Hôm nay,  

Chuyện Về Những Đứa Trẻ Nhớ Được Ký Ức Tiền Kiếp

31/05/202400:00:00(Xem: 1638)

tien kiep
Có những điều mà khoa học hiện đại vẫn chưa thể giải thích được, một trong số đó là các câu chuyện về tái sanh, luân hồi. (Nguồn: pixabay.com)
  
Ban đầu, mọi người vẫn nghĩ rằng Nina chỉ là một người bạn trong trí tưởng tượng của Aija.
 
Cô bé hai tuổi Aija từng sáng tạo ra rất nhiều người bạn tưởng tượng, nhưng cha mẹ cô bé – Ross, một nhạc sĩ, và Marie, một nhà tâm lý học – nhận thấy riêng Nina là một nhân vật hoàn toàn khác biệt. (Gia đình Ross và Marie đã yêu cầu tờ Washington Post chỉ sử dụng tên đệm vì tính nhạy cảm của chủ đề và vì Aija còn nhỏ)
 
Từ khi biết nói, Aija đã thường nói về Nina, và những mô tả của cô bé về Nina rất nhất quán. Aija kể với cha mẹ rằng Nina chơi piano, thích nhảy múa, và yêu màu hồng (trong khi Aija thì hoàn toàn không thích màu hồng). Khi Aija nói với tư cách là Nina, ở ngôi thứ nhất, thái độ của cô bé thay đổi: giọng nói trở nên ngọt ngào và cao hơn, cách cư xử nhẹ nhàng và lịch sự hơn so với tính cách hiếu động thường thấy của Aija.
 
Đôi khi, Aija kể rằng Nina sợ kẻ xấu đến bắt mình, hoặc sợ bị đói vì không có đủ thức ăn; Aija từng đem giấu một tô ngũ cốc và nói với mẹ là để dành cho Nina. Một ngày nọ, khi Marie đang sử dụng máy xay để nấu nướng trong bếp, Aija đã hoảng sợ trước tiếng ồn: “Mang xe tăng đi chỗ khác!” cô bé hét lên. Marie cũng bối rối không thể hiểu tại sao con gái mình lại biết từ “xe tăng.
 
Ban đầu, những tình huống thế này chỉ khiến Marie cảm thấy tò mò hơn là lo lắng. Tuy nhiên, vào một chiều mùa xuân năm 2021, Marie bắt đầu tin rằng có điều gì đó sâu xa hơn về Nina. Ngày hôm đó, hai mẹ con Marie và Aija đang chơi đồ hàng với nhau trong phòng khách, thì Aija bỗng quay sang mẹ và nói: “Nina rất buồn vì trên cánh tay mình có những con số.
 
Đầu óc Marie quay cuồng, nhưng vẫn ráng giữ giọng bình tĩnh để hỏi con: “Con nói gì cơ?
 
Trên cánh tay Nina có những con số và cô ấy buồn lắm,” Aija lặp lại, chỉ vào phía trong cẳng tay của mình. Sau đó cô bé nói thêm: “Nina nhớ nhà lắm. Nina đã bị bắt tách ra khỏi gia đình mình.
 
Khiến Marie giật mình không chỉ là những lời kể vu vơ của con gái, hay cách con bé phát âm chữ R rất chuẩn và rõ ràng – thường thì Aija rất hay bị ngọng nghịu khi nói những từ có chữ này – mà còn có biểu cảm của con bé trong khoảnh khắc đó.
 
Gần ba năm sau, khi Marie nhớ lại và cố gắng giải thích về biểu cảm đó: “Chỉ là…” cô dừng lại, suy nghĩ một chút rồi kể tiếp, “vẻ mặt đó tựa như chất chứa một nỗi u buồn sâu sắc.” Marie nói: “Một đứa trẻ mới biết đi không thể hiểu được kiểu đau đớn bất hạnh đó. Biểu cảm trên khuôn mặt con bé quá già dặn. Như vậy có hợp lý không?
 
Có thể có, và có thể không, thậm chí ngay cả với Marie, ngay lúc này. Những gì cô biết chắc chắn là: đứa con gái mới chập chững biết đi của mình chưa bao giờ nghe bất cứ điều gì về Holocaust, và càng không thể nhận ra ý nghĩa của những con số trên cánh tay. Marie hiểu câu chuyện này sẽ khiến người ta dễ có cảm tưởng gì, nên cô cực kỳ cẩn trọng khi nói về những chuyện liên quan đến con gái mình.
 
Marie cũng biết mình không đơn độc. Kể từ những năm 1960, hơn 2,200 trẻ em trên khắp thế giới đã mô tả những ký ức rõ ràng về tiền kiếp, tất cả thông tin này đều được ghi lại trong cơ sở dữ liệu của Phân khoa nghiên cứu về tri giác (Division of Perceptual Studies) thuộc Khoa Khoa học về Tâm thần và Hành vi thần kinh (Department of Psychiatry and Neurobehavioral Sciences) tại Trường University of Virginia School of Medicine. Đôi khi những thông tin mà một đứa trẻ kể lại đủ để người thân hoặc các nhà nghiên cứu có thể xác định được là trùng khớp với thông tin của một người đã mất; nhưng không có nhiều trường hợp trẻ kể đầy đủ các thông tin chi tiết như vậy. Khoảng 1/3 số trường hợp trong cơ sở dữ liệu không tìm được bất kỳ người quá cố nào có thông tin khớp với lời kể của trẻ.
 
