Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Góc Nhạc Cổ Điển (03/31/2007)

31/03/200700:00:00(Xem: 12223)

Chúng tôi mong nhận được mọi ý kiến đóng góp và bài vở của bạn đọc về mọi vấn đề liên quan đến nhạc cổ điển như ca kịch opéra, ballet, kỹ thuật (recording), album mới, concert bạn mới đi nghe...Thư từ bài vở xin gởi về

classical@vietbao.com

Những năm 1889-92 ông lưu diễn Anh, Pháp, Bỉ và mang lại nhiều thành công rực rỡ. Trong thời gian này, Albeniz sáng tác rất nhiều, quan trọng nhất là những tác phẩm mang nặng âm hưởng Tây-Ban-Nha. như Suite Espađola, Op. 47 tức Tổ Khúc Tây-Ban-Nha,

Isaac Albeniz: Tổ Khúc Tây-Ban-Nha

- Jo Ký - Tháng 3, 2007

Một điều rất rõ ràng khi nói về Albaniz là ông ta có rất nhiều bí ẩn.  Từ cuộc đời, sự đi lại, cho đến tác phẩm, đâu đâu cũng có những nghi vấn, huyền thoại.

Isacc Albeniz sinh ngày 29 tháng 5 năm 1860 tại Camprodón, một thành phố ở tỉnh Catalan trong vùng Gerona thuộc miền bắc Tây-Ban-Nha.  Lúc còn rất thơ ấu, Albeniz dã có nhiều dấu hiệu về tài năng chơi piano.  Lúc chỉ mới lên 4 tuổi, ông đã trình diễn piano trước công chúng.  Albeniz thường được sánh với Mozart về khả năng này.  Lúc 6 tuổi, mẹ Albeniz đưa ông qua Paris để học piano vơi Antoine Francois Marmontel, một giáo sư piano nổi tiếng ở nhạc viện Paris.  Một thời gian sau đó Albeniz được tiến cử vào nhạc viện Paris nhưng đã bị từ chối vì còn quá trẻ.  Trên đường trở về Tây-Ban-Nha, cậu bé 7 tuổi đã mở nhiều buổi trình diễn và đã cho ấn hành tác phẩm đầu tay của ông có tên Marcha Militar.

Năm 1868 gia đình Albeniz dời về Madrid và Isaac ghi danh học nhạc tại Escuela Nacional de Msica y Declamaciĩn (nay là nhạc viện hoàng gia).  Nhưng khi đến tuổi thiếu niên Albeniz cảm thấy thiếu kiên nhãn với việc học nhạc và bắt đầu nổi loạn.  Tương truyền rằng năm 12 tuổi, Albeniz đã bỏ nhà đi Argentina bằng cách trốn dưới tàu.  Khi đến nơi, Albeniz sinh sống bằng cách chơi piano ở cách café.  Chàng thiếu niên Albeniz làm tiền rất khá, đủ để tổ chức nhiều buổi trình diễn, và nhờ đó chàng ta đã có tiền để đi Cuba, Puerto Rico, và Tân-Thế-Giới.  Khi đến New York, Albeniz sinh sống bằng cách khiêng xách hành lý cho khách lên xuống tàu hành khách.  Có lần Albeniz, vì muốn tạo sự chú ý, đã chơi piano với 2 bàn tay lật ngửa và quay lưng lại với phím đàn-một lối biểu diễn piano chưa bao giờ nghe ai nói tới.  Vậy mà chàng lãng tử Albeniz cũng đã tìm đủ tiền đi San Francisco và rồi cuối cùng trở về nguyên quán.

Nhưng theo lịch sử ghi lại thì Albeniz trình diễn ở Tân-Thế-Giới vào khoảng mùa xuân năm 1875 tại Puerto Rico.  Từ đó Albeniz đi Cuba và đã mở nhiều buổi trình diễn ở đó, trước khi trở về Tây-Ban-Nha.  Theo giấy tờ thông hành của cha Albeniz, một nhân viên hải quan, thì ông ta được bổ đi Havana, Cuba trong một chuyến công vụ.  Giấy tờ ghi rằng ông ta đi từ cảng Cadiz ngày 30 tháng 4 năm 1875, và có sự ghi nhận là cậu thiếu niên Albeniz đã trình diễn ở Cadiz đêm trước đó.  Từ những dữ kiện này, ta có thể an tâm kết luận rằng cậu niên thiếu Albeniz đi qua Tân-Thế-Giới với cha chớ không phải trốn đi một mình.

