Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

"Left" có phải là cộng sản? "Liberal" có gì sai?

24/09/202218:07:00(Xem: 1618)

liberal

Quan điểm chính trị thường đươc chia làm hai phe: bảo thủ và cấp tiến. Người bảo thủ có nhiều quan điểm trái ngược với người cấp tiến. Người cấp tiến còn gọi là "khuynh tả", có khi được cho là "thân cộng". Chữ "liberal" được dùng với hàm ý miệt thị. Thật ra thì không đơn giản như vậy. Xin đọc tiếp.

Sự phân biện "tả", "hữu" và từ đó "khuynh tả", "khuynh hữu" xuất phát từ cuộc cách mạng Pháp năm 1789 khi các thành viên Quốc Hội chia thành những người ủng hộ nhà vua bên phải tổng thống và những người ủng hộ cuộc cách mạng ở bên trái. Cách sắp đặt này được xoá đi và lập lại nhiều lần. Cho đến năm 1814 đa số những người theo chủ nghĩa cực đoan đã chọn ngồi bên phải. Những người ủng hộ hiến pháp ngồi ở giữa trong khi các thành viên độc lập ngồi bên trái. Các thuật ngữ "cực hữu" và "cực tả" được sử dụng để mô tả các hệ tư tưởng khác nhau của hội đồng.

Bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, các thuật ngữ "tả" và "hữu" gắn liền với các hệ tư tưởng chính trị và được sử dụng để mô tả niềm tin chính trị của công dân, dần dần thay thế các thuật ngữ "đỏ" và "phản động". Từ "tả" và "hữu" cũng được dùng như những lời miệt thị để công kích nhau.
Theo Hans Jurgen Eysenck, các hệ tư tưởng chính trị được sắp xếp trong một biểu đồ như sau:

Trục ngang chia hai thái cực về quan niệm phân chia của cải trong xã hội. Bên trái là quan niệm mọi người trong xã hội nên chung sức với nhau để được hưởng đồng đều. Đây là quan niệm "làm theo năng xuất, hưởng theo nhu cầu", gần với thuyết cộng sản. Bên phải là quan niệm cơ hội được phân chia đồng đều. Người làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Đây là quan niệm kinh tế thị trường tự do, "có làm thì mới có ăn", gần với thuyết tư bản (capitalism).

Trục dọc chỉ mức độ can thiệp của chính phủ vào cuộc sống người dân. Ở trên cùng là chế độ độc tài, chính phủ kiểm soát và quyết định hành vi và lối sống của người dân. Tận cùng ở dưới là vô chính phủ, tự do tuyệt đối, người dân muốn làm gì thì làm.

308849419_10159452679034915_6985178251015834258_n

Tất cả mọi người đều có một quan điểm chính trị nằm ở giữa hai trục này. Các lãnh tụ độc tài Cộng Sản nằm ở khung bên trái phía trên. Các lãnh tụ phát-xit, như Hitler, cũng độc tài nhưng không cộng sản thì nằm phía trên bên phải.

Chữ "liberal" xuất phát từ chữ "libre" có nghĩa là "tự do". Ngày xưa có tiếng lóng "líp", như trong "ăn líp ba ga" là ăn thả cửa. Hay "Líp đi" là cứ tự nhiên. Trong quan điểm chính trị, "liberal" là người phóng khoáng, ủng hộ cải cách để thăng tiến con người.

Tất cả chúng ta đều là "liberal" vì cùng chung một quan điểm sinh ra là người tự do và có quyền sống tự do. Nếu chính phủ không ngăn cản thì với thị trường tự do chúng ta có thể làm nên của cải và có một cuộc sống sung túc. Đó là quan điểm tự do cổ điển (classic liberalism). Bắt đầu từ những năm 1860, 1870, các nhà trí thức phát hiện rằng trong một xã hội tự do, con người không có tự do. Bởi vì có những rào cản như sự nghèo khổ, thất học, bệnh dịch, v.v... mà nền kinh tế thị trường không giải quyết được. John Maynard Keyes cho rằng kinh tế thị trường không thể tự điều chỉnh để đối phó với suy trầm. Vì thế cần phải có sự giúp đỡ của chính phủ để người ta có thể vượt qua thất nghiệp, đói nghèo, bệnh tật, già nua, để có một cuộc sống hoàn toàn tự do. Từ đó hình thành một hệ tư tưởng gọi là tự do xã hội (social liberalism).

Người social liberal vẫn không muốn chính phủ có quá nhiều quyền hành hay quốc hữu hoá tất cả của cải. Nhưng chính phủ cần phải đầu tư vào xã hội, kích hoạt kinh tế để cuộc sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn.

