Hôm nay,  

30 Tháng 4, Đọc Những Vần Thơ Của Lính Mỹ

26/04/202400:00:00(Xem: 1173)
 
30 thang 4_mot
Hành quân bằng trực thăng của binh sĩ Hoa Kỳ và VNCH trong chiến tranh Việt Nam. (Photo: www.pixabay.com)
 
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả.

Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.

Tưởng niệm 49 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, xin giới thiệu đến quý độc giả Việt Báo một số bài thơ do các nhà thơ người Mỹ đã từng là binh sĩ Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam sáng tác. Trước hết là bài thơ của nhà thơ Basil T. Paquet:  “Thương Tiếc Cái Chết Do Xuất Huyết Của Em Bé Ở Hố Nai” [Mourning The Death, By Hemorrhage, Of A Child From Honai].
 
‘Thương Tiếc Cái Chết Do Xuất Huyết Của Em Bé Ở Hố Nai’
 
Lúc nào cũng có những em bé
Trong các trận đánh vì cơ chế chính trị.
Được khai hỏa với lựu đạn và hỏa tiễn
Năm Mậu Thân đã được dạo đầu
Bằng hơi độc
Mùi xác chết thối rữa xông lên từ cái túi
Của người tị nạn ở Hố Nai.
 
Kẻ thù yêu nước biết tuổi trẻ
Sẵn sàng chết vì cách mạng.
Các đồng minh chắc chắn về niềm tin của quần chúng
Được giao nhiệm vụ treo cờ
Phản công và báo thù khủng khiếp.
 
Sự kiêu kỳ của sự hủy diệt của thành phố
Có thể nghe rõ ràng ở phía sau,
 
Tôi chỉ có thể tự hỏi ý thức hệ nào
Đứa bé đã mang trên cánh tay trái – điều cưỡng bách
Đã phải bắt buộc mang súng M-16
Chết đột ngột, và cô ấy được danh hiệu liệt sĩ,
 
Cô chết trên tay tôi, người con gái này
Dứt sữa trong chiến tranh, là vì điều lớn hơn
Vinh quang của tất cả những người liên quan.
Không có thời gian để thương tiếc sự tàn sát của bạn
Nhỏ bé, trần trụi, một tay, tôi cũng là người vi phạm,
Và sau cái chết đầu tiên, nhiều người phải ra đi không được thương tiếc.
 
Nhà thơ Basil T. Paquet sinh vào năm 1944 tại Hartford, Connecticut, Hoa Kỳ. Là người từ chối nhập ngũ vì lương tâm cảm thấy không đúng ông đã được chọn vào Lục Quân Hoa Kỳ như là một bác sĩ và phục vụ từ năm 1966 tới 1969, bao gồm thời gian phục vụ tại Việt Nam từ năm 1967 tới 1968 tại Bệnh Viện 24th Evacuation Hospital. Năm 1969 ông đoạt Giải Thưởng Wallace Stevens Award về Thơ và đậu bằng Cử Nhân và Cao Học tại Đại Học University of Connecticut. Ông cùng với Jan Barry và Larry Rottmann thành lập Nhà Xuất Bản 1st Casualty Press, mà vào năm 1972 đã xuất bản cuốn “Winning Hearts and Minds: War Poems by Vietnam Veterans [Chiến Thắng Trái Tim và Tâm Trí: Thơ Chiến Tranh của Các Cựu Chiến Binh Việt Nam], được biên tập bởi Rottmann, Barry và Paquet, và năm 1973 xuất bản cuốn “Free Fire Zone: Short Stories by Vietnam Veterans” [Vùng Lửa Tự Do: Các Truyện Ngắn Của Những Cựu Chiến Binh Việt Nam].
Bài thơ dịch ở trên “Thương Tiếc Cái Chết Do Xuất Huyết Của Em Bé Ở Hố Nai” nằm trong số 13 bài thơ của Basil T. Paquet được in trong thi tập “Chiến Thắng Trái Tim và Tâm Trí.”
 
‘Ngày Tôi Về Nhà Từ Việt Nam’
 
Jim Olson quê quán tại thành phố Eden Prairie thuộc tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ. Ông là phụ tá Tuyên Úy trong Lục Quân Hoa Kỳ và đã phục vụ từ năm 1969 tới 1970 trong Lữ Đoàn Công Binh 65, Sư Đoàn Bộ Binh 25. Địa điểm đầu tiên mà đơn vị của ông đóng quân là Huyện Củ Chi, Việt Nam.
Ngày 3 tháng 11 năm 1970, Jim Olson từ chiến trường Việt Nam trở về Mỹ và ông đã làm bài thơ “Ngày Tôi Về Nhà Từ Việt Nam” [The Day I Came Home From Vietnam].
 