Hiện tượng đậm chất huyền bí và siêu nhiên này từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều cuốn sách, nghiên cứu học thuật, những câu chuyện trên báo đài và các bộ phim tài liệu kịch tính. Tất cả những cuộc khám phá này đều xoay quanh những câu hỏi về hiện sinh: Luân hồi có thật không? Điều gì xảy ra sau khi chúng ta chết? Làm sao để giải thích về cái chết và luân hồi? Nhưng, tất nhiên, không có phương tiện khoa học nào để chứng minh – hay bác bỏ – một cách thuyết phục về chuyện làm thế nào mà một người có thể còn nhớ được những chuyện của kiếp trước.
 
Điều này khiến các bậc cha mẹ như Marie và Ross phải đối mặt với một tình huống đặc biệt và khó mà giải thích rõ ràng. Họ biết là có điều gì đó đang xảy ra, và phải đối mặt với những câu hỏi khác nhau, và đều là những câu hỏi khó: Điều gì sẽ xảy ra? Điều đó có ý nghĩa gì? Chúng ta sẽ phải làm gì – nếu như có một ngày, con trẻ kể đã nhớ rằng mình đã từng là một người khác?
 
Ở Louisiana, vào năm 2000, cậu bé 2 tuổi James Leininger thường tỉnh giấc và la hét, lặp đi lặp lại những cụm từ giống nhau khiến cha mẹ bối rối và lo lắng: “Phi cơ đang bị cháy và rơi! Anh bạn nhỏ không thoát ra được!” Trong năm tiếp theo, một câu chuyện dần dần hé lộ qua những ký ức và hình vẽ: Cậu bé từng là một phi công trong Thế Chiến II, phi cơ của cậu cất cánh từ một con tàu, và cậu hi sinh khi bị quân Nhật bắn hạ. James đã nói ra những cái tên người và địa điểm, và rồi sau đó, trường hợp của cậu bé James đã trở thành một trong “Những trường hợp thuộc dạng thức tái sanh luân hồi” (Cases of the Reincarnation Type, CORT) nổi bật nhất và được ghi chép đầy đủ nhất từ trước đến nay.
 
Ở Oklahoma, năm 2009, bạn nhỏ 5 tuổi Ryan Hammons thường tỉnh giấc lúc nửa đêm và cầu xin: “Tôi có thể về nhà được không? Tôi có thể gặp mẹ tôi được không?” hoặc “Chuyện gì đã xảy ra với các con tôi?” Có lúc, cậu bé trèo lên giường mẹ trong nước mắt. Cyndi Hammons nhớ lại, một đêm nọ, con trai nằm bên cạnh cô, thì thầm kể với mẹ rằng “Con nghĩ con đã từng là một người khác đó mẹ.
 
Quay lại với câu chuyện của Aija, ngay sau khi nói với mẹ về những con số trên cánh tay của Nina, cô bé cũng bắt đầu bị giật mình vào ban đêm và lo lắng. Vừa khóc vừa đi đi lại lại trong phòng, Aija nói rằng rất sợ những ánh mắt đang nhìn chằm chằm vào mình trong bóng tối, hay “những kẻ xấu” sẽ bắt cô bé đi, hay những đám mây xanh đang “bay đến để tàn sát tất cả chúng ta.”
 
Marie cho biết, đến thời điểm đó, cô đã tìm đọc nhiều hơn về những đứa trẻ có thể nhớ chuyện kiếp trước, và thấy tin chắc rằng cón gái Aija của mình cũng đang trải qua chuyện tương tự. Marie nói: “Tôi luôn cố gắng cởi mở, đón nhận.” Ross thì chưa chắc lắm, nhưng anh đồng ý rằng những chuyện đang xảy ra đều có vẻ phi thường.
 
Những lúc Aija sợ hãi như vậy, Marie và Ross đã học được rằng việc tốt nhất có thể làm cho con gái chỉ đơn giản là ở gần bên cạnh cô bé. Họ sẽ ôm con, hoặc bình tĩnh ngồi gần đó và nhắc nhở con rằng con vẫn đang được an toàn. Marie nói: “Tôi không biết phải làm gì ngoài việc càng yêu thương con mình hơn.” Aija là một đứa trẻ vui vẻ và không biết sợ hãi, đôi khi cô bé có vẻ cũng hiểu được những lo lắng của cha mẹ. Một đêm nọ, khi Marie cố gắng dỗ dành con gái, Aija hỏi một câu khiến mẹ nghẹn lời: “Tại sao trong lòng con lại có những hình ảnh tồi tệ này vậy mẹ?
 
