Hôm nay,  

Pháp, Mỹ Yểm Trợ Việt Nam, Thành Lập Quân Đội Quốc Gia

05/06/200400:00:00(Xem: 6487)
Tài Liệu Chiến Sử Việt Nam, Hiệp Định Genève, 50 Năm Nhìn Lại (Kỳ 4)
LTS. Trong tinh thần tưởng niệm ngày 20 tháng 7 năm 1954, Việt Báo giới thiệu đến bạn đọc loạt bài chiến sữ "Vĩ tuyến 17, Hiệp định Genève, 50 năm nhìn lại", đăng vào số báo thứ Bảy hàng tuần. Loạt bài này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: Quân lực VNCH trong giai đoạn 1946-1955( Khối Quân sử/Phòng 5/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH); Đông Dương Hấp Hối của cựu Đại tướng Quân đội Pháp Henri Navarre; hồi ký của các cựu Tướng lãnh VNCH: cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, cựu Thiếu tướng Đỗ Mậu, cựu Đại tướng Cao Văn Viên; Việc từng ngày 1945-1964 của tác giả Đoàn Thêm; tài liệu riêng của VB.
* Giai đoạn sơ khai của tiến trình hình thành Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Ngày 1 tháng 10/1946, Pháp khai sinh Vệ binh Cộng Hòa Nam kỳ. Đây là lực lượng đầu tiên của Chính phủ Nam Kỳ tự trị do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng (tham chánh ngày 7-5-1946). Ngoài lực lượng này, Pháp cũng tổ chức những lực lượng quân sự khác như phụ lục quân, hương dũng, hương vệ để tăng cường cho lực lượng Quân đội Pháp tại miền Nam. Cũng từ đó, chương trình phát triển lực lượng quân sự địa phương trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp trải qua những thời kỳ như sau.
-Đầu năm 1947, lực lượng Quân đội Pháp đã kiểm soát được nhiều tỉnh tại Nam Việt, một phần lớn của Trung Việt và Bắc Việt, thế nhưng Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp phân tích rằng lực lượng Pháp chỉ chiếm đóng được tại các thành phố, thị trấn, còn tại vùng nông thôn, lực lượng Pháp không thể nào kiểm soát được và tại nhiều nơi, cuộc chiến đã diễn ra mỗi ngày. Thủ tướng Chính phủ Pháp lúc bấy giờ là ông Ramadier nhận định rằng nếu cứ tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh theo chính sách của Cao ủy Pháp tại Đông Dương d'Argenlieu thì sẽ vô cùng tốn kém. Thủ tướng Ramadier nghĩ tới một giải pháp chính trị để giải quyết toàn bô cuộc chiến Đông Dương. Tháng 3/1947, tại Ba Lê, Thủ tướng Pháp Ramadier tuyên bố rằng Pháp sẵn sàng cho các dân tộc Đông Dương hưởng độc lập, có quân đội và ngoại giao trong liên bang Đông Dương.
-Ngày 12-4-1947, Hội đồng chấp chánh Trung phần thành lập cũng là ngày Bảo vệ quân ra đời tại Huế do ông Trần Thanh Đạt sáng lập, sau đó chủ tịch Hội đồng chấp hành Trung phần là ông Trần Văn Lý đã phát triển lực lượng này.
-Tháng 7-1948, một lực lượng địa phương tại miền Bắc được thành lập với danh xưng là Bảo chính đoàn. Trong khi đó, để phù hợp với tình thế, Quốc gia Việt Nam tổ chức thành một chế độ phân quyền tại 3 miền: Nam phần, Trung phần và Bắc phần. Bảo vệ quân tại miền Trung cải danh thành Việt Binh Đoàn. Vệ binh Cộng Hòa Nam Kỳ cải danh thành Vệ binh Nam Việt.