Tôi quay nhìn lại lần cuối
Khi tôi lên máy bay.
Đó là nơi tôi chắc chắn
Sẽ không bao giờ thấy lại.
Cảm ơn, tôi đã sai;
Nhưng vào lúc ấy
Tôi đã quá hạnh phúc
Được ra đi mà còn sống sót.
 
Tôi dự kiến một chuyến bay về nhà huyên náo.
Lúc cất cánh tiếng hoan hô sôi động
Phóng chúng tôi lên cao.
Những binh sĩ Lục Quân Hoa Kỳ cười và ghim
Trái Tim Màu Tím của họ lên
Đồng phục của những tiếp viên hàng không mỉm cười.
Sau vài khoảnh khắc vỗ tay
Chiếc phi cơ im lặng.
 
Tôi nhìn lui những người phía sau mình,
Những khuôn mặt trầm lặng, vài khuôn mặt đẫm lệ.
Sau cơn giật nẩy người vì hăng hái,
Họ nhanh chóng lắng xuống
Trở về với chính mình.
Tôi không thể nói phải chăng họ
Đã nhìn lui lại hay nhìn về phía trước,
Nhưng họ đã lặng lẽ trôi giạt đâu đó.
 
Chúng tôi đã vượt qua Đường Ranh Ngày Quốc Tế,
Lấy lại những giờ mà chúng tôi đã mất.
Đối với tôi, một phần thưởng.
Sống lâu hơn để dành thời gian ở với người thân yêu.
Đối với người khác, những giờ có thêm
Sẽ kéo dài nỗi đau của ký ức
Và sự thất vọng của việc tái thích nghi.
 
Đối với một số người, đây thực sự là con chim tự do;
Nhưng nhiều người đã được mang
Tới một loại nhà tù mới.
 
‘An Táng Chỉ Huy Trung Tá Nguyễn Đình Bảo’
 
John Joseph Duffy sinh ngày 16 tháng 3 năm 1938 tại New York, Hoa Kỳ. Ông nhập ngũ vào Lục Quân Hoa Kỳ tháng 3 năm 1955. Chức vụ sau cùng trong quân đội của Duffy trước khi ông về hưu là Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ. Năm 1972, ông làm cố vấn đặc biệt cho Nhóm Cố Vấn 162, được biết như là “Đội Mũ Đỏ” của Bộ Chỉ Huy Hỗ Trợ Quân Sự Việt Nam, theo www.en.wikipedia.org

Vào ngày 5 tháng 7 năm 2022, Duffy đã được Tổng Thống Joe Biden trao tặng Huân Chương Danh Dự trong một buổi lễ tại Bạch Ốc.

Vào ngày 14 tháng 4 năm 1972, trong lúc Sư Đoàn 320 của quân đội Bắc Việt tấn công Căn Cứ Hỏa Lực Charlie cách Dak To 10 cây số, Duffy và lực lượng phòng thủ Tiểu Đoàn Dù 11 đã bị buộc phải bỏ căn cứ này trong đêm đó. Trong trận đánh này, Duffy đã chứng kiến sự hy sinh dũng cảm của vị chỉ huy Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, người anh hùng Mũ Đỏ của Quân Lực VNCH.

Sau khi về hưu, Duffy làm chủ tịch của một công ty xuất bản và là người sáng lập đồng thời là chủ tịch của một công ty đầu tư đã được Công ty TD Ameritrade Inc. mua lại.

Duffy đã được đề cử Giải Thưởng Văn Học Pulitzer danh giá và đã xuất bản 6 tập thơ.

Bài thơ “An Táng Vị Chỉ Huy” (Trung Tá Nguyễn Đình Bảo) [The Commander's Burial (Colonel Nguyen Dinh Bao)] được Duffy làm để tưởng niệm vị anh hùng Mũ Đỏ đã hy sinh tại Căn Cứ Hỏa Lực Charlie vào ngày 12 tháng 4 năm 1972.
 
Chúng tôi quấn anh ấy trong áo pông-sô,
Ngay cả đôi chân của anh bị chặt đứt.
Anh ấy biết mình sắp chết,
Và anh đã nói những lời cuối cùng.
 
