Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tiếng Chuông Tân Thiên Niên Kỷ: Quê Nhà Cần Chuyển Đổi

16/06/200700:00:00(Xem: 30212)

Bìa sách.

  LTS: Sau đây là trích đoạn lần thứ nhì. Nhân sắp tới Lễ Mùa Khai Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, nhà văn Nguyễn Hùynh Mai, tác giả Cô Bé Làng Hòa Hảo gởi tới tòa soạn một số bài viết  đuợc trích từ quyển Nhật Ký Tâm Linh 4: Tiếng Chuông Tân Thiên Niên Kỷ, xuất bản nhân dịp Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Đức Hùynh Giáo Chủ Khai Đạo  Phật Giáo Hòa Hảo vào ngày 18 tháng 5 tức nhằm ngày 2-7-2007.

Độc giả có thể xem thêm sách tại trang nhà http://nguyenhuynhmai.com. Sau đây là các trích đoạn với các suy nghĩ về tôn giaó và dân tộc từ tác phẩm Tiếng Chuông Tân Thiên Niên Kỷ.

43. SỰ HỮU DỤNG CỦA CÁI NGÃ

12-6-2006

Khả năng chánh trị có giống khả năng kỹ thuật không"

Khả năng về mặt tâm linh, trình độ trí thức và tri thức có giống khả năng về kỹ thuật không"

Khả năng về khoa học trong đó có giáo dục tất cả mọi ngành nghề có giống khả năng kỹ thuật không"

Tất cả đều giống nhau nếu là khả năng thật.

Tất cả đều có một trình độ trí thức và tri thức trong mọi lãnh vực từ khoa học đến tâm linh, nếu đó là một tiến trình học hỏi dựa vào thực tế thực hành, vì có thực hành sẽ có tiến bộ phát triển khả năng. Khi phát triển khả năng mới đạt đến trình độ sáng tạo. Tức người đó có đủ trình độ từ thấp đến cao, và có khả năng thực hiện công việc ở mọi trình độ mà họ đã đi qua và thông qua. Đó là trình độ quán thông (master).

Khi bước đến trình độ quán thông, họ mới sáng tạo được một cái mới có căn bản thực dụng bởi những gì đã có, đã áp dụng thành công cho con người hay vạn vật. Và dĩ nhiên họ đã loại bỏ những gì đã thất bại, đổ vỡ có hại cho con người trong mọi lãnh vực.

Người quán thông trong mọi lãnh vực họ có khả năng nhìn, thấy, quán chiếu trong mọi trường hợp để áp dụng cho mỗi nơi, mỗi môi trường, tùy theo trình độ của nơi mà họ đến để đề xuất hay áp dụng đúng những gì chỉ sẽ mang lại kết quả tốt.

Một quốc gia mới trưởng thành, mới xây dựng từ đổ nát, ta không thể áp dụng những gì quá văn minh khoa học kỹ thuật vì trình độ nhân sinh và môi trường này không kịp lãnh hội và cũng thiếu chuẩn bị từ điều kiện tinh thần đến vật chất để sử dụng và áp dụng nó.

Người quán thông trước nhất phải bình tâm suy xét và quan sát quán chiếu từng nơi, từng lúc, và từng thời cộng với sự khách quan để không bị quyền lợi vật chất làm sai lệch sự góp công cho quốc gia, cho đạo một cách chỉ có hữu lợi cho tha nhân, chứ không có lợi lộc cho cá nhân họ.

Cái mấu chốt là ở chỗ cái ta có còn vị kỷ không, nếu cái ta còn vị kỷ thì cái quán thông đó chỉ vứt đi chứ không có lợi cho tha nhân.

Có nhiều kẻ tu hành, người yêu nước, yêu đạo, yêu tha nhân, đã làm hại đạo, hại quốc gia, hại cho chương trình xây dựng kiến thiết cho quê hương, chỉ vì cuối cùng họ quay trở lại cái Ngã tưởng đã diệt.

Trong một phút chốc họ hay ta đều có thể té ngựa khi ngủ quên trên chiến thắng.