-Ngày 13 tháng 4/1949, Chính phủ Quốc gia Việt Nam ban hành sắc lệnh 66/SG chính thức hóa các đơn vị vệ binh tại các địa phương thành quân đội chính quy mà các quân nhân đều được hưởng lương bổng của Quốc gia,cao hơn lương của phụ lực quân rất nhiều. Các đơn vị Vệ binh được hưởng là Vệ binh Nam Việt, Việt binh đoàn (Trung Việt), Bảo chính đoàn ( Bắc Việt) và vệ binh sơn cước. Tất cả các đơn vị này có cùng danh hiệu chung là Vệ binh Quốc gia.
-Ngày 1 tháng 7/1949, Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 1 và Dụ số 2 để tổ chức các cơ quan công quyền, quy chế công sở, xác định Việt Nam có 3 phần : Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt. Mỗi phần có ngân sách riêng, do 1 Thủ hiến điều hành. Vị thủ hiến của mỗi phần cũng là tổng chỉ huy lực lượng địa phương.
-Ngày 1 tháng 10/1949, ba tiểu đoàn bộ binh Việt Nam đầu tiên được thành lập là các Tiểu đoàn số 1, 2 và 3, đánh dấu Quân đội Quốc gia VN từ giai đoạn phụ lực và vệ binh sang giai đoạn chính quy. Tháng 10/1949, ngoài các chương trình huấn luyện, đào tạo sĩ quan chỉ huy trong nước, vài sĩ quan Việt Nam đầu tiên được gửi theo học tại các quân trường của Pháp. Cuối năm 1949, Quân đội Quốc gia VN có 45 ngàn quân.
* Pháp, Hoa Kỳ yểm trợ quân viện để hình thành Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Ngày 11tháng 5/1950, Quốc hội Pháp chấp thuận cho Việt Nam được thành lập Quân đội Quốc gia theo lời đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Pháp. Cũng trong ngày này, tại Sài Gòn, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố thành lập Quân đội Quốc gia chống Cộng sản. Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam đặt ra một kế hoạchvới quân số tổng cộng là 60 ngàn người, bao gồm một nửa là lực lượng là chủ lực chính quy, một nửa là phụ lực quân. Nhiệm vụ đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam là bình định và đảm trách một phần nhiệm vụ tác chiến thay dần các đơn vị Quân đội Pháp. Tháng 6/1950, những quân khí, quân dụng thuộc chương trình quân viện của Chính phủ Hoa Kỳ được chính thức thông báo chuyển cho Quân đội Quốc gia Việt Nam.Ngày 8 tháng 12-1950, để điều phối và ấn định chiến phí giữa Chính phủ Pháp và Chính Phủ Quốc gia Việt Nam, một thỏa ước quân sự Pháp-Việt đã được ký kết quy định Việt Nam phải chịu 40% ngân sách Quốc gia, 60% chiến phí còn lại do Pháp chịu. Cuối năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam có 65 ngàn chiến binh.

Trước đó, vào ngày 7 tháng 12 năm 1950, Đại tướng Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassingy, Tổng thanh tra Quân lực Pháp, được chính phủ Pháp bổ nhiệm giữ chức vụ làm Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương. Vừa đảm nhận chức quyền, Đại tướng de Lattre gửi cho Chính phủ Pháp một tờ trình đặc biệt xin tăng thêm viện binh. Tổng tư lệnh de Lattre phân tích rằng tại Bắc Việt, với quân số từ 22 đến 25 tiểu đoàn không thể chống lại 60 đến 80 tiểu đoàn của đối phương. Tại Bắc Việt, chỉ có 14 tiểu đoàn chống lại 18 và tại Nam Việt chỉ có 9 tiểu đoàn để chống lại 14 tiểu đoàn Việt Minh. Trước thực trạng này, về Lục quân, ông xin tăng cường 11 tiểu đoàn Bộ binh, 3 tiểu đoàn Pháp binh, 1 đơn vị thám thính xa, các đại đội phòng không, và vũ khí để bảo vệ các pháo lũy, 1 tiểu đoàn công binh để xây dựng các sân bay quân sự .
