Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nói Chuyện Với Rặng Bần

12/09/202109:48:00(Xem: 933)

Đi dọc miền sông nước, những năm còn ở quê nhà, buổi trưa ghé một rặng bần ven sông, bỗng thèm lên bờ căng võng nằm đòng đưa à ơi ví dầu cùng cây, cùng nước và cùng trời xanh mây trắng…

Sông đang vào mùa lũ, một mùa “lũ đẹp” như bà con mình vẫn nói. Dòng nước ngầu đục, cuồn cuộn phù sa, ìn ìn đổ về phía hạ lưu, loang loáng cái nắng thu dịu dàng vàng nhẹ, như tấm vải xanh phớt hồng, điểm xuyến bằng những chùm kim tuyến, cứ long lanh, lóng lánh như ánh mắt cô hàng nước bên bến sông hiu quạnh, bỗng thoáng thấy thuyền ghe quay đầu ghé mũi để lên bờ.

Ô! Một bông hoa bần nở trắng tinh khôi, phơn phớt cái màu hồng pha tím, lẳng lặng âm thầm giữa tầng xanh lá. Nhìn kỹ, đã có rất nhiều hoa đã qua kỳ mãn khai, khoe cái đài hoa với trái bần non, tròn dẹt, nhọn hoắt một cái vòi nhỏ ở chính giữa trái, thì ra cũng đã đến kỳ trái bần chín dần và rụng xuống vì bây giờ đã là tháng tám âm lịch, đang trở lại cái chu kỳ của mùa trái ( từ tháng 4 – tháng 11 âm lịch). Chợt nhớ câu ca dao xưa: “ Muốn ăn mắm sặc bần chua/ Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm”, mắt bỗng mơ màng một tô… cơm nguội! A, mà thứ mắm sặc bần chua này đâu dễ mà tìm? Nghe in hình chỉ phổ biến ở miệt Gò Công, nơi giáp biển, có nước mặn, nước lợ. Con cá sặc có nhiều, và trái bần được làm chua bởi những bàn tay nội trợ tài hoa của các cô con gái xứ Gò Công mà nổi danh vào tận…ca dao! Bỗng lần theo đầu võng, tay nắm vào cái gốc bần sù xì, u nần theo năm tháng, nhớ láng máng: Hồi nẵm…Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi về miệt sông nước này. Đến bữa, dân quanh vùng dâng lên Nguyễn một món lạ, đó là bột trái bần được chế biến thành một thức ăn rất đặc biệt: Trái bần cà ra thành một chất bột, lóng lấy phần tinh bột, đem trộn cùng với muối, ớt vài thứ gia vị khác, bần trở thành một món ăn…cứu đói của những người dân hạ bạc sông nước. Nguyễn Ánh ăn và khen ngon. Sau này khi lên ngôi vua, ông đã khen thưởng dân làng, ban tên cho bần là “Thủy liễu”. Một cái tên có vẽ kiêu sa đài các, ấy vậy mà rất ít người gọi. Bần vẫn là bần với nhiều cung bậc của cuộc sống. Trái bần cũng là món ăn, giúp nghĩa quân Trương Công Định một thời bám vào vùng sông nước đánh giặc Pháp, sống được nhờ trái bần dân dã này. Bần cũng để và chỉ gọi những người nghèo khổ, gối rách, áo ôm, và có thời kỳ để chỉ thứ bậc giai cấp: “Bần nông” và “bần cố nông” thật tội nghiệp!

Trưa, cái võng toòng teng, nghiêng nghiêng bên sóng lá. Tiếng gió nhẹ rung cây bần xạt xào. Có tiếng anh chàng bên quán nước vọng ra: “ Chiều chiều xuống bến ba lần/ Trông em không thấy, thấy bần xơ rơ!”. Lạ, đâu đã chiều? Anh chàng đang… tán bằng ca dao! Bần đang mùa xanh rì, khỏe khoắn, lấy đâu mà xơ rơ? Có tiếng khúc khích. Chắc là cô chủ quán, lại đẩy đưa bằng những câu huê tình có từ thời ông… cố nội: “ Lẻ đôi, em chịu lẻ đôi/ Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ!”. Lần này thì tiếng cây bần cười rồi. Cười khùng khục, và anh chàng tình si thì cố dò hỏi: “ Neo ghe vô dựa gốc bần/ Em thương anh nói vậy chớ biết đặng gần hay không?”. Tôi bỗng cảm thương cho anh chàng làm nghề thương hồ, lỡ trồng một gốc bần… trước quán ở ven sông!