Ta và người trên mọi tiến trình tu học trong nhiều môi trường khác nhau từ tâm linh cho đến khoa học kỹ thuật. Tưởng đã vượt cái Ngã, diệt cái Ngã, giết cái Ngã, nhưng bỗng đâu, một tíc tắc ngủ quên là cái Ngã lại lù lù xuất hiện.

Ta không thể giết - ta không thể diệt - ta tưởng đã vượt, nhưng cái Ngã luôn hiện hữu khi ta còn sống, còn thở. Nó chỉ là mặt của bên kia đồng tiền.

Ta không vượt, diệt, giết được, mà phải HIỂU cái Ngã, để ta nhận định lúc nào ta CẦN cái Ngã và lúc nào KHÔNG. Ta cần nuôi dưỡng cái Ngã vì nó chính là ta. Ta còn nó còn, và ta mất nó mất. Điều quan trọng là ta không nên tạo cho mình một ảo ảnh đã vượt, diệt, và giết được nó. Có biết sự hiện hữu thường trực của nó, ta mới luôn luôn thức tỉnh và nhạy bén để tạo nó thành một thành viên hữu dụng.

Cái Ngã sẽ trở nên "một thành viên hữu dụng" nếu ta hiểu và biết nó để ta có thể dùng nó khi cần và khi không cần. Khi nó có lợi và lúc nó có hại.

Cái Ngã đã giúp ta biết bao nhiêu trên tiến trình tu học về Đạo lẫn mọi ngành nghề trong khoa học kỹ thuật và giáo dục. Bao quốc gia đã nhờ nó mà tiến triển vượt các quốc gia khác trên thế giới. Nó đã giúp bao nhân tài thế giới đạt được tuyệt đỉnh của tài ba. Nó đã giúp bao người gia tăng ý chí vượt trở ngại từ ngôn ngữ cho đến khả năng của những kẻ có tật bẩm sinh hay thương tật vì chiến tranh, tai nạn.

Có bao người mù là nhân tài âm nhạc, hay người bị bại liệt lại có khả năng khoa học, vân vân...

Điều tối quan trọng là biết dùng cái Ngã của mình để cho nó không hủy diệt ta và tha nhân, mà trở nên hữu dụng trong việc xây dựng nhân bản và con người.

45. KHÔNG HỦY HOẠI KIẾP NGƯỜI

23-6-2006

Nối tiếp công cuộc hoằng hóa Phật Pháp của Đức Thầy không chỉ bằng một người mà bằng hàng triệu tín đồ. Không bằng một con tim mà bằng hàng triệu con tim và hàng triệu khối óc.

Như thế thì có hàng triệu đôi tay với những con tim và khối óc đầy tinh thần nhân ái, tình yêu cao thượng mà Đức Thầy đã truyền đạt để cứu khổ người dân Việt trước nhất, rồi đến nhân sinh không phân biệt tôn giáo lẫn giai tầng xã hội.

Đó là sức mạnh tâm linh. Sức mạnh đó phải được phổ biến qua phương tiện truyền thông để lan rộng khắp hoàn cầu.

Đó là chân lý tối thượng không phân biệt. Đức Thầy đã đem đến Việt Nam qua bao tiền kiếp lẫn kiếp hiện tại, một chiếc cầu, một pháp tu, gần với con người để giúp họ vượt qua khổ nạn của thời mạt pháp, ngõ hầu họ có phương tiện tồn tại bước qua Thời Thượng Ngươn Thánh Đức, một Tân Thiên Niên Kỷ.

Muốn cứu nguy loài người, kẻ có Đại Nguyện phải làm việc "hết sức bình sanh" mới mong đi kịp với Cơ Trời biến chuyển càng lúc càng nhanh mới mong đạt được sở nguyện.

Mỗi quốc gia, mỗi tôn giáo, mỗi chủng tộc đều có những kẻ có hạnh nguyện cứu đời.

Muốn cứu đời phải tu tập, nếu không, thay vì giúp người thì có thể sẽ hại người nếu mình tu sai rồi đi sai. Vì thế một sự suy nghĩ, một lời nói, một hành động sai có thể hại hàng trăm, hàng ngàn, hoặc đôi khi hàng triệu người nếu ta là kẻ có phương tiện truyền đạt.

