa của con được hoa hồng trang điểm
được mặc trong mạng nhện và sương
Con sẽ mang đến cho ngài vượt qua những vực thẳm và gốc cây
mười viên đạn giữa xương sườn của con
 
Làm thế nào các viên đạn xuất hiện, từ vùng đất nào
ai đã đưa ra chúng và trang bị chúng thật đầy đủ
Những viên đạn bay ra, say sưa với sự miễn tội
với những nọc lạnh băng của chúng
 
Ôi Chúa ơi, nồng nhiệt và chán nản như thế
mang gai trên vầng trán cao của ngài
Cảm giác thế nào khi bước đi và đội vương miện
với chân trần băng qua vùng đất bị tàn phá
 
Gió sẽ hắt một quả bóng vào mặt của ngài -
đó là mùi của thứ gì của con người, đang cháy
Ôi Chúa của con chói sáng và nở hoa ngập tràn
trong khi thói quen đang đẩy chúng con đi tới
 
Trong khi các con số nhân lên trong ma trận
trong khi trời còn rạng sáng, hãy ngủ đi, Chúa của con ơi
Hãy để chúng con ở lại cõi này, nhưng còn gì đâu mà giữ lấy?
Những cánh hoa hồng, những giọt mưa và vòng gai.
(Theo bản dịch tiếng Anh của Olena Jennings.)
 
Bài thơ sau đây của Yuliya Musakovska có nhan đề là “The Spartan Boy” (Cậu bé khắc khổ), có vẻ như ám chỉ rằng đất nước Ukraine như một cậu bé sống rất khắc khổ, không có gì xa hoa, bước đi với túi áo rách, với trái tim cậu bé cứ rơi ra mãi [từ lỗ túi áo], trong khi nhà thơ cứ khâu chỗ áo rách nơi ngựcc ậu bé hoài thôi, với những ngón tay của nhà thơ đã tê cứng rồi.
 
Cậu Bé Khắc Khổ
 
Cuộc chiến mà em đang mang
trong túi áo sơ mi của em
gặm một lỗ trong em như thể nó là một con cáo.
Trái tim của em cứ rơi mãi ra.
Tôi đang khâu lỗ lại,
giữ chặt các cạnh với nhau
với những ngón tay tê liệt, cứng đơ của tôi.
Tôi hy vọng nó sẽ khép lâu hơn một chút.
 
Khi thành phố chìm vào giấc ngủ,
những vết sẹo sâu bướm đen thức dậy.
Và chỉ có những con bướm đêm tử thần ló ra.
Thành phố tuôn ra hơi nước từ lỗ mũi
và ló các ngọn đồi của nó như sừng.
Bạn nhìn thấy khuôn mặt của bạn tình
dưới đáy hồ --
một chuyện cổ tích đen tối từ thời thơ ấu của chàng đã tới sống động.
Mặc dù bạn là những người lớn tuổi lễ độ, đáng kính và dễ bằng lòng.
Trên thực tế, không có cái gì gọi là công lý.
Chiếc ly thép trầy xước mà bạn không bao giờ rời xa,
giấc ngủ hời hợt của bạn và cơn ghét dữ đội đối với pháo bông.
Thật là may, anh ta có thể mất nhiều hơn thế,
họ gần như toàn bộ, họ nói.
Bạn đã chọn tôi vì những ngón tay khéo léo, nhạy cảm của tôi.
Tôi cảm thấy thoải mái khi cầm kim may với chúng.
 
Mõm của một con cáo đang thò ra khỏi túi của bạn,
liếm mép, nhớ lại mùi vị con chim hòa bình của tôi.
.

Nhà thơ Halyna Kruk

_03 Halyna Kruk poet
Nhà thơ Halyna Kruk.
 
Nhà thơ Halyna Kruk sinh tại Lviv vào năm 1974. Bà làm thơ, viết truyện, và là học giả chuyên ngành về văn học Ukraine thời trung cổ. Bà có 4 thi tập, được nhiều giải thưởng. Sách viết cho thiếu niên của bà được dịch ra 15 ngôn ngữ. Bà đang dạy văn chương tại Đại học Lviv University.
 
Bài thơ sau đây có nhan đề tiếng Anh là “A Woman Named Hope” (Một Phụ Nữ Có Tên là Hy Vọng) viết trong văn phong thần bí. Hy vọng này không thuộc về phe nào trong cuộc chiến. Sự chết, tân binh, chiến tranh, tàn phá, mưa máu, hy vọng… Có phải là quá nhiều cho một đời người  chăng. Khi gia đình họ, chồng họ, và các con trai của họ lần lượt bước ra chiến trường, nơi họ cũng không biết nơi đâu là chiến trường, nơi bước chân nào để bảo vệ tổ quốc cũng hệt như là vào một cuộc chiến nước ngoài.
  