“Hãy nói với vợ tôi rằng tôi yêu cô ấy chân thật.
Bảo con tôi hãy nhớ tới tôi.
Nói với những người lính nhảy dù của tôi đừng bao giờ đầu hàng.
Xin chào lần cuối các anh, những sĩ quan của tôi.”
 
Anh ấy nằm một mình dưới nấm mồ cạn;
Không kèn, không tiếng súng tiễn biệt,
Chỉ có vài xẻng đất đỏ.
Ngôi mộ được làm dấu bằng chiếc nón sắt của anh.
 
 
Anh ấy đã chiến đấu dũng cảm đến cùng.
Anh ấy đã chiến đấu với sức mạnh không cân xứng.
Anh ấy đã đánh trận chiến sau cùng của mình.
Với sự vinh quang của anh, chúng tôi đã rời bỏ anh.
 
Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo (1937-1972) là Chỉ Huy Trưởng của Tiểu Đoàn 11 của binh chủng Nhảy Dù thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong trận chiến ác liệt tại Đồi Charlie vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Đồi Charlie có vị thế chiến lược đặc biệt để bảo vệ phía trái của Đường 14, vì nằm tiếp giáp giữa ba huyện Sa Thầy, Đăk Tô và Ngọc Hồi, thuộc Tỉnh Kon Tum, Miền Trung Việt Nam.

Tháng 4 năm 1972, Sư Đoàn 320A của Bắc Việt đã bao vây Đồi Charlie, với những đợt pháo kích và tấn công bằng bộ binh liên tục nhằm chiếm căn cứ chiến lược này. Ngày 12 tháng 4 năm 1972, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Chỉ Huy Trưởng Tiểu Đoàn 11, đã tử thương vì một trái pháo của Cộng Quân đã rơi trúng hầm chỉ huy của ông. Ngay sau khi Trung Tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó Lê Văn Mễ lên nắm quyền chỉ huy Tiểu Đoàn 11. Sau 7 ngày đêm chống cự quyết liệt đến khi hết đạn dược và lương thực, ngày 14 tháng 4 năm 1972, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù bị buộc phải rút lui khỏi Đồi Charlie. Sau khi Tiểu Đoàn 11 Dù bỏ Đồi Charlie, pháo đài bay B52 của Mỹ đã trút bom xuống đó để làm cỏ căn cứ chiến lược này.

Theo William “Bill” Reeder trong tác phẩm “Extraordinary Valor: The Fight for Charlie Hill in Vietnam” [Lòng Dũng Cảm Phi Thường: Chiến Đấu Vì Đồi Charlie tại Việt Nam], thì Tiểu Đoàn 11 Dù đã nhận được lệnh “Chiến đấu tới cùng” trên Đồi Charlie. Nhưng sau hai tuần chống cự căng thẳng, hàng trăm binh sĩ tử thương và những người còn chiến đấu thì đứng trước tình trạng thuốc men, nước uống và y tế cạn kiệt. Đạn dược của họ cũng gần hết. Duffy và Mễ cùng nhau chỉ huy một cách dũng cảm để chống cự đợt tấn công biển người cuối cùng của quân đội Bắt Việt. Cả hai đã bị thương nặng, Duffy bị thương nhiều lần. Hành động anh hùng của họ đã giúp 36 binh sĩ Nhảy Dù được chạy thoát và được cứu. Phần còn lại thì bị giết, bị bắt hay mất tích. Đó là lý do tại sao Sĩ Quan Đặc Biệt của Mỹ John Joseph Duffy đã nhận được Huân Chương Danh Dự do Tổng Thống Joe Biden trao tặng vào ngày 5 tháng 7 năm 2022.

30 thang 4_hai

Tượng đài tưởng niệm binh sĩ Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam được đúc bằng đồng và dựng trong Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. (Photo: www.pixabay.com)

 
Chiến Tranh Du Kích
 
William Daniel Ehrhart là nhà thơ, nhà văn, nhà giáo và học giả người Mỹ. Ông sinh ngày 30 tháng 9 năm 1948 tại Roaring Spring, Pennsylvania, Hoa Kỳ.
Ngay sau khi tốt nghiệp trung học tại Trường Pennridge High School vào tháng 6 năm 1966, Ehrhart đã gia nhập vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và phục vụ 3 năm trong quân đội, gồm 13 tháng tại Việt Nam, theo tiểu sử của ông được ghi trong trang web https://wdehrhart.com. Sau đó ông đậu bằng Cử Nhân và Cao Học và lấy bằng Tiến Sĩ ở tuổi 52. Trong thập niên 1990s, ông sống bằng việc viết văn và diễn thuyết, nhưng vào đầu thiên niên kỷ thứ 3 ông trở lại dạy học tại The Haverford School ở Philadelphia cho đến tháng 6 năm 2019. Hiện nay ông vẫn làm thơ, viết văn và diễn thuyết. Ông lập gia đình từ năm 1981 và có một người con gái tên là Leela, sinh năm 1986.

