Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Borys Humenyuk: Khi nhà thơ ra trận

12/08/202200:00:00(Xem: 1872)
 
BORYS_01_Humenyuk_WIKIPEDIA

Nhà thơ Borys Humenyuk, năm 2015. Hình Wikipedia.

 
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện.

Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014.

Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu. Chúng là một biên niên sử về sự sống còn hàng ngày, về những người bạn và đồng đội bị thương, những người chết, nhưng không chỉ là những con số mất nhân tính trên chiến trường về số lượng thương vong hàng ngày, mà là những con người thực. Dù vậy, thơ của Borys Humenyuk không hề dính chút căm thù, ngay cả nơi những dòng thơ rất buồn.

Trong những tháng mùa đông lạnh giá cuối năm 2013 đến đầu năm 2014, tiếng súng và khói bao trùm nhiều đường phố ở thủ đô Kyiv của Ukraine: người biểu tình bị bạo lực trấn áp. Nhiều người biểu tình bị bắn chết. Cuộc Cách mạng Nhân phẩm của Ukraine hoàn tất, và chính phủ thân Nga của Tổng Thống Viktor Yanukovych bị lật đổ, nền dân chủ Tây phương là làn gió mới phơi phới. Từ đó thơ của Borys Humenyuk đã xuất hiện: từ một người chiến đấu trong Cách mạng Nhân phẩm và rồi đăng thơ lên Internet. Borys Humenyuk nói trong một cuộc phỏng vấn với một tờ báo địa phương của Ukraine, “Đôi khi, thay vì la hét hay khóc lóc, tôi chỉ muốn bắn lên bầu trời. Một số người làm như vậy – đưa súng bắn lên trời – cũng như thế, tôi viết dòng thơ lên giấy.”

Borys Humenyuk là Tiểu đoàn phó của một đơn vị chiến binh tình nguyện, và một lần đã làm thơ khi nhìn các chàng trai trẻ lau súng, cẩn trọng như lau một em bé mới ra đời.
 
KHI BẠN LAU SÚNG...
 
Khi bạn lau súng
Hết lần này tới lần khác, bạn lau súng của bạn
Khi bạn xoa dầu có mùi hăng hăng vào súng của bạn
Và lấy thân mình che mưa cho súng
Khi bạn lấy khăn quấn nó như một bé sơ sinh
Ngay cả khi bạn chưa bao giờ lấy khăn quấn bé nào trước đó --
Bạn mới mười chín tuổi, không vợ, không con
Súng trở thành người thân duy nhất của bạn
Bạn và súng là một.
.
Khi bạn đào hết chiến hào này tới chiến hào kia
Khi bạn đào trái đất thù hận này, quý giá này bằng các vốc tay
Tất cả các vốc tay đầy đất chạm tới linh hồn bạn
Bạn nghiến trái đất này giữa hai hàm răng của bạn
Bạn không, bạn sẽ không bao giờ có cái nào khác
Bạn trèo vào trái đất này như vào trong tử cung của mẹ
Bạn thấy ấm áp và thân tình
Bạn không bao giờ cảm thấy gần gũi thế này với bất kỳ ai trước đó
Bạn và trái đất là một.
.
Khi bạn bắn
Ngay cả khi trời vào đêm và bạn không thấy mặt kẻ thù
Ngay cả khi đêm che giấu kẻ thù đối với bạn và che giấu bạn đối với kẻ thù
Và đêm ôm lấy từng đứa chúng ta như ôm chính nàng
Bạn bốc mùi khói súng
Hai bàn tay bạn, khuôn mặt, tóc, áo quần, giày --
Bất kể là bạn rửa tới cỡ nào -- mùi khói súng đấy
Chúng bốc mùi chiến tranh
Bạn bốc mùi chiến tranh
Bạn và chiến tranh là một.
.
Thơ của Borys Humenyuk cho thấy chiến tranh là cái gì rất vô nghĩa. Vì nó mang lại cái chết cho những người lính, cho dân thường, cho trẻ em. Nó mang đến sự tàn phá của các tòa nhà, làng mạc và thành phố. Thơ của Borys Humenyuk là nỗi đau và chấn thương mà ông chứng kiến khi bước vào cuộc chiến bùng nổ từ năm 2014 ở miền Đông Ukriane. Phóng viên Svitlana Bozhko trong bài đăng ngày 18/2/2015 trên báo The Day tại Kyiv, ghi rằng, trích:
 