Một Phụ Nữ Có Tên Là Hy Vọng
 
trời mưa trong bốn tháng liền
đánh sập mùa màng, giẫm nát vườn cây
mưa đến như các tân binh
chăm chỉ tưới nước các bụi cây ven đường
miễn là có thể làm chậm đà tiến của chúng vào cuộc chiến ngoài nước
 
và không ai trong chúng tôi biết
                  nơi đâu thực sự là chiến trường
không ai hiểu hết những gì sẽ mất khi chiến bại
khi một phụ nữ tên là Hy Vọng đến để vực dậy tinh thần chúng tôi
nàng không có ý định chết
 
nàng nói với chúng tôi, mỗi người mang theo cuộc chiến của riêng họ
và một vũ khí
                       họ sẽ ghì súng đến cùng,
và chiến thắng là một cô gái giang hồ - cô không bận tâm nơi đâu cô nằm
cô thuộc về bất cứ ai
 
và chúng tôi lắng nghe một chuỗi sấm sét rời cổ họng nàng
trong khi nàng hát cho chúng tôi nghe điệu quân hành kỳ lạ và các bài hát ru em
từng giọt nước bọt của nàng là một giọt dầu
chứa độc chất tình yêu
 
nàng cảnh báo, bởi vì tất cả phụ nữ đều biết loại tình yêu này
làm cho nàng thấp hèn, đưa nòng súng vào miệng nàng
và không giết nàng. Sau đó, các trận mưa bay xuyên qua nàng,
               người lính này đến người lính kia
quét sạch máu đi.
(Theo bản tiếng Anh của Sibelan Forrester và Mary Kalyna)
 
Bài thơ nhan đề “someone stands between you and death...” (có ai đứng giữa con và cái chết) của Halyna Kruk cũng mang văn phong thần bí, với hình ảnh Thượng Đế, với những lời cầu nguyện, với bà mẹ nhớ tới một thời la mắng con trai mình khi con còn thơ ấu đã nghịch phá, đã bứt những quả dâu trong vườn trước khi dâu chín, và bây giờ trái tim người mẹ thì thầm về cái chết, về ước muốn những cái chết hãy là những quả dâu còn xanh sẽ không bao giờ chín và sẽ không bao giờ được gặt hái, và mẹ cầu xin Thượng Đế đừng tuôn mưa hỏa tiễn lên con trai mình. Đây là lời bà mẹ cầu nguyện cho con trai mình, xin cho có ai đó [phải chăng là Thượng Đế?] đứng giữa con trai mình và cái chết.

_04-UKRAINE-war-female-soldiers

Nữ trung úy Bilozerska, Đại đội phó trong quân lực Ukraine, từ biệt mẹ khi ra trận.

 

ai đó đứng giữa con và cái chết...
 
ai đó đứng giữa con và cái chết - nhưng
ai biết trái tim tôi có thể chịu đựng được bao nhiêu nữa -
con đang ở đâu, điều đó rất quan trọng
ai đó cầu nguyện cho con
ngay cả với lời riêng của họ
ngay cả khi họ không chắp tay và quỳ gối
 
ngắt cuống quả dâu tây khỏi vườn
Mẹ nhớ mẹ đã la mắng con khi con còn nhỏ
để chà nát các quả dâu trước khi chín
 
trái tim mẹ thì thầm: Cái Chết ơi, con tôi còn chưa chín.
con tôi còn xanh, không có gì trong đời con tôi đã
ngọt hơn những quả dâu tây mới hái
Tôi cầu xin: ôi Chúa ơi, đừng đưa con tôi ra phía trước,
xin đừng dội mưa hỏa tiễn xuống con tôi, Chúa ơi,
Tôi còn không biết hỏa tiễn trông như thế nào,
con trai tôi ơi, tôi không thể tự mình hình dung ra cuộc chiến.
(Theo bản tiếng Anh của Sibelan Forrester)
.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Mùa thu dẫu vừa khảy đôi ba nhịp vàng trên tàn cây. Mùa thu dẫu đang đốt hết mình trên hàng cây maple đỏ lá suốt dặm dài. Và mùa thu cho dù cũng vừa khép cánh cửa để ra đi, khép rất nhẹ nhàng như sợ làm thức giấc ai đó đang say ngủ. Tất cả. Những bổng trầm của mùa thu đều rúng động mấy tầng cung bậc cảm xúc của ta. Phiến lá vàng óng kia ẩn mật điều gì. Dấu chân vàng ố chiếc lá cuối thu như thể là những dấu chân cuối cùng để – nhẹ hẫng về mai sau – Ngọn gió của mùa thu ly tan nào vẫn thảng thốt trong nỗi chờ đợi. Hạt mưa nào xám tro quán phố. Và người ngồi nghe gió mùa thu về như – tiếng thổn thức của thời gian. Bạn ơi, xin lắng lòng trong buổi đêm tịch mịch để nghe cảm xúc bạn hòa âm thế nào với âm vang thu, để biết tác động mãnh liệt của thu – phù vân thôi cũng nát đời như chơi…
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ. Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 tới tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.