Về sau, Marie cũng chia sẻ những câu chuyện này với một vài người bạn học đáng tin cậy từ chương trình tâm lý học ở trường. Cô nói: “Họ nói, ‘Chuyện này không bình thường đối với một đứa trẻ 2 tuổi’.
 
Đối với nhiều bậc cha mẹ rơi vào hoàn cảnh kỳ lạ này, sẽ đến lúc họ nhận ra rằng đây không phải là một giai đoạn thoáng qua. Đây không phải là loại chủ đề mà họ có thể tìm hiểu, nghiên cứu trong các cuốn sách chỉ cách nuôi dạy con cái, hoặc những chuyện phiếm để nói lúc trà dư tửu hậu.
 
Vì vậy, họ làm điều mà bất kỳ bậc cha mẹ nào cũng thường làm khi có thắc mắc mà không thể tìm ra câu trả lời: Họ lên Internet kiếm thông tin. Họ mở Google – gõ vào ô tìm kiếm ‘trẻ em nói về kiếp trước?’ – và kết quả tìm kiếm đưa ra một trang web có vẻ rất chính thống. “Lời khuyên dành cho các bậc phụ huynh khi con cái tự nhiên nhớ lại những ký ức tiền kiếp,” là một dòng tiêu đề trên trang web của Trường University of Virginia School of Medicine, và bên dưới là “Hãy liên lạc với chúng tôi.” Đó là cách họ biết đến Jim Tucker.
 
Là giám đốc của Phân khoa nghiên cứu về tri giác (Division of Perceptual Studies, DOPS) tại Đại học Virginia trong suốt 10 năm qua, Tucker đã làm việc trực tiếp với gần 150 gia đình, ghi chép lại tất cả lời kể, mô tả của những đứa trẻ về ký ức tiền kiếp.
 
Tucker kế thừa công việc này từ Ian Stevenson, cựu chủ tịch Khoa tâm thần của Đại học Virginia và cũng là người sáng lập ra phân khoa mà sau này trở thành DOPS. Bắt đầu từ những năm 1960, Stevenson đã đi khắp thế giới để ghi lại các trường hợp thuộc dạng thức tái sanh, luân hồi, xuất bản các bài báo học thuật và một số cuốn sách về những phát hiện của mình cho đến khi qua đời vào năm 2007. Stevenson có tiếng là một khoa học gia nghiêm túc và cẩn trọng, ngay cả những người hoài nghi về vấn đề này cũng phải công nhận điều đó. Stevenson đã công khai xem xét, kiểm tra cả điểm mạnh và điểm yếu của các trường hợp mà ông ghi chép ghi lại.
 
Năm 1996, Tucker bắt đầu hỗ trợ Stevenson thực hiện một nghiên cứu về những người từng trải qua kinh nghiệm cận tử (cận kề cái chết). Kể từ năm 2000, Tucker chủ yếu tập trung vào các công việc ở DOPS, công việc của một bác sĩ và đồng thời làm giáo sư về khoa học tâm thần và hành vi.
 
Các ý tưởng của Stevenson đã vấp phải không ít chỉ trích từ cộng đồng các khoa học gia: Một số người cho rằng ý thức được tạo ra bởi bộ não, và do đó không thể tiếp tục tồn tại sau khi bộ não đã chết; một số khác thì suy đoán rằng những đứa trẻ có thể đang kể về “những ký ức sai lạc” (false memories), và vô tình bị cha mẹ kết hợp lại thành một câu chuyện cụ thể.
 
Mong muốn của Tucker cũng tương tự như Stevenson, rằng những người chỉ trích có thể tham gia và cùng xem xét bằng chứng trong các báo cáo về những trường hợp tái sanh luân hồi, để công việc của DOPS không còn bị kỳ thị; nhưng mục tiêu của Tucker mang tính cá nhân hơn. Ông cho hay: “Có thể nói, tôi làm việc này là để cố gắng giải quyết vấn đề của chính mình. Với mỗi trường hợp, tôi đều có thái độ cởi mở, nhưng cũng giữ lại một chút ngờ vực: bằng chứng đáng tin đến mức nào? và liệu có cách giải thích nào khác hợp lý hơn không?
 
Một số mô hình nhất quán đã xuất hiện: những trường hợp rõ ràng và thuyết phục nhất, đối với cả Stevenson và Tucker, thường xảy ra ở trẻ em trong độ tuổi từ 2 đến 6 tuổi. Các bé có thể bất chợt mô tả những nơi chưa từng đến, những người chưa từng gặp, đôi khi sử dụng những từ hoặc cụm từ nằm ngoài vốn từ của mình. Thỉnh thoảng, trẻ gặp ác mộng hoặc bị rối loạn giấc ngủ. Nhiều trẻ trong số này nói rất giỏi và bắt đầu biết nói sớm hơn so với những đứa trẻ cùng lứa. Mô tả về ký ức kiếp trước của các con thường phai nhạt dần và biến mất hoàn toàn khi trẻ lên 7 hoặc 8 tuổi.
 