Vào mùa xuân năm 1972, tập thơ mỏng có tên “Winning Hearts and Minds” [Chiến Thắng Trái Tim và Tâm Trí] được Nhà Xuất Bản First Casualty Press ấn hành, mà tên tập thơ lấy từ một trong những khẩu hiệu chính thức được sử dụng nhiều lần để mô tả chương trình bình định và tái định cử của người Mỹ tại Miền Nam Việt Nam. Được biên tập bởi 3 cựu chiến binh Việt Nam làm việc ở một nhà bếp dưới tầng hầm tại Quận Brooklyn, New York và lúc đầu việc in ấn do tư nhân tài trợ. Tập thơ gồm 109 bài thơ bởi những nhà biên tập và 30 người bạn cựu binh Mỹ. Đây không phải là tập thơ xuất hiện lần đầu viết về cuộc chiến tranh Việt Nam bởi những người lính từng chiến đấu ở đó. Nhưng “Chiến Thắng Trái Tim và Tâm Trí” đã nhanh chóng trở thành tác phẩm kinh điển có ảnh hưởng lớn mà thơ văn về chiến tranh Việt Nam trong tương lai đều được đánh giá dựa vào đó.

Nơi đây xin dịch bài thơ “Guerrilla War” [Chiến Tranh Du Kích] của nhà thơ William Daniel Ehrhart.
 
Thực tế là không thể
phân biệt thường dân
với Việt Cộng.
 
Không ai mặc đồng phục.
Tất cả họ đều nói
cùng một ngôn ngữ
(và bạn không thể hiểu biết họ
ngay cả họ đã không [nói]).
 
Họ dán lựu đạn
bên trong quần áo của mình,
và mang ngòi nổ
trong giỏ đi chợ của họ.
 
Ngay cả đàn bà cũng đánh giặc.
Và những đứa con trai.
Và những đứa con gái.
 
Thực tế là không thể
phân biệt thường dân
với Việt Cộng.
 
Sau một lúc,
bạn sẽ từ bỏ cố gắng.
 
Chiến tranh du kích là loại chiến tranh tiêu thổ hay còn gọi là chiến tranh nhân dân, theo cách gọi của cộng sản Việt Nam. Loại chiến tranh này dựa vào nhân dân và bám lấy nhân dân để chiến đấu, vì vậy nó không mang hình thức quy mô mà mang hình thức nhỏ, gọn, và nhẹ để có thể tấn công và rút lui một cách nhanh chóng và an toàn. Vì chủ trương bám lấy nhân dân nên các lính du kích trà trộn và ẩn trốn trong nhà dân, trong làng xóm của dân. Do vậy rất khó phân biệt du kích Việt Cộng với thường dân, như bài thơ đã nói.

Khi quân đội của chính phủ VNCH và Hoa Kỳ không thể phân biệt đâu là dân thường và đâu là du kích Việt Cộng thì khó có thể tiêu diệt địch một cách triệt để. Đó có thể là một trong những yếu tố đưa đến sự thất bại trong chiến tranh chống cộng sản tại Miền Nam Việt Nam. 

Trong ý nghĩa này, nhà thơ William Daniel Ehrhart quả thật đã báo trước sự thua cuộc của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Bạn không thể thắng cuộc chiến mà bạn không biết kẻ thù của mình là ai. Chẳng lẽ bạn giết hết một dân tộc chỉ để giành lấy chiến thắng, mà cả nhân loại và lịch sử sẽ nguyền rủa bạn?