Nếu ta chỉ làm sai cho một mình ta thì cái quả đó nhỏ vì chỉ hại một linh hồn, một đời người. Nhưng nếu ta làm sai mà ảnh hưởng đến hàng vạn, hàng triệu người thì đó là ĐẠI QUẢ có sức nặng như núi Tu Di, núi Hy Mã Lạp Sơn, có thể đè nặng ta đến hàng hà sa số kiếp, và liên lụy đến bao nhiêu kiếp khác như tổ tiên, ông bà cha mẹ và con cháu ta.

Mọi việc làm đều nên cẩn trọng đến mức tối đa, không nên chểnh mảng. Phải kiểm điểm cái Tôi một cách rốt ráo từng ý tưởng, từng câu nói, từng chữ viết, từng ý nghĩa, vân vân...

Nhất nhất đều phải thận trọng đối với mình, và đối với người. Tâm phải luôn an định và cơ thể phải điều hòa thì ta mới sáng suốt mới có trí tuệ.

Sự liên hệ của ta với không gian, thời gian, con người và vạn vật sao quá khít khao. Nếu hiểu được trời đất, hiểu được nguyên lý bất phân của vạn vật đồng nhất thể thì ta luôn tối ư thận trọng từng bước đi. Ta cần quán chiếu và quán chiếu trong mỗi hơi thở để không bị rớt lại trong mỗi tíc tắc của thời gian trôi qua.

Ta cần rốt ráo, tinh tấn tu tập để không rớt vào sự bất hạnh của những lỗi lầm vì lặp lại những lời nói hành động đã từng đưa ta vào u mê ám chướng của sự u tối, mê muội, sai lầm.

Ta cần cố công đem hết cố gắng để xua đi hết rong rêu hôi hám tàng trữ của quá khứ sai lầm. Ta phải vượt ra ánh sáng, để nhìn thấy ánh bình minh của sự Ngộ Giác, của Chân Lý Bất Phân.

Phải tập bước đi trong Quang Minh Chánh Đại. Ta chỉ có thể bước những bước vững trên con đường đạo khi ta biết hàng phục nội tâm, tức phá tan ngũ uẩn và có khả năng nhận, biết, và chiến thắng lục tặc hay lục căn lục trần, của hỉ nộ ái ố, thất tình lục dục.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý giúp cho ta nhận diện người và cảnh chứ không để chúng làm chủ thân tâm ta.

Thân thể, trí óc là phương tiện cho ta tu học, tiến hóa. Ta dùng nó để bước tới ánh sáng, để giải thoát khỏi mọi ảnh hưởng đau buồn của trần thế, chứ không phải để ta sử dụng chúng mà hủy hoại Kiếp Người của ta.

46. MINH TRIẾT TRONG HÀNH ĐỘNG

28-6-2006

Minh Triết là sáng suốt, là quán triệt. Mỗi thời đại đều có người minh triết không phân biệt thành phần, chủ nghĩa, tầng giới trí thức hay bần cùng nông dân, thuộc Nam, Trung, Bắc.

Tuy nhiên người thấy và người làm và thực hiện khác nhau. Từ cái thấy đi đến có khả năng và uy tín để thực hiện là một đoạn đường dài mà không phải người Minh Triết nào cũng vượt qua được.

Muốn đạt được sự sáng suốt, quán thông để trở nên một Minh Triết đã khó, mà còn thực hành, thực hiện cho đúng cái Minh Triết đó đòi hỏi kẻ minh triết một sự cố gắng và một ý chí phi thường.

Người Minh Triết đứng ra giúp nước cần có một nghị lực mạnh, để có đủ trí tuệ dũng mãnh đối phó với các áp lực chánh trị, tôn giáo, xã hội, kinh tế, giáo dục, từ trong nước ra hải ngoại nếu có vai trò lãnh đạo quốc gia và quần chúng.

(........)