Những điểm tương đồng này xuất hiện trong các báo cáo được ghi nhận trên toàn thế giới. Trong số các trường hợp trong cơ sở dữ liệu của DOPS, khoảng 15% xảy ra ở Bắc Mỹ; trong số đó, phần lớn là từ các cộng đồng người bản địa. “Các trường hợp này dễ thấy hơn trong các nền văn hóa có niềm tin vào luân hồi,” Tucker nói.
 
Tucker cho biết, khó có thể xác định được mức độ phổ biến thực sự của hiện tượng này – đặc biệt là do nhiều gia đình có thể không nhận ra, hoặc có thể cố gắng ngăn chặn – nhưng mỗi năm DOPS nhận được liên lạc của khoảng 120 gia đình, hầu hết là ở Hoa Kỳ. Nếu ký ức của trẻ đủ chi tiết để có thể xác định được cụ thể một người nào đó, DOPS sẽ mở một cuộc điều tra và trường hợp đó sẽ được đưa vào cơ sở dữ liệu.
 
Nhưng ngay cả khi trẻ có thể kể lại những ký ức rất cụ thể và chi tiết, thì cũng có lúc phụ huynh lại không muốn tìm hiểu thêm. Tucker chia sẻ: “Đó có thể là phần khó chịu nhất, khi gặp được một trường hợp rất thú vị, nhưng phụ huynh lại muốn ngừng lại.
 
Cũng có lúc phụ huynh lại can thiệp quá nhiều, có thể làm xáo trộn các bằng chứng. Nếu cha mẹ đặt những câu hỏi mang tính dẫn dắt, hoặc nếu trẻ biết rằng một số điều nếu nói ra sẽ nhận được những phản ứng nhiệt tình hoặc gay gắt, thì rất khó để phân biệt liệu trẻ đang thật sự kể chuyện, hay đang cố gắng làm hài lòng cha mẹ.
 
Tucker tin rằng phần lớn các gia đình mà ông đã gặp không hề đặt điều hay thêu dệt thêm cho câu chuyện của họ để thu hút sự chú ý. Thực tế, nhiều bậc cha mẹ còn cảm thấy khá bất an trước những lời kể của con mình và không muốn để công chúng biết đến câu chuyện của họ.
 
Ấn tượng này được Tom Shroder, cựu biên tập viên của tờ Washington Post và là tác giả cuốn sách “Old Souls: Compelling Evidence From Children Who Remember Past Lives” (xin tạm dịch là “Những linh hồn già nua: Bằng chứng thuyết phục từ những đứa trẻ mang ký ức tiền kiếp”), xác nhận khi ông cùng Stevenson nghiên cứu các trường hợp ở Lebanon và Ấn Độ. Shroder cho biết, không gia đình nào mà họ phỏng vấn có vẻ mang động cơ cá nhân hoặc vật chất để bóp méo những gì họ đã chứng kiến. Ông nói: “Họ là những người bình thường kể về những chuyện mình từng trải qua,” và những điều mô tả về con cái của họ “rõ ràng không phải là chuyện trẻ con thường hay tưởng tượng.
 
Tovah Klein, nhà tâm lý học phát triển trẻ em hàng đầu và là giám đốc Trung tâm Barnard College Center for Toddler Development ở New York, cũng xác nhận điều đó.
 
Bà giải thích rằng ở độ tuổi lên 2 hoặc lên 3, trẻ em thường hay tưởng tượng khi chơi, nhưng những đứa trẻ ở độ tuổi đó không thể tự nghĩ ra những lời nói liên quan đến các mối quan hệ quan trọng như với cha mẹ. Nói cách khác: những câu nói như “Bà không phải mẹ con” hay “Con muốn cha mẹ khác của con” hoặc “Các con tôi đâu?” không phải là điều mà một đứa trẻ thường sẽ nói, chứ đừng nói đến việc trẻ cứ khăng khăng lặp đi lặp lại như vậy. Klein cho rằng những câu nói này không phải do trẻ nhỏ bị nhầm lẫn, mà là thực sự có ý nghĩa với trẻ. Trẻ nhỏ thường không tự bịa ra những điều như thế.
 
Vậy chúng ta nên hiểu điều đó như thế nào? Klein cho rằng việc tiếp nhận loại thông điệp này từ một đứa trẻ đòi hỏi một tấm lòng thật sự cởi mở và bao dung, đặc biệt là khi khoa học chưa thể giải thích rõ ràng.
 
Vào một sáng thứ Bảy nắng đẹp cuối tháng 8, Tucker cùng nhóm của mình tìm đến một con phố ngoại ô ở Alexandria, Virginia, để gặp gia đình Marie, và Aija, một bé gái nhỏ nhắn và xinh xắn.
 