Sau khi trở về Tây-Ban-Nha, Albeniz bắt đầu nhận ra rằng thời thần đồng vàng son của anh ta đã sắp kết thúc; đã đến lúc phải trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp.  Vì thế năm sau, Albeniz ghi danh xin học nhạc tại nhạc viện Leipzig.  Nhưng chỉ chừng 2 tháng sau, vì quá chán sự nghiêm khắc và không thông thạo ngôn ngữ, Albeniz bỏ về nhà.  Cuối năm đó, nhờ quen biết với công tước Guillermo Morphy, bí thư của vua Alphonso XII của Bỉ quốc, Albeniz đã ghi danh học ở nhạc viện Brussels và ra trường năm 1879.  Nhưng Albeniz vẫn chưa thoả mãn.  Mộng của anh  ta là được học với Liszt.  Năm 1880, Albeniz từ Brussels đi Budapest, Hungary để gặp Liszt.  Trong nhật ký Albeniz ghi là đã gặp Liszt ngày 18 tháng 8 năm đó, nhưng thật ra lúc đó Liszt đang ở Weimar, Đức.  Có lẽ Albeniz ghi như vậy là để gạt cha, người mà đã cho tiền ông đi Budapest.  Sau khi bị chưng hửng ở Budapest, Albeniz trở về Madrid hoạt động.

Năm 1883, Albeniz dời về Barcelona và đã gặp 2 người quan trọng nhất đời ông.  Người thứ nhất là Felipe Pedrell, một nhạc sĩ có tinh thần dân tộc, và đã khuyên Albeniz viết nhạc theo khuynh hướng Tây-Ban-Nha thay vì theo lề lối chung của Âu-Châu lúc đó, tức là viết đoản khúc salon theo lối Schumann, Chopin, hay Brahms.  Pedrell cho rằng nhạc sĩ Tây-Ban-Nha nên viết nhạc Tây-Ban-Nha, tức là dùng những vũ điệu dân gian, các ngôn ngữ âm nhạc trong dân ca, và các lối hành âm, tiết tấu thuần túy của Tây-Ban-Nha.  Những lời khuyên của Pedrell đã tạo nhiều ấn tượng mạnh lên tâm khảm của Albeniz.  Cũng năm đó Albeniz thành hôn với cô học trò Rosita Jordana.

 

Năm 1885, Albeniz dọn gia đình mới về lại Madrid sinh sống bằng cách dạy piano và trình diễn.  Những năm 1889-92 ông lưu diễn Anh, Pháp, Bỉ và mang lại nhiều thành công rực rỡ.  Trong thời gian này, Albeniz sáng tác rất nhiều.  Những tác phẩm trong thời gian này gồm có Suites Anciennes, Deseo: Estudio de concierto, Op. 40, Concierto fantastico, Op. 78.  Nhưng quan trọng nhất là những tác phẩm mang nặng âm hưởng Tây-Ban-Nha như Suite Espađola, Op. 47 (Granada, Cataluna, Sevilla, và Cub) tức Tổ Khúc Tây-Ban-Nha, Seis Danzas Espađolas, và Rapsodia Espađola, Op. 70 cho piano và dàn nhạc, Torre Bermeja (Op. 92, No. 12).  Cũng trong thời gian này, có tin đồn là lúc Albeniz đang lưu diễn ở London, dường như ông có dan díu với nữ hoàng Tây-Ban-Nha.

Những năm 1890-93 gia đình Albeniz cư ngụ tại London.  Ông bắt đầu có ý viết opera và ông đã có vài thành quả nhỏ.  Nhờ vậy ông đã được chỉ định làm nhạc sĩ và nhạc trưởng tạm thời cho hí viện Prince of Wales.  Nhưng khi ông được đề cử chức vụ này thường trực thì chẳng hiểu vì lý do gì Albeniz từ chối và dọn về Tây-Ban-Nha rồi trở lại Paris năm 1894.  Nơi đây ông quen biết nhiều nhạc sĩ nổi tiếng Pháp như Ernest Chauson, Vincent d'Indy, Paul Dukas, César Franck, và Gabriel Fauré.

Từ 1900, sức khoẻ của Albeniz bắt đầu xuống dốc.  Albeniz mang một loại bịnh thận gọi là bịnh Bright.  Sức khoẻ của Rosita cũng rất kém.  Ngoài ra, cái chết của một trong ba đứa con của họ đã khiến Albeniz đau khổ không ít.

Chán chường sau những thất bại về opera, Albéniz quyết định từ bỏ sáng tác ca kịch.  Ông quay trở lại với những âm ỷ trong cực cùng tâm huyết của mình, tức là viết đoản khúc Tây-Ban-Nha cho piano.  Thế là từ năm 1905 cho đến khi mất năm 1909, Albeniz hoàn tất tuyệt tác nhất đời ông: Iberia.  Đây là bốn tập nhạc gồm tất cả 12 đoản khúc viết cho piano độc tấu.  Albeniz mất ngày 18 tháng 5 tại Cambo-les-Bains, Pháp và được an táng tại Barcelona.