Nếu chính phủ phải nhúng tay vào để giúp người nghèo thì người giàu không được hưởng gì trong những chương trình này và có phần thiệt thòi vì phải góp phần từ tiền thuế mà họ đã đóng. Có vẻ không công bằng vì giống như lấy của người giàu cho người nghèo như trong chuyện Robinhood. Thật ra thì, các khoảng đầu tư vào xã hội góp phần thúc đẩy kinh tế, và mọi người cùng được hưởng trong sự phát triển. Như các nhà kinh tế học đã chứng minh, kinh tế thị trường không hoàn hảo, nếu để tự do thì khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng xa. Khi người nghèo quá nghèo thì họ không tiêu thụ, không góp phần cho kinh tế. Sự chênh lệch giàu nghèo dễ gây nên xung đột, tạo ra chiến tranh. Chi bằng tạo cơ hội cho những người không có điều kiện để mọi người cùng thăng tiến. Năm 1932, khi nước Mỹ trong cuộc đại suy trầm, còn gọi là "The Great Depression", tổng thống Franklin D. Roosevelt đã đề nghị "The New Deal", lập ra các chương trình xã hội như Social Security, Medicare, v.v... Tổng thống Roosevelt nói: "The test of our progress is not whether we add more to the abundance of those who have much; it is whether we provide enough for those who have too little." (tạm dịch, "Thành quả của chúng ta không phải là chúng ta có cho thêm vào sự dư dả của những người đã có nhiều; mà là liệu chúng ta có giúp đủ cho những người có quá ít."). "The New Deal" mở ra một kỷ nguyên mới cho nước Mỹ, giúp nước Mỹ phát triển mạnh, trở thành một cường quốc trên thế giới.

Khác với người cộng sản, người liberal không tin sở hữu toàn dân, không tin quốc hữu hoá doanh nghiệp. Người liberal ủng hộ tư hữu và tin rằng kinh tế thị trường sẽ tạo của cải và giúp cho mọi người có một cuộc sống sung túc. Doanh nghiệp do tư nhân làm chủ. Chính phủ giúp cạnh tranh công bằng và điều tiết nền kinh tế khi nó gặp khó khăn.

Người bảo thủ hay cấp tiến cùng có một niềm tin vào sự tự do của người dân. Người cấp tiến đặc biệt quan tâm hơn với lớp người thấp cổ bé miệng. Bill Gates và Warren Buffett cho rằng người cấp tiến không chống lại chủ nghĩa tư bản nhưng tin rằng luật thuế cần phải thay đổi để chính phủ có phương tiện xây dựng các chương trình y tế và xã hội hữu ích hơn cho người dân.