Aija đang chơi với các khối đồ chơi xếp hình và ăn bánh quy giòn, trong khi Marie và Tucker xem xét các giấy tờ cho nghiên cứu. Tucker bắt chuyện nhẹ nhàng với Aija: “Chú có nghe nói cháu hay kể chuyện về Nina.
 
Dạ vâng!” Aija ríu rít trả lời với giọng điệu ngọt ngào.
 
Cháu có thể kể cho chú nghe về Nina không?” Tucker hỏi.
 
Ồ!” Aija nói. “Cô ấy đang là cháu nè.
 
Tucker nghe nhầm nên hỏi lại: “Cô ấy xấu tính lắm hả”. (Bên trên, bé Aija nói tiếng Anh là “She is being me,” nhưng Tucker nghe nhầm thành “She’s being mean”)
 
Aija lắc đầu, “Cô ấy chính là cháu.
 
Tucker lúc này nghe đã hiểu, và gật đầu. “À, mẹ cháu có nói là Nina có những con số trên cánh tay. Cháu có thể kể cho chú nghe về chuyện đó không?” Nghe câu hỏi này, Aija cụp mắt xuống và im lặng, ép chặt cơ thể nhỏ bé của mình vào ghế.
 
Cháu không muốn nói chuyện hả?” Tucker nhẹ nhàng hỏi, vốn đã quen với những khó khăn khi trò chuyện với trẻ nhỏ và luôn dừng lại khi thấy trẻ không được thoải mái. Ông nói: “Vậy thì chú sẽ nói chuyện với mẹ cháu một chút về Nina, còn cháu có thể nói bất cứ lúc nào cháu muốn, được không?” và Aija gật đầu.
 
Cô có nhớ những điều đầu tiên con mình nói về Nina không?” Tucker hỏi Marie.
 
Con bé nói rằng Nina rất thú vị,” Marie nói. “Và đôi khi con bé rất kịch tính. Hoặc mắc cỡ. Tính cách của con bé rất nhất quán kể từ khi chúng tôi bắt đầu nghe về Nina.
 
Có điều gì khiến cô nghĩ rằng Nina khác với một nhân vật trong trí tưởng tượng không?” Tucker hỏi.
 
Chỉ có sự nhất quán,” Marie nói. “về những thông tin mà con bé kể, như Nina là ai và cô ấy ra sao.
 
Sau đó, Marie mô tả những điểm nổi bật trong câu chuyện của Aija: có lần cô bé ngồi xuống cây đàn piano và chơi bài “Twinkle, Twinkle, Little Star,” và khi cha mẹ ngạc nhiên hỏi, thì cô bé trả lời rằng, “Nina đã dạy con đó.” Có lúc Aija òa khóc khi nói về chuyện Nina nhớ nhà. Lại có lần Aija tuyên bố một cách ‘giật gân’ với cha mẹ: “Kính thưa quý vị, chào mừng quý vị đến với tận thế!” rồi trang trọng cúi chào.
 
Marie mỉm cười: “Nghe những lời đó từ một đứa trẻ 2 tuổi, đặc biệt lúc đó là trong thời gian đại dịch, thật là rùng rợn.
 
Tucker gật đầu. “Chắc cô rất tò mò liệu con gái mình đã học được các biểu cảm đó ở đâu.
 
Trong suốt cuộc trò chuyện, Tucker chú ý rất kỹ lưỡng, cẩn thận ghi lại từng chi tiết mà Marie chia sẻ. Vào những lúc Marie hoặc Shawn trở nên hào hứng về điều gì đó mà Aija đã nói, Tucker vẫn giữ thái độ điềm tĩnh và thực tế, không để cảm xúc chi phối.
 
Đến cuối cuộc phỏng vấn, cuộc thảo luận của họ chuyển sang kinh nghiệm của Aija và gia đình. Marie nói họ không khuyến khích cũng không cấm cản Aija nói về Nina, mà thay vào đó chỉ chấp nhận và lắng nghe những gì con mình nói. Tucker gật đầu tán thành.
 
Tucker cho biết, thông tin về Nina sẽ ít dần và có khả năng sẽ biến mất hoàn toàn trong vài năm tới. Việc đi học sẽ giúp trẻ em dễ quên đi ký ức về tiền kiếp. Khi Aija tập trung vào việc học hành, chơi đùa với bạn bè, và tham gia vào các hoạt động khác trong cuộc sống hằng ngày, ký ức về Nina sẽ trở nên ít quan trọng hơn và dần mất đi.
 
Khi được hỏi về suy nghĩ của mình trong trường hợp của Aija, Tucker nói rằng ông thấy lời kể của gia đình rất thuyết phục, nhưng không có đủ chi tiết cụ thể để tiếp tục điều tra. “Về cơ bản, câu chuyện này trở thành một trường hợp nữa không được xác minh ở Hoa Kỳ.
 