Họ nói về nhà văn, về Tiểu đoàn phó chỉ huy của tiểu đoàn tình nguyện OUN Borys Humeniuk rằng ông đã ‘lái xe tăng chạy trên toàn bộ nền văn học Ukraine.’ Tuyển tập ‘Poems from the war’ (Các bài thơ từ cuộc chiến) của ông là một tinh hoa của những suy nghĩ, tình cảm và xúc động nối kết với cuộc chiến ở miền Đông và là nỗ lực văn học đầu tiên để hiểu về hiện thực mới này.
 
Những bài thơ của ông thật kinh khủng và mạnh mẽ, chân thực và đôi khi tàn nhẫn, chúng không có những ẩn dụ sai lạc và những phóng đại giả tạo. Những bài thơ này là có thật, như tác giả, một chiến binh và là một nhà thơ:
 
‘Dần dần câu thơ trắng của tôi đổi mặt  
Những dòng chữ chuyển sang màu đen vì giận dữ
Tắm đầy máu vì uất hận
Bài thơ ướt đẫm và mặn vị muối  
Như mép khăn tay của một người mẹ đau buồn.’” (ngưng trích)
 
Tên đầy đủ của nhà thơ là Borys Borysovich Humenyuk, sinh ngày 30/1/1965, tại thị trấn Ternopil, miền Tây Ukraine. Về thủ đô Kyiv sống từ năm 1990. Humenyuk là một thành viên tích cực của những cuộc biểu tình Euromaidan vì dân chủ. Vào ngày 30/11/2013, nhà thơ nằm trong số những người tụ tập trên Quảng trường Mykhailivska ở Kyiv. Ngày hôm sau, ông là một trong số những người đầu tiên bị công an Berkut đánh bầm dập. Nhà thơ cũng bị công an rượt đánh thê thảm vào ngày 19/1/2014 và ngày 18/2/2014 trên phố Hrushevsky.

BORYS_02 signing books
Tác giả ký tặng thơ.

Vào ngày 13/3/2014, nhà thơ Borys Humenyuk ký vào bản “Tuyên bố từ các nhân vật văn hóa của Ukraine đến cộng đồng sáng tạo của thế giới” để phản đối quân Nga tiến vào miền Đông Ukraine.

Vào ngày 22/6/2014, nhà thơ tình nguyện gia nhập tiểu đoàn "Azov" đặc biệt của Bộ Nội vụ Ukraine và được đưa ra tuyến đầu ở miền đông Ukraine.
Kể từ cuối tháng 7/2014, nhà thơ được cử làm Tiểu đoàn phó của tiểu đoàn "OUN", đóng quân tại làng Pisky gần Donetsk kể từ ngày 12/8/2014.
Humenyuk được trao giải thưởng văn học và nghệ thuật năm 2014 được đặt theo tên của Volodymyr Svidzinskyi và Borys Necherda. Nhà thơ cũng được Huân chương của các vị thánh Cyril và Methodius (Chính thống giáo Đông phương). Và nhiều giải thưởng khác.
  
