Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến: Vĩnh Biệt Sơn Nam

22/05/200600:00:00(Xem: 23322)

Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.<"xml:namespace prefix = o />

 

Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.

 

(Câu hò miền <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Nam, VN.)

 

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Namtâm sự: "Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió... Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn 'Gả Thiếp Về Rừng'.. .Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn. "

 

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

 

"Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh         Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 ...         tháng chạp năm      đó, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con,        giữa tiếng dị nghị           của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy."

 

"Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

 

"Hai năm qua.

 

"Ba năm qua...

 

"Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo  một đứa con gái nhỏ... sổ sữa dễ thương.

 

"Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái. và một đứa thứ ba         nữa đang nằm trong bụng mẹ.

 

"Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

 

"Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không"

 

"Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

 

"-Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết... Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không"

 

"Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

 

Má ơi đừng gả con xa,

 

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu"

 

...

 

"Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mòn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

 

" Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

 

"Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

 

"- Phải chỗ cây mù u này không" Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ  ở đâu đây.

 

"Chị vợ đáp:

 

"-Không chừng... Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

 

"Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

 

"- Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may...

 

"Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

 

“- Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè...

 

" Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

 

"- Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

 

"Bà Cả mừng quýnh:

 

"- Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao" Con nhỏ đó thiệt giỏi!

 

"Khách trả lời:

 

"- Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

 

"- Sao vậy cà" Sao vậy cà" Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên ha "đẻ nhiều quá vậy"

 

"Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

 

"-Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ "chồng con cái rút vô mùng... nói chuyện. Ít ai đi đâu.

 

"Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng 'muỗi kêu như        sáo thổi' ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng   nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

 

"Để đánh trống lảng, ông nói:

 

"-Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

 

"Bà Cả nóng ruột:

 

- "Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt"

 

"Khách trả lời:

 

"- Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

 

"Bà thở dài, nói như rên siết:

 

"- Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi...

 

"Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phò giá triệu, ai rinh quan tài" Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót - khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

 

- "Ờ... ở dưới nó có lập vườn chưa" Lát nữa, anh chị chịu khó chở về dùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

 

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như co Út. Để cho nước mạnh dân còn" (*).

 

Truyện "Gả Thiếp Về Rừng" lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ,  vào khoảng năm 1939 - 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Namthì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi "gian truân" của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ)... năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Namdành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Namcủa quê hương.

 

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn "Rừng Mắm" của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

 

"--Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi      sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

 

"Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

 

"--Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.

 

"Đời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng" (http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx"BaiID=%2bxDS8sIbzUvmvf%2fUjIUh6A%3d%3d).

 

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út... nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm - như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

 

"Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo: 'Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam.. . Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như 'xuất giá tòng phu', 'tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời', 'dáng người đẹp nhất thế giới',' giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng'" (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

 

Chuyện "lấy chồng xa" của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức "đại trà" -  theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:

 

 "Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Namtại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ  quê nhà vùng nông thôn miền Namqua biên giới trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng."

 

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Namvẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là "cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam30/04/75 đến nay" (http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2005/03/3B9DCB7A ).

 

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một  dòng chữ nào - nửa dòng cũng không -  viết về những em bé Việt Nam bị "gả" đi xa, "trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng" như thế.

 

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện "Gả Thiếp Về Rừng", được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

 

Trong khói sông mênh mông,

 

Có bóng người vô danh

 

Từ bên này sông Tiền

 

Qua bên kia sông Hậu

 

Mang theo chiếc độc huyền

 

Điệu thơ Lục Vân Tiên

 

Với câu chữ:

 

"Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả."

 

Cái gì đã giết chết tinh thần "kiến nghĩa bất vi vô dõng giả" nơi Sơn Namnhư thế" Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất" Ông đâu có đụng chuyện với "cách mạng", vào thời Nhân Văn Giai Phẩm" mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon - như Chế Lan Viên"  Ở tuổi 80, Sơn Namcòn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp - đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội - trước khi nhắm mắt"

 

Trong một chế độ "không cho phép ai được có một thái độ thứ ba" thì sự im lặng của Sơn Namcũng chỉ là chuyện... bình thường thôi sao" Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ -  ở trong nước cũng như hải ngoại - đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian - rồi ra - cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

 

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

 

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Namđã bỏ rơi cái quan niệm sống "lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy" - của Lục Vân Tiên - trong con người Nam Bộ của ông.

 

"Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Namtại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam."

 

(http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx"ArticleID=24010&ChannelID=61 ).

 

Ý trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Namđã bị hóa đá rồi - chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được "Tiếng Kêu Giữa Rừng U Minh Hạ" (http://www.danchimviet.com/php/modules.php"name=News&file=article&sid=1662). Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa - dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số - và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

 

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam-bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 - nhà văn Võ Phiến gọi họ là những "tài năng bị chôn sống". Sơn Nam(của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường - bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

 

Tưởng Năng Tiến

 

(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Namcó thể đọc được qua website Đặc Trưng (http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx"BaiID=zjXbo72c3XVa375iWxEu4A%3d%3d. Riêng truyện "Gả Thiếp về Rừng", nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: "Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn."

 

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã xử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ ("trên không") của quí bạn nhiều lần.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Có nơi nào trên trái đất này Mật độ đắng cay như ở đây" Chín người - mười cuộc đời rạn vỡ. Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy… Có nơi nào trên trái đất này Mật độ yêu thương như ở đây" Mỗi tấc đất có một người qùi gối Dâng trái tim và nước mắt
Tác phẩm Thằng Người Có Đuôi, của Thế Giang, do Người Việt xuất bản năm 1987. Vào thời điểm này, tác giả vừa mới đến được Thế Giới Tự Do. Tuy đã thoát, ông vẫn cứ còn phập phồng bất an, giao tiếp với ai cũng lo sợ họ (có thể) là người thuộc Cục Tình Báo Hải Ngoại. Nói cách khác, theo lời của
Khách quan mà nói, ý thích của tôi dễ gây ngộ nhận là mình có hơi (bị) ác cảm với ông Hồ. Không dám đâu. Xin đừng ai nghĩ như vậy mà tội chết. Tôi khoái hai câu thơ trên chỉ vì sự duyên dáng của chính nó, thế thôi. Có những câu thơ bút tre khác nữa, cũng nói đến cái chết của ông Hồ nhưng
Trong những trang sổ tay trước, cũng trên diễn đàn này, khi đề cập đến chuyện “Công An Và Phương Nam”,
Hơn ba mươi năm trước, khi cuộc chiến ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn khốc liệt,
tk_03152006_1.jpgNguyễn Tấn Hoành, đại diện anh chị em Khu Công nghiệp Điện Bàn Quảng Nam.
Ý tưởng ngộ nghĩnh vừa ghi, tôi "lượm" được trong một cuốn truyện của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Nếu bạn chưa bao giờ đi cải tạo,
"Tháng 12 năm1997, Văn Bút Quốc Tế có đề cập đến trường hợp của một người cầm bút VN, có tên là Phạm Văn Viêm, với hàng ngắn gọn và hơi khó hiểu như sau
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.