Với gia đình Aija, Marie nói: “Tôi cảm thấy câu chuyện của con mình rất thật. Cảm tưởng của tôi đại loại như là ‘Điều này thật sâu sắc; liệu có ai khác từng trải qua chuyện tương tự như vậy không?’” Và Marie nghĩ rằng, đến một lúc nào đó, cô có thể tìm kiếm những phụ huynh khác đã từng trải qua chuyện giống gia đình mình, để nghe họ kể về câu chuyện của họ.
 
Trong hơn mười năm qua, Cyndi Hammons (mẹ của Ryan) đã trở nên thành thạo trong việc trả lời các tin nhắn xuất hiện trong hộp thư Facebook của cô, được gửi bởi các bậc cha mẹ đang lo lắng không biết phải làm gì khi hình như con mình đang có trí nhớ của kiếp trước.
 
Cô nói: “Bất kỳ ai đang rơi vào hoàn cảnh đó, tôi đều nói với họ là họ sẽ vượt qua được.” Hammons sẽ cố gắng lắng nghe và thấu hiểu. “Tôi không biết mình có giúp được ai chưa, nhưng tôi hiểu cảm giác đó như thế nào. Tôi biết cảm giác sợ hãi và cảm giác khi bị phán xét, rất nặng nề,” cô nói, “Hầu hết các trường hợp đều bị bỏ ngỏ. Trường hợp của Ryan đã được điều tra. Nên gia đình tôi may mắn hơn nhiều người rồi.
 
Ban đầu, Ryan thường choàng tỉnh nửa đêm, khóc nức nở và nói những điều mà mẹ không thể hiểu được: rằng cậu bé nhớ mình đã sống ở Hollywood, trong một ngôi nhà lớn màu trắng và có hồ bơi. Rằng cậu bé từng có ba con trai và một em gái. Rằng cậu bé đi chiếc xe màu xanh lá cây, còn xe của vợ thì màu đen.
 
Cyndi nói: “Cảm giác giống như đang sống với một người mắc bệnh Alzheimer, xen lẫn đau buồn.” Nhưng người đó lại là đứa con trai bé bỏng của cô, và tất cả những gì cô muốn chỉ là con mình được cảm thấy an toàn và hạnh phúc.
 
Lúc đầu, Cyndi không dám nói với ai, kể cả chồng mình, bố của Ryan. Kevin Hammons là con trai của một mục sư Giáo hội Chúa Kitô, và là một cảnh sát trong thị trấn nhỏ ở Oklahoma, và Cyndi biết chồng sẽ nghĩ gì. Trong nhiều tháng, đó là bí mật giữa hai mẹ con. Cô mang về nhà những cuốn sách mượn từ thư viện, viết về Hollywood vào những năm 1940, để Ryan có thể xem thử từng trang.
 
Nhưng những cơn ác mộng và ký ức của Ryan vẫn không dừng lại, cuối cùng Cyndi đành phải kể cho chồng nghe chuyện gì đang xảy ra. Ban đầu, Kevin không chấp nhận ý tưởng về chuyện tái sanh, luân hồi, nhưng với thói quen của một cảnh sát, anh nói vợ ghi lại mọi điểu Ryan nói. Không lâu sau đó, trong một cuốn sách, Ryan nhìn thấy một người trong ảnh chụp của sáu người đàn ông. Cậu bé chỉ mẹ và hô lên: “Đó là con!
 
Cyndi đã viết thư cho Tucker, và vào tháng 4/2010, với sự giúp đỡ của đội ngũ sản xuất loạt phim “The Unexplained” của A&E, họ đã xác định được người đàn ông là Marty Martyn, một nam tài tử điện ảnh đã qua đời vào năm 1964.
 
Cùng với Tucker và đoàn làm phim truyền hình, hai mẹ con Cyndi và Ryan tới California để gặp con gái của Martyn, Marisa Martyn Rosenblatt. Khi cha mình qua đời, cô chỉ mới 8 tuổi. Ban đầu, cô tỏ ra hoài nghi, nhưng cuối cùng đã xác nhận nhiều tuyên bố của Ryan về Marty Martyn là đúng, trong đó có cả những thông tin mà cô chưa được biết. Marisa không biết rằng bố mình đã đi một chiếc xe màu xanh lá cây, hoặc chuyện ông có một em gái, nhưng hóa ra cả hai thông tin này đều chính xác. Giấy chứng tử của Marty Martyn ghi tuổi ông là 59, nhưng Ryan khẳng định ông qua đời ở tuổi 61; Tucker đã tìm ra hồ sơ điều tra dân số và danh sách kết hôn, cả 2 đều xác nhận là ông qua đời ở tuổi 61; con gái của Martyn cũng đồng ý với thông tin này.
 
Khi tập phim “The Unexplained” phát sóng vào năm 2011, cuộc sống của gia đình Hammons thay đổi rất nhiều, tên của họ xuất hiện đầy trên báo chí và mọi người trong thị trấn đều biết câu chuyện của Ryan.
 
Mọi người phán xét và chỉ trích vợ chồng Cyndi: Con trai ông bà cần tìm đến với Chúa để được cứu rỗi. Ông bà làm cha mẹ kiểu gì vậy? Ông bà làm vậy để kiếm tiền đúng không?
 