MỘT BẢN DI CHÚC
Hôm nay chúng tôi lại đang đào đất
Nơi đất Donetsk đáng ghét này
Nơi đất khô cằn, hóa đá này
Chúng tôi tự ấn mình vào đất
Chúng tôi giấu mình trong đất
Vẫn còn sống
.
Chúng tôi giấu mình sau đất
Ngồi lặng lẽ trong đất
Như những đứa trẻ nhỏ ẩn sau lưng mẹ
Chúng tôi nghe trái tim đất đang đập
Hơi thở mệt mỏi của đất
Chúng tôi ấm áp và thoải mái
Vẫn còn sống
.
Ngày mai chúng tôi sẽ chết
Có thể một số người trong chúng tôi
Có thể tất cả chúng tôi
.
Đừng đưa chúng tôi ra khỏi đất
Đừng tách chúng tôi ra khỏi mẹ của chúng tôi
Đừng lượm xác chúng tôi từ cánh đồng
Đừng cố gắng đưa chúng tôi bên nhau lần nữa
Và - chúng tôi nài nỉ bạn - đừng dựng lên những cây thánh giá
Đài kỷ niệm hoặc các bia tưởng niệm
Chúng tôi không cần chúng
Bởi vì nó không dành cho chúng tôi -
Bạn hãy dựng lên những tượng đài này cho bạn.
.
Đừng khắc tên chúng tôi,
Đơn giản chỉ nhớ:
Trên cánh đồng này
Trên mặt đất này
Lính Ukraine nằm xuống
Và --- đó là tất cả.
.
Đừng trả chúng tôi về cho ba mẹ chúng tôi
Chúng tôi không muốn họ thấy chúng tôi như thế này
Hãy để ba mẹ chúng tôi nhớ đến chúng tôi thời thơ ấu
Những cậu bé nghịch ngợm
Với giàng ná cao su và đầu gối bầm tím
Với điểm thấp trên phiếu điểm trường gửi về
Với những áo nhét đầy các quả táo từ vườn cây hàng xóm
Hãy để ba mẹ chúng tôi tin rằng một ngày nào đó chúng tôi sẽ trở về
Rằng chúng tôi đang ở đâu đó
.
Đừng trả chúng tôi về với vợ của chúng tôi
Hãy để họ nhớ chúng tôi đẹp trai
Như những người đàn ông được phụ nữ ưa thích
Những người chỉ riêng thuộc về vợ của họ
Hãy để họ nhớ những nụ hôn ấm của chúng tôi
Vòng tay yêu thương của chúng tôi
Đừng để họ chạm vào vầng trán lạnh của chúng tôi
Đôi môi lạnh của chúng tôi
.
Đừng trả chúng tôi về cho các con của chúng tôi
Hãy để các con chúng tôi nhớ đôi mắt từ ái của chúng tôi
Nụ cười từ ái của chúng tôi
Bàn tay từ ái của chúng tôi
Đừng để môi của các con chúng tôi
Chạm vào bàn tay lạnh giá của chúng tôi
.
Trong các chiến hào này
Hôm nay những ngôi nhà tạm của chúng tôi
Ngày mai nấm mồ của chúng tôi
Chôn chúng tôi
.
Chúng tôi không cần điếu văn
Trong niềm vắng lặng sau trận chiến.
Người ta luôn có vẻ kỳ dị -
Như đấm một người lính chết
Rồi ra lệnh bảo anh này đứng dậy
.
Chúng tôi không cần tang lễ
Chúng tôi biết nơi của chúng tôi ở
Đơn giản hãy phủ đất lên chúng tôi
Và bạn hãy di hành tiếp
.
Sẽ thật tuyệt nếu có một cánh đồng
Nơi lúa mạch đang nghiêng ngả
Một con chim sơn ca bay trên đầu
Và - bầu trời
Bầu trời vô tận -
Bạn có thể hình dung một cánh đồng đầy hạt
Nơi các chiến binh nằm xuống sẽ mọc lên?
.
Để nhớ chúng tôi, hãy ăn những hạt đó từ cánh đồng
Nơi chúng tôi đã nằm xuống hy sinh
.
Sẽ tốt đẹp nếu có đồng cỏ nơi đó
Và nhiều hoa
Và một con ong dưới mỗi bông hoa
Và những tình nhân đến vào buổi tối
Để cài những vòng hoa
Làm tình đến tận bình minh
Và trong ngày, hãy để những cặp ba mẹ mới
Mang theo trẻ nhỏ của họ
Đừng ngăn trẻ em đến với chúng tôi
.
Nhưng điều này sẽ là ngày mai
Hôm nay chúng tôi vẫn đang đào đất
Nơi đất Ukraine được trân quý này
Nơi đất dịu dàng, ngọt ngào này
Và với cái xẻng của một người lính, chúng tôi cùng viết
Trên cơ thể đất
Bài thơ Ukraine cuối cùng của các nhà thơ cuối cùng
Còn đang sống sót.
.
Nhà thơ Borys Humenyuk kể rằng tập thơ đầu tiên của ông in năm 1993. Một thời gian sau, ông ấn hành hai cuốn tiểu thuyết Lukianivka và Island. Thế rồi các biến cố lịch sử xảy ra cho Ukraine, làm cuộc đời nhà văn thay đổi triệt để: những cuộc biểu tình và cách mạng Maidan, rồi quân Nga tiến vào chiếm và sáp nhập trọn bán đảo Crimea của Ukraine vào Nga, rồi quân Nga vào Donbas của miền Đông Ukraine.