Ở cái xứ chung quanh tứ bề là kênh mương, sông rạch. Đất bồi phù sa lắng, người dân bám sông, bám rạch mà sống, thì bần cũng giăng thành hàng thành lũy, cùng với tràm đước, ô rô, cóc kèn, dừa nước mà chiếm lĩnh ven bờ. Được tính tình bần cũng dễ chịu. Nước ngọt, nước lợ, nước mặn gì bần cũng chịu được, sống khỏe và lớn khỏe, chỉ có điều cái tên “bần” nghe sao cơ hàn, cùng cực. Chẳng thế mà người ta đố nhau về cây bần là: “ Giống chi toàn là giống đực/ Thiếu tứ bề cam cực chung thân!” ( Đố là cây gì?). Hay xót thương mà than thở: “ Cây bần kia hỡi cây bần/ Lá xanh bông trắng lại gần không thơm”! Những năm gần đây, những cây bên bờ sông như lộc vừng, si, sanh, sung… bỗng dưng có giá. Người ta “đào tận gốc, trốc tận rễ” săn lùng ráo riết, đem về cho tạo dáng và bán cho các đại gia ở nhà lầu, biệt thự mua về làm cây kiểng trong vườn, tạo mảng xanh cho những căn nhà vốn nhiều bê tông, sắt thép. Quả là một bước từ… sình lầy, sông nước bước vào sân vườn, công viên và biệt thự. Tội nghiệp, chỉ có anh bần. Cho dù cổ thụ, hình dáng uy nghiêm, cổ quái thiên hạ vẫn tránh xa, chẳng ai dại mà dây với… bần! Gọi tên thôi đã thấy “mạt”, thấy “nghèo”. Có lẽ vì vậy mà bần cứ kéo dài thành hàng, thành dãy làm bạn với sông nước, ghe thuyền và những ngư dân, thương hồ… hay như những người lỡ vận: “ Cảm thương ô dước, bời lời/ Cha sao mẹ sến dựa nơi gốc bần”. Và những cô gái miền sông nước đôi khi tủi duyên tủi phận cũng ví von mình: “ Thân em như trái bần trôi/ Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu?”. Thế nhưng cũng chính nhờ vào cây bần, mà lứa đôi có dịp gần gũi quen biết. Đến nỗi, khi cây bần bị đốn , chàng trai đã “nổi cộc” mà chửi rằng: “ Mồ cha đứa đốn cây bần/ Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm”.

Rồi cũng có những chàng trai gan lì, quyết bảo vệ tình yêu lứa đôi của mình: “ Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại/ Đem anh treo tại nhánh bần/ Rũi đứt dây mà rớt xuống/ Anh cũng lần mò kiếm em…”. Quả là một tình yêu thủy chung son sắc nơi miệt sông nước này.