Cô nói: “Phải thật sự trải qua thì mới hiểu được. Mọi chuyện đều xoay quanh việc bảo vệ Ryan. Người ta nghĩ gì về tôi, tôi không quan tâm. Tôi chỉ cần biết sự thật, và tôi chỉ cần Ryan được tốt đẹp.
 
Ryan bây giờ đã là sinh viên đại học. Cậu không còn nhớ mình từng là Marty Martyn nữa, và cũng không nói với ai về chuyện này nữa. Cậu vẫn chưa chắc chắn những chuyện mình từng trải qua nên gọi là gì. Ryan nói: “Tôi thì sao cũng được, nhưng tôi không thể nói chắc chắn rằng tái sanh là có thật.” Hiện tại, Ryan chỉ tập trung lo cho tương lai của mình.
 
Vài tuần sau khi Marie và Aija gặp Tucker ở Virginia, Aija bắt đầu đi học mẫu giáo – và đúng như Tucker đã dự đoán, sự hiện diện của Nina bắt đầu giảm dần. Aija say mê với ngôi trường mới và những người bạn nhỏ ở đó.
 
Vài tháng sau, vào một sáng Chủ nhật lạnh giá của tháng 2, Aija xoay tròn và nhảy múa theo các bài hát yêu thích trong phòng khách nhà bà ngoại ở Michigan. Vợ chồng Marie cho biết, chỉ vài tháng trước, Aija nói chuyện với tư cách là Nina hoặc nói về Nina gần như là mỗi ngày; bây giờ, có khi cô bé chẳng nhắc gì đến Nina trong mấy ngày liên tiếp. Cho đến nay, Aija vẫn chưa hề nhắc đến Nina khi ở trường. Cô bé sẽ tròn 5 tuổi vào tháng 12, và những ký ức về tiền kiếp thường sẽ bắt đầu phai nhạt dần ở độ tuổi này.
 
Đã nhiều tháng đã trôi qua, Marie thấy vô cùng nhẹ nhõm khi Aija không bị giật mình ban đêm nữa. Cô nói: “Không có bà mẹ nào muốn thấy con mình đau khổ hết. Tôi hy vọng con bé đừng bao giờ gặp phải những cơn ác mộng kinh hoàng như vậy nữa.
 
Nhưng thật ra mà nói, Nina cũng đã mang lại niềm vui cho Aija chứ không chỉ là nỗi sợ hãi; Nina như một người bạn đồng hành đặc biệt của cô bé, sự hiện diện của Nina đã làm cho những khoảnh khắc thời thơ ấu của Aija trở nên nhẹ nhàng và tinh tế. Những khoảnh khắc đó cũng đang dần ít đi, khiến Marie xúc động: “Cũng thấy có một chút cảm giác hoài niệm.
 
Ross gật đầu hiểu ý. Nhưng anh cảm thấy bình yên hơn khi ảnh hưởng của Nina giảm dần; chuyện này phản ánh rất nhiều về vai trò làm cha mẹ, liên tục chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, từ vấn đề này sang vấn đề khác. Ross nói: “Sự biến mất của hiện tượng này giống như một phần của quá trình tự nhiên.” Gia đình họ đã học được cách cởi mở, đón nhận bất cứ điều gì có thể xảy ra.
 
Marie nhấc điện thoại lên để chọn bài hát mới, và Aija chuẩn bị sẵn tư thế cho điệu nhảy tiếp theo. Cô bé nhìn bố mẹ mình và cười toe toét, hỏi “Bố mẹ đã sẵn sàng chưa?
 