Rồng Thiêng chuyển về phương Nam và vận nước đã thay đổi. Giới lãnh đạo mới đã vượt lên từ khối vô thần vì đã được rèn luyện và đào luyện từ những sai lầm. Khối vô thần cộng sản sẽ tự sửa những sai lầm của mình theo luật sinh tồn.

Sửa chữa một guồng máy quốc gia không phải là một điều dễ làm. Sự chuyển đổi sẽ không làm cho quốc gia và quần chúng bị hụt hẫng, chới với, nếu sự chuyển đổi trãi qua nhiều thời kỳ.

Một quốc gia từ khuôn khổ bị chèn ép nếu bỗng chốc được tự do mở rộng sẽ trở nên một đàn ong vỡ tổ, rối loạn, mất trật tự, mất sự quân bình.

Chánh sách cộng sản đã tạo ra quá nhiều con người máy, con vẹt, chỉ lặp lại các tư tưởng của các ông Thần Cộng Sản đã dùng các khẩu hiệu để đánh lừa quần chúng. Nhưng thật sự họ chỉ làm theo sự tham lam và ích kỷ của họ vì con người họ thiếu chỉ đạo về lương tri con người, về tình thương yêu của tình đồng loại lẫn nhân loại, về lương tâm con người, về niềm tin nơi chính mình và các đấng thiêng liêng.

Người trong nước không thể nào làm lãnh tụ cho một cộng đồng hải ngoại, và dĩ nhiên người ở hải ngoại, ăn sung mặc sướng, không thể nào có khả năng lãnh đạo một quốc gia Việt Nam thời hậu cộng sản. Nếu ai kia có một giấc mơ vĩ đại thì đó chỉ là một ảo tưởng vì lãnh tụ phải đi từ quần chúng và được quần chúng ủng hộ.

Người Minh Triết là người biết mình, biết ta; và biết rõ khả năng của mình, chỗ đứng của mình để đừng sa vào con đường sai lầm, nhất là trong vai trò lãnh đạo.

Một xã hội Việt Nam nát bét, một cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại nát bét. Người Minh Triết phải làm gì"

Tại hải ngoại, ta cần đủ quả cảm để không bị lôi kéo hay thúc đẩy bởi những nhóm chánh trị mù quáng. Rất nhiều người phải làm theo người khác vì sợ. Sợ bị chụp mũ, sợ bị nói xấu, sợ bị coi thường hay sợ bị... bỏ rơi. Tất cả những cái sợ đó đều nằm trong cái Tôi, cái cá nhân đầy tự ái, tự tôn muốn người khác kính trọng hay quý mến.

Ta phải nhìn thấy một điều là cái Tôi của ta còn đặt dưới cái lớn hơn là Đất Nước Việt Nam. Có như thế ta mới thật sự quyết định cho mình một con đường, một hướng đi có chiều hướng thuận lợi cho sự tồn vong của đất nước và sự phát triển của Con Rồng Á Đông hay Hòn Ngọc Viễn Đông rực sáng.

Sau cơn mưa trời lại sáng. Cánh buồm sau cơn bão cần vươn lên để con tàu Việt Nam vượt sóng trùng dương. Ngọn đuốc đã được đốt lên sau cơn mưa thì ta không nên tìm mọi cách dập tắt nó. Việt Nam chuyển đổi, để vươn lên. Ta nên đem hết tâm, lực để đẩy chiếc thuyền quốc gia lướt sóng cho nhanh, cho mạnh. Cần đổ thêm dầu nội lực cho Lửa Thiêng cháy cao lên tỏa ánh sáng xua đuổi sạch đám mây u ám vô thần đang che kín cõi trời Việt Nam hình chữ S, cho bình minh ló dạng khắp trời Á Đông.

Con Rồng Việt Nam hình chữ  S sẽ vươn lên tống mạnh những áp lực ngoại bang luôn rình rập kẽ hở, hay điểm yếu của mình.

Ta hãy cùng nhau thêm chân, thêm tay cho Rồng. Hãy đem trí tuệ của mình để bảo vệ cho non sông gấm vóc. Ta hãy theo những bước chân của các vị anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh mạng sống để bảo vệ đất nước quê hương mới được tồn tại đến ngày hôm nay.