Nguyên Mai


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Anderson tập trung vào cách các phương tiện truyền thông tạo ra cái gọi là “các cộng đồng tưởng tượng”, đặc biệt là sức mạnh của phương tiện in ấn trong việc định hình tâm lý xã hội của một cá nhân. Anderson phân tích chữ viết, một công cụ được sử dụng bởi các giáo hội, tác giả và các công ty truyền thông (đặc biệt là sách, báo và tạp chí), cũng như các công cụ của chính phủ như bản đồ, kiểm tra dân số (census) và viện bảo tàng. Tất cả các công cụ này đều được xây dựng để nhắm vào đại chúng thông qua những hình ảnh, hệ tư tưởng và ngôn ngữ đang chiếm giữ ưu thế. Ví dụ, Anderson phân tích một cách sâu sắc về nguồn gốc văn hóa và tôn giáo của một biểu tượng rất điển hình của chủ nghĩa dân tộc hiện đại: các đài chiến sĩ trận vong với người lính vô danh.
Thánh Kinh nói thế. “Homosexuality is sin". “Đồng tính là tội lỗi.” Sự thật thì sao??? Lần đầu tiên từ “đồng tính" xuất hiện trong Thánh Kinh là năm 1946, khoảng một ngàn chín trăm mười năm sau khi chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự. Trong gần 80 năm qua, nó làm nền tảng cho không biết bao phân biệt đối xử, gây bao đau thương chết chóc cho những người đồng tính.
Một câu hỏi phức tạp, gây tranh luận sôi nổi và trở lại Tối Cao Pháp Viện (TCPV) vào mùa thu này: Điều gì sẽ xảy ra khi quyền tự do ngôn luận và quyền công dân xung đột với nhau?
Có một câu hỏi còn bỏ ngỏ cho các chuyên gia và các nghiên cứu gia: Có phải hiện nay có nhiều người Mỹ tin vào các thuyết âm mưu hơn bao giờ hết không? Tốt nghiệp xong bằng Tiến Sĩ Triết Học, Keith Raymond Harris thực hiện một cuộc nghiên cứu về các thuyết âm mưu chỉ ra mối lo ngại rằng việc tập trung vào tìm hiểu bao nhiêu người Mỹ tin tưởng các giả thuyết về âm mưu có thể khiến chúng ta lơ là quên đi những mầm hiểm họa tự các thuyết âm mưu này gieo rắc.
Lãi suất tăng đều đặn đã khiến người tiêu dùng và doanh nghiệp ngày càng tốn kém khi đi vay – để mua nhà, xe và các giao dịch hàng hóa khác. Và gần như chắc chắn sắp tới sẽ có thêm nhiều đợt tăng lãi suất nữa. Các viên chức FED được cho là sẽ phát tín hiệu lãi suất chuẩn có thể lên tới 4.5% vào đầu năm tới. Một chuỗi các đợt tăng lãi suất sẽ khiến nền kinh tế Mỹ có nguy cơ rơi vào suy thoái, đồng nghĩa với thất nghiệp, sa thải nhân viên và tạo áp lực lên giá chứng khoán. Bài này nêu lên những thắc mắc và trả lời thiết thực dành cho người tiêu dùng.
Chủ nghĩa Dân Tộc Cơ-đốc tin rằng nước Mỹ được xác định bởi Cơ-đốc giáo, và chính phủ nên thực hiện các bước tích cực để giữ nó theo cách đó. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc khẳng định rằng nước Mỹ đang và vẫn phải là một “quốc gia Cơ-đốc giáo”, không chỉ đơn thuần là một quan sát về lịch sử, mà là một chương trình cho những gì nước Mỹ phải tiếp tục trong tương lai.
Baltimore, nằm ngay trên bờ vịnh Chesapeake Bay thuộc bờ biển Đại Tây Dương, có dân số khoảng 700.000 người. Đó là thành phố, cũng là trung tâm công nghiệp và văn hóa lớn nhất của tiểu bang Maryland. Trong thời gian đầu lập quốc, Baltimore đã từng là một trong ba hải cảng lớn nhất của Hoa Kỳ và nó cũng đã từng đóng góp một phần vô cùng quan trọng trong ngành ngoại thương và phát triển kinh tế cho xứ sở này.
Sau khi nhiều tờ báo tiếng Anh phổ biến bản tin về vụ 4 nguyên đơn, gồm Elisabeth Le, Phuong Le, Lan Tran, và Lien Ta, kiện bị cáo Quyen Van Ho, đạo hiệu Thích Đạo Quảng, trụ trì Chùa Tam Bảo tại thành phố Baton Rouge thuộc tiểu bang Louisiana, tòa soạn Việt Báo đã thu thập được một số bản tin cập nhật và các tài liệu liên quan đến vụ này, gồm lá thư của Bác sĩ tâm lý đã về hưu John W. Pickering gửi cho báo The Advocate, và lá thư ngỏ của Luật sư di trú Roger K. Ward, Esq. gửi cho các Phật tử của Chùa Tam Bảo. Việt Báo trích dịch và đăng lại.
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora khác trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Sau đây là phần 2, tiếp theo phần 1 (kỳ trước) bàn về các ý niệm và định nghĩa của diaspora. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài.
Ngày 2 tháng 8 năm 2022, các cử tri ở Kansas đã chọn chống lại việc lật ngược quyền phá thai theo hiến pháp của tiểu bang. Vài ngày sau, các nhà lập pháp Indiana đã quyết định cấm gần như tất cả các trường hợp phá thai. Cả hai đều là các bang theo xu hướng bảo thủ, và đều ủng hộ nỗ lực tái đắc cử của cựu Tổng thống Donald Trump với tỷ suất gần giống nhau vào năm 2020: 56.1% - 41.5% ở Kansas và 57% - 41% ở Indiana. Vậy điều gì giải thích cho các kết quả khác nhau? Câu trả lời là ở Kansas, cử tri trực tiếp quyết định kết quả. Ở Indiana, thì các nhà lập pháp là người ra quyết định. Sự khác biệt này có ý nghĩa quan trọng, bởi vì đối với các vấn đề gây tranh cãi như phá thai, cũng như trong các vấn đề nổi bật khác, các cơ quan lập pháp tiểu bang không phải lúc nào cũng đại diện cho mong muốn của công chúng, người dân trong tiểu bang của họ.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.