Tháng 1/1951, sau trận chiến Cao Bắc Lạng, Đại tướng de Lattre tự nhận trách nhiệm tổng chỉ huy một đạo quân chống lại Cộng sản đang muốn chiếm Đông Dương và toàn Đông Nam Á. Trong các phiếu trình khẩn cấp xin chính phủ Pháp tăng cường binh lực cho Quân đội Quốc gia Việt Nam, ông đã thỉnh cầu Thủ tướng và Tổng trưởng Bộ Quốc phòng Pháp cho thành lập nhiều binh đoàn hoàn toàn Việt Nam. Ngoài ra, để đối phó với du kích Việt Nam, lần đầu tiên Đại tướng de Lattre cho võ trang các thanh niên nông thôn tại những nơi nào mà dân chúng nhiệt thành chống Cộng sản. Ngày 1 tháng 8/1951, một thỏa ước về viện trợ đã được ký kết giưã Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh Quân đội Pháp tại Đông Dương de Lattre và Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hưũ, trong đó ấn định mục đích viện trợ, điều kiện kinh phí và những điều khoản ràng buộc của Pháp và Quốc gia Việt Nam. Qua sự điều hợp của Đại tướng de Latrre, chính phủ Pháp đồng ý tiếp trợ Quân đội Quốc gia Việt Nam những cán bộ quân sự như sĩ quan, hạ sĩ quan làm nòng cốt cho việc hình thành các đơn vị Việt Nam, cung cấp các chiến cụ và tài trợ kinh phí cho ngân sách quốc phòng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam với điều kiện Việt Nam phải gánh chịu 40% ngân sách quốc gia cho chi phí quốc phòng, trong đó một phần trích từ nguồn viện trợ tài chính của Hoa Kỳ cho Bộ Quốc phòng Quốc gia Việt Nam.
Ngân phí quân viện của Chính phủ Pháp cho Quân đội Quốc gia Việt Nam được điều chi theo hai hướng: Tiền tại Việt Nam chi tiêu dưới hai hình thức: một phần đặt trong ngân sách Quân đội Liên Hiệp Pháp chi tiêu cho Quân đội Quốc gia Việt Nam và một phần khác đặt trong ngân sách của Phái bộ Quân sự Pháp cạnh Bộ Quốc phòng Việt Nam chi tiêu cho những quân nhân Pháp biệt phái sang các đơn vị Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tiền tại Pháp dùng để chi tiêu ngay ở Pháp, để mua sắm các quân khí, quân dụng cần thiết cho Quân đội Quốc gia Việt Nam.Từ cuối năm 1951, quân số Quân đội Quốc gia Việt Nam lên đến 110 ngàn người, đặc biệt là trong năm 1951, một số đơn vị binh chủng của Lục quân đã hình thành, như đơn vị đầu tiên của binh chủng Thiết giáp là Đệ nhất chi đoàn thám thính xa thành lập ngày 1-1-1951, đơn vị đầu tiên của binh chủng Truyền tin là Đại đội Truyền tin số 1, số 3 thành lập ngày 1-2-1951, đơn vị đầu tiên của Quân vận là Đại đội Vận tải số 4 thành lập ngày 1 tháng 5/1951. Đơn vị Nhảy dù đầu tiên là Tiểu đoàn 1 Nhảy dù thành lập ngày 1-8-1951, đơn vị Công binh đầu tiên là các Đại đội Công binh số 2 và số 3 thành lập ngày 1 tháng 9/1951. Đơn vị Pháo binh đầu tiên là Pháo đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3 Pháo binh thành lập ngày 1-11-1951. Ngoài ra, ngành binh sở thuộc Bộ Quốc phòng như Nha Quân cụ thành lập cùng lúc một số đại đội trung hạng sửa chưã vật liệu số 1, 2, 3, 4 vào ngày 1 tháng 9/1951, và Nha Quân y thành lập trường Đại học Quân y ngày 1-10-1951. Ngày 1 tháng 9/1951, ngành Hiến binh Quốc gia đã hình thành nhằm đáp ứng việc thi hành các biện pháp động viên nhân lực trong tình hình đất nước có chiến tranh. (Kỳ sau: Quân Đội Quốc gia VN giai đoạn 1952-1954)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.