Borys Humenyuk kể rằng bài thơ đầu tiên ông viết về chiến tranh là về một anh lính trẻ, khi ông tới thị trấn Berdiansk vào ngày 22/6/2014. Anh lính rất trẻ kia xuất thân cùng quê với ông, lúc đó một tay cầm khẩu súng trường, một tay cầm điện thoại, đang viết một tin nhắn nhưng không làm được vì bị súng làm vướng tay, mà lệnh quân là không bao giờ để tay rời súng. Bài thơ đầu tiên của ông trong tuyển tập ấn hành năm 2015 là về anh lính trẻ này từ thị trấn Chortkiv, vùng Ternopil, người “không bận tâm về vần điệu khi anh viết một tin nhắn gửi về bạn gái của anh.” Ông nói, bài thơ này đăng liền lên trang Facebook của ông.

BORYS_03_ra mat tap tho nam 2015
Nhà thơ chiến binh Borys Humenyuk (ngồi, trái) gặp các độc giả, năm 2015. 
 
Borys Humenyuk kể về duyên khởi của thi tập “Các bài thơ từ cuộc chiến” với báo The Day:

Một người bạn của tôi, Ivan Andrusiak, đã nhận xét về nó, ‘đây là một quả bom!’ Đó là khởi đầu của tuyển tập thơ này. Tôi là nhân chứng. Tôi viết về những gì tôi thấy. Không có bản sao thô hoặc bản thảo nào trong chiến tranh. Tôi viết thơ trên máy tính bảng của mình và tìm cách đăng lên Internet bất cứ khi nào tôi có cơ hội để làm điều này. Các bài thơ đã trở thành một kiểu như liệu pháp đối với tôi. Đôi khi, thay vì la hét hay khóc lóc, tôi chỉ muốn bắn lên bầu trời. Vài người làm như vậy – lấy súng bắn chỉ thiên lên trời – còn tôi, tôi viết lên những dòng thơ. Những bài thơ của tôi hiển lộ ra từ đâu? Từ đau đớn và nỗi buồn cho những người đã bị giết. thiệt mạng. Các bài thơ của tôi cũng được nuôi dưỡng bằng tình yêu với dân tộc thân thương của tôi, với các chiến hữu, và với Ukraine. Những bài thơ không sinh ra từ lòng căm thù.

BORYS_04 portrait_BIA SACH

Trái, nhà thơ Borys Humenyuk. Phải, bìa một tuyển tập nhiều nhà thơ đã được dịch sang tiếng Anh.

 
Sau đây là một bài thơ kể về 40 ngày không làm thơ sau khi nhà thơ chứng kiến một chiến hữu đã tử trận. Nơi đây, không phải thơ được nhân cách hóa. Nhưng là, thơ trở thành chính người thơ, đã chứng kiến quá nhiều cái chết, đã thấy quá nhiều bom và phi đạn.
 