Trong giới guitar, Tổ Khúc Tây-Ban-Nha Op. 47 của Albeniz được xem như là bí cấp.  Đây là những tác phẩm mang nhiều âm hưởng cá biệt của những vùng miền cực nam Tây-Ban-Nha, được gọi chung chung là vùng Andalucia.  Nhạc cụ chính của vùng này là guitar.  Đây cũng là nơi khai nguyên nhạc flamenco và vẫn còn là cái nôi của lối nhạc này.  Nhạc trong Tổ Khúc Tây-Ban-Nha bắt chước rất nhiều kỹ thuật guitar, thí dụ như arpège, dây trầm đi bè chính còn các dây kia đệm rải rác, v.v..  Chính vì thế mà khi giới guitar khám phá bộ nhạc này là họ lập tức chuyển soạn ngay và từ đó nó đã là những tác phẩm quan trọng nhất của guitar.  Bộ nhạc này chơi bằng guitar nghe quá hợp đến nỗi ít bao giờ nghe nó chơi bằng nhạc cụ nguyên thủy.

 Nhạc vùng Andalucia chịu ảnh hưởng lâu đời của văn minh Moorish, tức là văn minh Hồi giáo, du nhập vào miền nam Tây-Ban-Nha vào khoảng thế kỷ thứ 8 và kéo dài đến thế kỷ 15.  Người mà Tây-Ban-Nha gọi là Moorish là những dân gốc Ả-Rập hay Syria.  Tuy kinh Koran dạy là cấm những sự ăn chơi ca hát nhưng người Moorish đã không thi hành theo.  Họ hay đàn đúm, ca hát, nhảy múa và từ đó có những lối hát ảnh hưởng nặng âm hưởng Ả-Rập, cá biệt nhất là khi hát họ dùng rất nhiều cách láy hoa mỹ, tức là hát note chính rồi ngân dài qua nhiều note chung quanh nó.

Một sự ảnh hưởng khác đến nhạc Andalucia là từ những người Gypsy du nhập qua Tây-Ban-Nha vào cuối thế kỷ 15, lúc mà văn hóa Moorish đang suy tàn.  Họ là những nhóm người sống lang thang khắp nơi.  Lối ca hát của họ khi gặp nhạc của Moorish đã phôi thai một lối nhạc mới, cá biệt của Tây-Ban-Nha gọi là Cante Jondo và sau này trở thành lối hát mới mẻ hơn gọi là Cante Flamenco.

Như đã kể trên, Albeniz thoạt đầu chỉ soạn Tổ Khúc Tây-Ban-Nha chỉ có 4 đoạn: Granada, Cataluna, Sevilla, và Cuba; nhưng nếu bạn tìm mua một album của bộ nhạc này bạn sẽ thấy là tên của các khúc nhạc không giống y như vậy.  Có album chơi 4 đoạn nhưng không có đoạn Cuba.  Có album chơi 8 đoạn.  Những đoạn kia thường có Asturias (Leyenda), Aragon, Mallorca, Cordoba, và Castilla.  Còn đoạn Cuba thường được thế vào bằng đoạn Cadiz.  Thứ tự cũng không rõ ràng, dường như ai muốn sắp xếp như thế nào tùy hỉ, và họ muốn chọn đoạn nào trong các đoạn trên cũng được.

Như bao nhiêu chuyện khác về Albeniz, bộ nhạc này cũng đầy những bí ẩn.  Bộ nhạc được cho ấn bản khoảng 1886.  Nhưng 2 năm sau khi Albeniz mất (1911), một nhà xuất bản Hofmeister ở Đức cho ra một bộ gồm 8 đoạn.  Họ đem những đoạn từ những bộ khác của Albeniz vô cho đủ 8.  Tại sao phải là tám"  Có nơi ghi rằng năm 1886, Albeniz, chẳng biết vì lý do gì, hứa (với ai") là sẽ cho xuất bản một bộ Tổ Khúc Tây-Ban-Nha gồm 8 đoạn.  Nên sau khi Albeniz mất mà họ vẫn chưa có 4 đoạn kia nên tự ý xén 4 đoạn của những tác phẩm khác chêm vô cho đủ (!)