Sau một lúc,
bạn sẽ từ bỏ cố gắng.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiếc xe khách Sài Gòn ra Huế tạm dừng ở thành phố Nha Trang vào khoảng bốn giờ chiều. Xe chưa đậu hẳn thì đã có bao nhiêu kẻ bán hàng vặt ồ ạt phóng tới miệng rao hàng inh ỏi tạo thành một thứ âm thanh hỗn loạn. Một số ăn xin tật nguyền, què cụt cũng cố chen lấn tranh nhau hành nghề...
Tôi quen biết Loan thật tình cờ, người đời thường gọi là “duyên”, với tôi, là một định mệnh từ muôn kiếp trước, đã gắn liền hai cuộc đời chúng tôi thành hai chị em, thương yêu và gần gũi, giúp đỡ, an ủi nhau còn hơn chị em ruột thịt...
Bản thân tôi ít khi nào dám ngó về biển cả, dù thấy biển cả rất mênh mông, thoáng mát và êm ả qua nhiều hình ảnh. Cũng có lúc tôi trực diện biển khơi, nhưng chỉ là lúc biển êm sóng dịu rì rào ru hát « Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào… » hoặc là lúc mơ mộng, biển nhớ…
Thời gian sau 1975, tôi cỡ 9-10 tuổi, ngoài ông anh lớn đi dạy ở Cần Thơ, tôi có ba người anh đang học Đại Học, hằng tuần có bạn bè kéo về nhà tôi tụ tập ăn uống, đờn địch ca hát rất vui. Tôi nhỏ tuổi không được tham gia, nhưng có núp ở sau bếp... nghe lỏm...
Kanchanaburi là một tỉnh miền trung Thái Lan có biên giới chung với Miến Điện. Thủ phủ là thành phố cùng tên cách Bangkok 140km. Ở đây có cây cầu nổi tiếng xây dựng từ WWII, cầu sông Kwai...
Chiến trận ngày mỗi lan rộng, mức độ tàn phá cũng gia tăng khủng khiếp. Mỗi lần quân Pháp vào làng càn quét, dân chúng lại bồng bế nhau tản cư, chỉ còn dân quân tự vệ ở lại bảo vệ nhưng cũng yếu ớt lắm. Khi quân Pháp rút, để lại hàng chục xác chết, dân lại trở về chôn cất người chết, dựng lại gian nhà tranh bị thiêu rụi rồi tiếp tục cày cuốc kiếm sống. Cuộc sống đã nghèo khổ nay càng nghèo khổ hơn...
Câu chuyện bắt đầu, một người kể: “Sở dĩ con kên kên sói đầu vì nó ăn mít. Nó đút đầu vào ruột trái mít đục khoét. Mủ mít dính chặt lông. Khi rút đầu ra, lông dính lại. Đầu trọc lóc.” Người thứ hai lên tiếng: “Nói vô lý. Kên kên ăn xác chết, ăn đồ hôi thúi. Mít có mùi thơm. Kên kên không ăn đồ thơm.” Người thứ nhất trả lời: “Nói có lý nhưng xét ra vô lý. Kên kên không ăn mít thường nhưng ăn Sầu riêng. Mít Sầu riêng hôi lắm.” “Nói vô lý. Sầu riêng thơm kiểu khác. Cả triệu người ăn. Cả triệu người ghiền. Điên hay sao mà ăn đồ hôi.” “Bà thấy thơm nhưng tui thấy hôi. Quyền tự do mà. Cả triệu người không ăn Sầu riêng. Cả triệu người thấy Sầu riêng hôi.” “Nói tào lao. Hoa thì thơm. Phân thì hôi. Ai có thể ngửi thấy hầm lù thơm?” “Có thể hôi thúi, nhưng ở đó lâu ngày, quen đi. Thúi cũng như thơm. Giống những người ở xung quanh Kinh Nước Đen.”
Chắc bạn cũng có nghe câu chuyện về ông Phó Thủ Tướng Đức gốc Việt, từng là đứa trẻ mồ côi bên Việt Nam. Tôi thật sự cảm động muốn khóc, không phải vì ông là người có tài, đẹp trai, ăn nói khôn ngoan hay làm lớn mà vì nếu cha mẹ nuôi không mang ông về Đức, có thể hôm nay ông cũng đã là kẻ lang thang đầu đường xó chợ ở một nơi nào đó trên đất nước Việt Nam...
Thơ của hai thi sĩ Quảng Tánh Trần Cầm & Nguyễn Hàn Chung...
thăng trầm lên xuống / như những bậc đá trên đồi xanh / tóc bay theo gió / mùa hạ êm đềm thắp lửa mặt trời / trong từng đôi mắt mong đợi / dõi cánh chim bay xa...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.