Nguyên Hòa biên dịch 
Theo phóng sự đặc biệt của Caitlyn Gibson, trên báo Washington Post
Link bài gốc: https://www.washingtonpost.com/lifestyle/2024/05/02/children-past-lives/
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Các quý cô quý bà đang mong muốn ‘sưu tầm’ thêm vài con dấu cho Thẻ thông hành (Passport) của mình? Quý vị có thể sẽ phải gạch bỏ 5 điểm sau đây trong danh sách du lịch của mình. Những chỗ này không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp tuyệt vời hay giá trị lịch sử thiêng liêng, mà còn vì họ cấm nữ du khách lui đến.
Cứ nói đến thuyết Galileo là có ngay lông chim và một cái gì đó như cái kìm, cái búa đứng cạnh để chứng tỏ “không khí đã gây cản trở”. Bên nặng bên nhẹ quá khác biệt. Đáng lẽ các nhà nghiên cứu phải tiến xa hơn, không thể ngừng ở kết luận lười biếng ấy. Chỉ cần loại bỏ lông chim (thiếu yếu tố sức cản không khí), rồi cho hai cái búa một 5 ký, một 4 ký, chẳng hạn, cùng rơi trên mặt trăng, mặt đất – xem chúng có rơi cùng tốc độ hay không… là biết liền. Năm ký, bốn ký hay một ký v.v… đều “rơi” cùng tốc độ dù có hay không có vacuum. Vì thực sự, chúng… không rơi! Chính chất đen, khi tạo ra quán tính cho muôn vật, đã gây ra hiện tượng ấy.
Dưới thời các Tổng thống Barack Obama, Donald Trump và Joe Biden, chiến lược phòng thủ của Hoa Kỳ đã được xây dựng dựa trên quan niệm lạc quan rằng, Hoa Kỳ sẽ không bao giờ cần chiến đấu nhiều hơn một cuộc chiến trong cùng một lúc. Dưới thời chính quyền Obama, đứng trước tình trạng tiết kiệm ngân sách, Bộ Quốc Phòng đã từ bỏ chính sách lâu đời là sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng trong hai cuộc chiến lớn để tập trung vào việc có được các phương tiện chiến đấu và chỉ giành chiến thắng trong một cuộc chiến. Hành động đó đã đẩy nhanh xu hướng, hướng tới một quân đội Mỹ nhỏ hơn. Nó cũng thu hẹp các lựa chọn khả dụng cho giới hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, vì việc cam kết cho Hoa Kỳ tham chiến ở một nơi sẽ ngăn cản hành động quân sự ở nơi khác.
Chế độ CSVN và TBT Nguyễn Phú Trọng thường ca ngợi tính ưu việt của cái gọi là Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa. Nếu chúng ta đánh giá khách quan thực chất của Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa này, liệu nó có thể sánh vai cùng hệ thống pháp luật của các quốc gia dân chủ tây phương hay không?
Kỹ sư (KS) Phạm Phan Long là cố vấn và chuyên gia kỹ thuật công nghệ và cơ sở hạ tầng. Ông từng đưa ra sáng kiến dự án điện mặt trời nổi trên Biển Hồ Tonle Sap (2019) với mục đích tìm giải pháp năng lượng và bảo vệ Biển Hồ, để không phải xây đập Sambor và giảm giá điện cho người dân Cambodia từ cao nhất xuống mức thấp nhất khu vực. Bài viết này có mục đích độc nhất mong Cambodia thận trọng hơn, bình tĩnh kiểm soát lại và đừng quá vội vã với kênh Phù Nam. Ông cho rằng nếu Cambodia và Việt Nam liên minh yêu cầu Trung Quốc giảm tích nước, khôi phục nhịp lũ và bảo đảm Biển Hồ nhận đủ 80 tỉ mét khối nước như trước khi có thuỷ điện, hai quốc gia sẽ không còn tranh chấp vì có đủ nước cho châu thổ cả hai nước cùng phát triển
Vinh quang xương máu lại được hâm nóng thêm một lần nữa, với lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên và, lần này, như để thoát khỏi lối mòn, không khí chiến tranh đã… mùi hơn với hôn lễ ở căn hầm khét mùi thuốc súng của Christian de Castries, lấy xe tăng thay thế xe hoa. Đó là đám cưới của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh -- tức sư đoàn phó, về sau là Trung tướng Phó Tổng tham mưu trưởng -- với nữ y tá –sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Toản, về sau là Giáo sư – Bác sĩ tại Quân y viện 108. “Nhứt đốn tre, nhì ve gái”, những ai từng khổ sở với khoản thứ nhì này đều ao ước rằng mình có cơ hội như ông Khánh bởi, để lấy được người con gái mình yêu, ông không hề… lao động một mình mà có sự đồng hành của hầu như cả hệ thống chính trị, đủ cả ban ngành quân dân cán chính.
Trong khi các tín ngưỡng về nghiệp và tái sinh là phổ biến vào thời của Đức Phật, nó cũng là một phần của Bà la môn giáo và Kỳ na giáo, nhưng không phổ quát: Triết lý Thiên định (Ājīvikas) tin là tái sinh được thúc đẩy bởi một động lực của định mệnh phi cá nhân, và đúng hơn là thuộc về nghiệp cá nhân...
Đất nước là nhu cầu sống thực của con người. Đất dụng canh, nước sinh cư tạo lương thực nuôi con người trong hệ hoàn vũ. Theo công kỹ nghệ gia tổng kết thì ngành nông nghiệp trên thế giới ngày nay đang tiêu thụ với tỷ lệ 65% số lượng nước, công nghiệp chi dụng 25%, và gia cư hao tốn 10%, cùng với số lượng nước hao cạn hàng giờ trong mỗi ngày trên toàn cầu, khi nhiệt độ và thời tiết tăng trưởng...
Theo thói quen đa số người Việt gốc miền Nam Việt Nam đều chỉ trích Hoa Kỳ, đặc biệt là Đảng Dân Chủ, đã bỏ rơi VNCH. Tin tưởng này được tăng cường bởi những lập luận thiếu căn bản dựa trên những tài liệu thiếu cập nhật của những cố vấn cũ của ông Nguyễn Văn Thiệu. Ít người có can đảm và tính chất vô tư để nhìn vào sự thật...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.