Trong những đoạn họ chọn để chêm vô gồm có Asturias (Leyenda), nhưng đa số các tay guitar hay dùng cái tên Leyenda, nhất là các tay guitar Việt-Nam.  Thật ra đoạn này nguyên thủy không phải tên Asturias, mà cũng chẳng phải Leyenda.  Leyenda có nghĩa lã "Huyền Thoại" (Legend), còn Asturias là tên của một vùng đất phía bắc Tây-Ban-Nha.  Thật ra đoạn nhạc này chỉ là một prelude của bộ Cantos Espana, Op. 232.  Theo vài sự nghiên cứu thì 2 cái tên kia là do nhà xuất bản Hofmeister gán ghép.  Họ chọn cái tên Asturias vì cho rằng đó là nơi gần sinh quán của Albeniz, và tự suy ra rằng chắc Albeniz viết những kỹ thuật như vậy là để liên tưởng đến vùng Asturias.  Nếu ai có chơi bài này trên piano thì biết rằng có đoạn Albeniz dùng 2 ngón tay đánh liên tiếp lên độc một phím.  Trên đời này chỉ có guitar mới hay đánh cùng một note lên các dây khác nhau.  Cho nên cái kỹ thuật piano kia của Albeniz chắc mẩm đã có ý bắt chước guitar.  Nhưng vùng Asturias, cũng như nhiều vùng phía bắc Tây-Ban-Nha không chơi guitar.  Nhạc cụ chính của vùng này là kèm bị (bagpipe).

Nhưng sao họ phải chọn tên một thành phố đặt tên cho đoạn nhạc này"  Lý do là vì tất cả những đoạn kia đều mang tên một thành phố hay một vùng ở Tây-Ban-Nha.  Granada, Cataluna, Sevilla, Cadiz, Mallorca, Cordoba, Aragon là tên những địa danh; riêng Cuba là không thuộc Tây-Ban-Nha.  Chính vì thế nên họ phải chọn một địa danh cho đoạn Prelude kia.  Cũng có nhận xét thêm là rất ít thấy đoạn Cuba trong các album, có lẽ vì nó không mang tên một dịa danh Tây-Ban-Nha mặc dù nó là một trong 4 đoạn nguyên thủy.

Dù sao đi nữa thì giới guitar sẽ nhất định gắn bó với Leyenda.  Nó là bản nhạc mà khiến những giới khác phải ngẩng đầu, ngoái cổ.  Kỹ thuật guitar của nó thần tốc, vũ bão, ác liệt làm cho mấy tay mơ khó lòng kham nổi.  Người không chơi guitar nghe còn hết hồn, hoảng vía hơn nữa.  Nó cứ quanh quẩn note si trên 3, 4 sợi dây nhưng nghe rào rào, rất đã tai.  Nếu ai có dịp nghe nó chơi bằng dàn nhạc thì phải nói rằng lại là cả một chiêu thức khác.

Những đoạn khác nổi tiếng như Mallorca hay Cordoba cũng nằm trong nhiều opus khác.  Mallorca thuộc opus 202, còn Cordoba thì cũng thuộc bộ Cantas Espana như Asturias.  Còn Cadiz thì chẳng biết từ đâu mà ra.

Opus 47, cho dù là dưới dạng nào đi nữa thì cũng vẫn là cẩm nang của guitar.  Chơi bộ nhạc này bằng guitar, xét cho cùng, vẫn là nghe hợp nhất.  Cầm thủ guitar Julian Bream nói: "Albeniz là nhạc sĩ quan trọng nhất đối với tôi."

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nhìn tờ bích chương dán trên khung cửa kính nói về đêm trình diễn Tây Ban Cầm cổ điển
Bài thơ của Schiller "An die Freude" chắc sẽ không được biết đến nhiều nếu như đã không là một phần
Chương trình chỉ có một tiếng đồng hồ mỗi ngày, từ 9:00 đến 10:00 giờ sáng. Chương trình có khi là nhạc guitar
Debussy viết được nhiều thứ hấp dẫn lắm như hai bản Arabesques, bản Rêverie, rồi một phần của
Chúng tôi mong nhận được mọi ý kiến đóng góp và bài vở của bạn đọc về mọi vấn đề liên quan đến nhạc cổ điển như ca kịch opéra, ballet, kỹ thuật (recording), album mới, concert bạn mới đi nghe
Chúng tôi mong nhận được mọi ý kiến đóng góp và bài vở của bạn đọc về mọi vấn đề
Dmitri Dmitrievich Shostakovich sinh ngày 25 tháng 9 năm 1906 tại St. Petersburg, Nga. Cha tên Dmitri Boleslavovich Shostakovich và mẹ là Sofiya Kokaoulina Shostakovich. Gia đình ông là một gia đình có tư tưởng chính trị tự do và cởi mở
Trong những buổi lễ khai mạc triển lãm tranh ở toà soạn Việt Báo, đôi khi ban tổ chức cho phát thanh một bản nhạc nghe rộn rã, long trọng; thường là một đoạn ngắn, chỉ vài ba phút. Bản nhạc mang đến
Đêm mùng 9 tháng Giêng mùa đông năm 1905, hàng ngàn công nhân và nông dân Nga đổ dồn về quảng trường Cung Điện Mùa Đông (Winter Palace) tại St. Petersburg để đồng thanh biểu tình phản đối chính sách hà khắc và sự hoang phí của Sa Hoàng
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.