KHÔNG MỘT BÀI THƠ TRONG 40 NGÀY
 
Không một bài thơ trong 40 ngày
Thơ đã đi xuống mồ
Khi vào ngày 23 tháng 11
Andriy Yurga, một chiến binh của tiểu đoàn "OUN"
Tử trận tại Pisky
Anh đến từ Lviv, biệt danh "Davyd."
.
Thơ biến thành màu đen
Mặc áo tang trong 40 ngày
Rồi được đất phủ lên
Rồi với tro
Bốn mươi ngày thơ ngồi trong chiến hào
Cắn chặt răng bắn trả trong im lặng
Thơ không muốn nói với ai
Có gì để nói về?
Cái chết?
.
Trong bốn mươi ngày đó, thơ đã thấy ​​nhiều cái chết.
.
Thơ thấy cây chết.
Những người chạy băng qua những bãi mìn của một mùa thu
Và không bao giờ đến được mùa đông.
.
Thơ thấy thú vật chết.
Chó và mèo bị thương
Kéo lòng thòng ruột gan của chúng lết trên đường
Như dường đây là cái gì đó bình thường
Thơ không biết phải làm gì:
Hãy thương xót và giúp chúng chết, hoặc
Hãy thương hại và để chúng sống.
.
Thơ thấy nhà chết.
Nhà của người ta,
Nhà của bạn.
Có phải đó là nhà của bạn
Ở nơi kia, quanh một góc đó?
.
Một năm trước, một ngôi nhà bình thường
Với hoa phía trước
Và khu vườn phía sau,
Với những cây táo, cây mận, cây lê,
Cây hạt walnut trong vườn
Với những người đã từng
Sống nơi đó.
.
Khi viên đạn đầu tiên đến
Nhà không hiểu
Nhà kinh ngac lặng lẽ
Và khóc lặng lẽ
Viên đạn bắn bị thương một bức tường.
.
Những viên đạn khác đến
Ngôi nhà không bao giờ có thể đoán khi nào chúng đến
Nhà không thể sẵn sàng đón chúng
Tự dùng tay che thân
Ẩn trên tầng nóc nhà hay
Trong tầng hầm.
.
Những viên đạn bắn thủng lỗ trên tường
Bắn vỡ cửa sổ
Bay vào trong nhà
Căn bếp, phòng khách,
Phòng của trẻ em.
Tìm kiếm người.
Đạn luôn tìm kiếm người.
.
Con người là lý do cho một ngôi nhà.
Rồi tới đạn súng cối
Vào mùa thu, ngôi nhà đã từng chỉ thích âm thanh
Của những hạt walnuts và các quả táo
Bắn vào mái nhà
Bây giờ đại pháo bắn trúng mái nhà.
.
Rồi tới một phi đạn từ dàn phóng phi đạn.
Ngôi nhà nhảy tưng lên như một cô gái
Nhảy qua ngọn lửa vào ngày hạ chí
Nhà lơ lửng trên không gian trong giây lát
Rồi hạ cánh chậm rãi
Nhưng nhà không thể đứng thẳng được nữa.
Tường, sàn, đồ nội thất,
Đồ chơi trẻ em, đồ dùng nhà bếp, đồng hồ ông ngoại,
Tất cả đều bị chiến tranh tàn phá,
Bị lửa đốt cháy.
.
Thơ đã thấy người chết.
Thơ nhét vỏ đạn đã bắn xong vào tai.
Thơ thà là bị mù lòa
Còn hơn là thấy xác chết mỗi ngày.
.
Thơ là con đường tắt dẫn vào cõi trời
Thơ ngó thẳng vào hư không.
Khi bạn ngã xuống
Thơ cho bạn nhớ lối về của bạn.
Thơ đã đi khắp chỗ
Nơi không có chỗ cho thơ.
.
Thơ đã chứng kiến ​​tất cả.
Thơ đã chứng kiến ​​tất cả.
.
Bao giờ nhà thơ có thể rời bỏ những dòng thơ về chiến tranh? Bao giờ Ukraine có thể trở về một thời bình yên như cổ tích? Câu hỏi sẽ không chỉ được trả lời bằng xương máu của chiến binh, nhưng cũng sẽ là những dòng thơ chiến binh của Borys Humenyuk, nơi đó chữ trĩu nặng khắp các trang thơ và ướt đẫm cả máu và nước mắt. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Mùa thu dẫu vừa khảy đôi ba nhịp vàng trên tàn cây. Mùa thu dẫu đang đốt hết mình trên hàng cây maple đỏ lá suốt dặm dài. Và mùa thu cho dù cũng vừa khép cánh cửa để ra đi, khép rất nhẹ nhàng như sợ làm thức giấc ai đó đang say ngủ. Tất cả. Những bổng trầm của mùa thu đều rúng động mấy tầng cung bậc cảm xúc của ta. Phiến lá vàng óng kia ẩn mật điều gì. Dấu chân vàng ố chiếc lá cuối thu như thể là những dấu chân cuối cùng để – nhẹ hẫng về mai sau – Ngọn gió của mùa thu ly tan nào vẫn thảng thốt trong nỗi chờ đợi. Hạt mưa nào xám tro quán phố. Và người ngồi nghe gió mùa thu về như – tiếng thổn thức của thời gian. Bạn ơi, xin lắng lòng trong buổi đêm tịch mịch để nghe cảm xúc bạn hòa âm thế nào với âm vang thu, để biết tác động mãnh liệt của thu – phù vân thôi cũng nát đời như chơi…
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine. Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ. Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 tới tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.