Ta hãy mau quên mình vì tiền đồ tổ quốc, thì các bậc tiền nhân, ông bà tổ tiên của ta sẽ mỉm cười nơi chín suối. Họ sẽ vui mừng khi nhìn thấy hậu thân, con cháu mình biết nối nghiệp tổ tông, biết tận lực hy sinh để cho truyền thống Lạc Long Quân được trường tồn vĩnh viễn.

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô An Lạc Vương Quốc Phật

Nam Mô Vô Lượng Tâm Phật

Nam Mô Vô Lượng Tâm Pháp

Nam Mô Vô Lượng Tâm Tăng

Nam Mô A Di Đà Phật

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Muốn giữ vẹn đạo làm con thì bất cứ ai hễ là con người thì cũng phải lo tròn chữ HIẾU. Đặc biệt, trong nền luân lý Đông phương nói chung và Việt nam nói riêng, chữ Hiếu được xem là trọng yếu. Như chúng ta đều biết, Hiếu là tình cảm yêu thương tha thiết đậm đà, thiêng liêng cao quý của con cái
Những sự xúc động, những tình cảm vui buồn bởi cách cư xử đối với nhau khó mà cảm nhận rõ ràng trong những lúc bình thường chưa có biến cố gì, hoặc nếu có thì chỉ sơ sơ thôi, thì cái tình thương yêu, lòng hiếu thảo, điều ân nghĩa, cùng mọi sự ăn năn, hối hận đối với người thân như cha mẹ, vợ chồng, con cháu, họ hàng, bạn bè v...v… ít
Khu vực tôi ở có một con đường hai hàng thông cổ thụ, tàn lá giao nhau như lọng che, vừa tạo nét đặc thù, vừa luôn luôn cho bóng mát. Tôi lò dò mua căn nhà ở đây cũng vì cái lọng che lồng lộng giữa không gian, thoảng hương thông ngan ngát này. Có lẽ cũng vì con đường đẹp và râm mát nên rất nhiều người đi bộ chọn đi ngang đây. Tôi nghĩ
Tháng bảy hằng năm là ngày giổ của mẹ và năm nào cũng vậy, cứ đến ngày này ở Phan Thiết, cả gia đình xa gần tụ họp về căn nhà cũ, để cùng ôn lại quảng đời cơ cực của mẹ mà khóc. Riêng tôi, đời tên lính già biệt xứ, không nhà, mất nước, từ lâu chỉ còn biết rửa mặt bằng lệ mắt, để thay cho lòng hối hận của một đứa con
Ni-sư Chân Phước, vị nữ tu mà tôi yêu quý như mẫu thân, là một người tài hoa nhưng rất khiêm nhường, trầm lặng. Ni-sư là tác giả tập thơ “Đường Về”,
Đây là câu kết bài thơ không đề của Liên Ẩn Thiền Sư. Nội dung bài thơ rất đơn giản, ngôn từ mộc mạc, thân thương như những lời nhắc nhở của thầy với trò, của cha mẹ với con cái, của bằng hữu với thân quen .... tùy người đọc đứng ở góc độ nào cũng cảm nhận được năng lượng truyền từ đối tượng mình. Bài thơ chỉ có thế
Suốt chặng đường đời, trong chúng ta, biết bao lần đã cất bước đi về   Đông, tạt qua Tây, xuống Nam, lên Bắc; chúng ta đi vì đủ mọi lý do, vì nhu cầu, vì hoàn cảnh, vì sự đẩy đưa của tình thế, vì cả sự tò mò, mạo hiểm ...... Nhưng chúng ta được sinh ra, rồi đến và đi như mơ, cõi ta-bà là một giấc mơ dài, là một cơn đại mộng
- Thời còn cắp sách đến trường trung học, tôi mê nhất cuốn tiểu thuyết dã sử Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng
Có một vấn đề vô cùng quan trọng và cũng hết sức gần gủi với nếp sống đạo đức luân lý
Là truyền nhân dòng Thiền Vân Môn Trung Hoa từ Thiền Sư Phật Nguyên, Thầy Trí Châu hiện đang hoằng pháp ở Quận Cam
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.