Bần dù sao cũng chỉ là bần! Giống như cái anh quanh năm suốt tháng, trần sì cái quần xà loỏn lặn hụp bên sông bằng nghề chài lưới, đơm đó, kéo đăng… nghèo, và nhiều khi dưới mắt người khác, còn được coi là… vô tích sự! Sinh tiền, Tri huyện Trà Vang ( Trà Vinh- Vĩnh Long) là Bùi Hữu Nghĩa, tức Thủ khoa Nghĩa ( 1807- 1872) vốn là vị quan thanh liêm chánh trực, yêu dân nghèo, ghét bọn vô học, cường hào cậy thế ức hiếp dân, đã mượn hình ảnh cây bần để vịnh mĩa mai rằng: “ Cao lớn làm chi bần hỡi bần?/ Uổng sanh trong thế đứng tần ngân/ Lá xanh tơ liễu, nhành thưa thớt/ Bông bạc dường mai, nhụy sượng sần/ Quyến luyến bầy cò bay sập sận/ Chiều qui đàn khỉ tới dần lân…” (Vịnh Cây bần), thì rõ là…oan và tội nghiệp cho bần. Bởi lẽ bần sinh ra vốn đã… bần! Làm bạn với dân chài hạ bạc, ghe khách thương hồ cùng chim muông và có khi là cả…khỉ? Nhưng tính hiền hòa, chịu thương chịu khó, nên dân yêu dân mến mà chia sẻ nỗi niềm thân phận, kể cả những kỷ niệm riêng tư, vì vậy mà hình ảnh bần mới được đưa nhiều vào ca dao như đã kể sơ sơ ở trên. Nói dại, các cây anh, cây chị ở vùng xôn xao sóng nước này, được người đời ưa chuộng, rước hết về sân vườn làm cây kiểng. Còn lại có mình bần, nếu không xếp hàng mà đứng lên, lấy ai che chắn sóng gió? Cái nguy cơ lũ lụt, nước tràn là khó tránh khỏi. Lúc đó thì thôi đừng có than khóc mà kêu “bần ơi! Bần hỡi!...” nữa nhé?

Gió đã đổi hướng, nước dần dần rút, những bờ bãi ven sông ánh lên cái màu phù sa mịn màng, loáng nước. Những gốc bần, những rặng bần vẫn bám sâu rễ vào lòng đất, xanh dân dã đến thật thà. Một chiếc ghe đã cập vào bến, mũi gát vào gốc bần. Người ta đang chuyển tôm cá lên bến, vào bờ. Ngước mắt nhìn rặng bần, bắt gặp gió lay động và nụ cười vu vơ, xạt xào như hơi thở…

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Không có cách nào để bọc đường tin này: Một nửa người Mỹ lớn tuổi sẽ béo phì rất nghiêm trọng trong vòng hơn 12 năm nữa, theo một phúc trình mới tiên đoán.
Một buổi tối, gió thổi mạnh, trời âm u, chúng tôi đi thăm đài tưởng niệm chiến sĩ Hải Quân Hoa Kỳ ở Seal Beach, Los Angeles County, California. Xung quanh tượng đài là những tấm bia ghi danh các chiến sĩ (tôi đoán như thế, trời tối quá, dưới ánh đèn mờ mờ, tôi không đọc được những hàng chữ ghi trên các tấm bia). Cây cỏ xanh mướt, tượng đài uy nghi tráng lệ, gió thổi rì rào như hồn các chiến sĩ về đây chứng giám cho người đang đứng đây cầu nguyện cho họ.
Làm thế nào để tâm an định khi xung quanh đời sống từ sức khỏe, cho đến chính trị, xã hội, vân vân., quá xáo trộn vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Điều quan trọng là cần sống theo hoàn cảnh và chấp nhận nó không tìm cách phê phán về những gì thay đổi mà mình không thích, hay bị giới hạn.
Khi một nữ tu trẻ tại 1 dòng Công Giáo ở Đông Âu nói với Mẹ bề Trên rằng 1 linh mục đã tìm cách sờ mó cô, cô bị Mẹ Bề Trên nói có lẽ lỗi của nữ tu này đã khiêu gợi linh mục kia. Khi các nữ tu gốc Phi tại Minnesota hỏi vì sao họ cứ phải đi xúc tuyết thì được nói vì các nữ tu này trẻ và khỏe, bất kể các nữ tu da trắng cùng tuổi đang sống cùng trong tu viện.
Hôm nay là ngày Thứ Bảy Vì Kinh Doanh Nhỏ (Small Business Saturday), 2 ngày sau Lễ Tạ Ơn và 1 ngày sau Thứ Sáu Đen, nhiều doanh nghiệp nhỏ tại Quận Cam (hầu hết kinh doanh của dân Việt là kinh doanh nhỏ, như tiệm ăn, tiệm tạp hóa...) hy vọng mùa mua sắm sau đại dịch sẽ giúp tăng thương vụ.
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.