Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Lầm Lỡ Trong Y Khoa

27/11/200700:00:00(Xem: 2237)

Trong khi chúng ta ai ai cũng thừa nhận một chức năng hiển nhiên “lương y kiêm từ mẫu” của những người làm việc trong ngành y khoa, chúng ta cũng không thể chối cãi được một thực tế hiển nhiên là ngay trong lĩnh vực y khoa những hạn chế nhất định của kiến thức cũng như khoa học trong việc ứng dụng những phương thức trị liệu đã là nguyên nhân gây nên những hậu quả trầm trọng cho bệnh nhân trong lịch sử y khoa thế giới nói chung cũng như của Úc Đại Lợi nói riêng.
Chính vì nhận thức được thực tế cực kỳ nguy hiểm này nên ngay từ 2400 năm trước chính thủy tổ của ngành  y khoa Tây Phương hiện đại là Hippocrates (1) đã  giáo huấn những đệ tử của mình luôn luôn nhớ một phương châm được coi là khuôn vàng thước ngọc: “DDiều tiên quyết của một người thày thuốc là đừng bao giờ làm hại một ai!" (First, do no harm).
Tuy nhiên trong suốt thời gian 2400 năm qua có nhiều vị thầy thuốc vẫn vô tình quên lời căn dặn vàng ngọc này. Chính vì vậy nên chúng ta không lấy làm lạ khi thấy ngay trong kho tàng ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại có một từ iatrogenesis có nghĩa chỉ một loại bệnh trạng do chính những vị thầy thuốc gây nên trong quá trình chữa trị cho một bệnh nhân.
Thực trạng y khoa trong thời đại hiện nay cho thấy, trong khi những bác sĩ dùng những phương tiện khoa học hiện đại cùng những dược phẩm được phát minh trong mục đích chữa trị một loại bệnh trạng nhất định cho một bệnh nhân thì cũng đôi khi chính  những loại thuốc đó hay những phương thức chữa bệnh đó có thể gây nên một bệnh trạng khác.
Đó là một thực tế hiển nhiên mà ngày nay không những bác sĩ mà thậm chí ngay cả người bệnh cũng nhận biết và chấp nhận trong tiến trình chữa trị bệnh trạng duy trì sự sống. Lấy thí dụ như việc dùng một số chất kích thích tố nhân tạo  trong mục đích kiểm soát những triệu chứng tắt kinh của phụ nữ có thể gây ra bệnh ung thư cổ tử cung. Hay việc dùng phương pháp trị liệu quang tuyến cho những người bị bệnh Hodgkin có thể gây ra những thương tổn nhất định cho cơ tim khiến cho bệnh nhân có thể mắc những bệnh nhất định có liên quan về tim.
Dĩ nhiên một người khi mắc những bệnh trạng nhất định, người đó bắt buộc phải chấp nhận những rủi ro có thể có trong quá trình chữa trị vì nếu không thì chính họ phải đối diện với những nguy hiểm do chính bệnh trạng đó gây nên. Tuy nhiên trong thời đại ngay nay chúng ta thấy  nhiều khi ngay cả những người khỏe mạnh không có một triệu chứng gì chứng tỏ là có bệnh, vậy mà người đó vẫn phải chấp nhận những rủi ro nhất định khi trải qua những khám nghiệm y khoa trong mục đích phát hiện một cách sớm sủa những bệnh trạng của mình để có thể gìn giữ được sức khỏe cho chính bản thân của mình cũng như cho những người xung quanh.
Trong chiều hướng này, có những người khỏe mạnh cường tráng không có một triệu chứng bệnh trạng gì cũng đi khám bệnh. Và cũng chỉ ở thời đại này trong kho tàng ngôn ngữ tiếng Anh mới có từ check-up và chúng ta cũng chứng kiến trong thời gian ngót thế kỷ qua từ check-up này xâm nhập vào trong tất cả các ngôn ngữ như Pháp, Tây Ban Nha, Hung Gia Lợi... và được địa phương hóa trở thành một từ trong tự điển của chính những quốc gia đó...
Cùng với sự phát triển của khoa học và tư tưởng của con người chúng ta càng ngày càng nhận thức được kiến thức y khoa cùng những phương thức trị liệu của nhân loại thực sự chỉ là kiến thức có tính cách giai đoạn và cũng trải qua những thăng trầm, những đào thải giống như tất cả những kiến thức trên những lĩnh vực khác. Nói cách khác trong lịch sử y khoa, có không thiếu gì những kiến thức cũng như những phương  thức trị liệu được thừa nhận là những khuôn vàng thước ngọc trong quá khứ nhưng cùng với thời gian chúng đã bị đào thải trở thành những lỗi lầm trong con mắt của khoa học hiện đại.
Nhìn ngược trở lại lịch sử y khoa thế giới chúng ta thấy có không thiếu gì những phương thức trị liệu cực kỳ ghê rợn hoàn toàn phản khoa học nhưng đã tồn tại trong nhiều thế kỷ như là một kết tinh của kiến thức và sự hiểu biết của tầng lớp khoa bảng trí thức trong một xã hội. Cụ thể như trước đây tại nhiều xã hội không những Âu Tây mà ngay cả trong những xã hội tại Đông Phương việc xử dụng máu đỉa, máu chó cũng như khoan xương sọ trong mục đích xua đuổi tà ma đã được coi  là một hình thức trị liệu thông dụng cho những người mắc bệnh điên khùng.
Theo như những tài liệu y khoa để lại, ngày nay chúng ta được biết trong quá khứ không thiếu gì những bệnh nhân đã phải dùng những toa thuốc trong đó có máu, phân, nước tiểu, tàn tro hay những xương cốt của động vật... Trong khi thừa nhận kiến thức y khoa là sản phẩm của con người, chúng ta cũng đồng thời nhìn nhận những hạn chế nhất định trong tầm nhìn cũng như khả năng nhận thức và tích lũy dữ kiện của con người trong một giai đoạn nhất định của đời sống.
Tuy nhiên không phải chỉ có trong thời đại ngày nay chúng ta mới nhận thức được những nhầm lẫn nguy hiểm trong việc trị liệu y khoa mà ngay từ ngàn xưa việc trị liệu cũng đã có những nhầm lẫn không thể chấp nhận được. Lấy thí dụ như trong suốt thời gian gần một nửa đầu của thế kỷ 20 tất cả các bác sĩ cũng như tất cả những trung tâm y khoa danh tiếng trên thế giới cùng những sách vở có liên quan đến y khoa đều thẳng thắn thừa nhận thủ dâm là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng điên khùng, mất trí nhớ, bất lực và mù lòa. Chính vì nhận thức một cách sai lệch như vậy nên hầu như ai ai cũng bị ám ảnh một cách kinh hoàng những hành động “tự tìm lạc thú” của mình. Hơn thế nữa các bác sĩ trong thời gian đó đã áp dụng những phương thức trị liệu không những phi khoa học mà còn có thể nói hoàn toàn tàn nhẫn. Trong số những phương thức trị liệu tàn nhẫn ở thời đó sử sách còn ghi nhận những phương thức trị liệu như cho người “bệnh” đeo những túi da đặc biệt có khóa khiến cho đương sự không thể tự thỏa mãn những đam mê của mình. Trong những trường hợp mắc bệnh thủ dâm nghiêm trọng các bác sĩ thường thiến nếu “bệnh nhân” là con trai hoặc cho cắt bỏ  âm hạch (clitoris) nếu “bệnh nhân” là con gái. Phương thức trị liệu này được coi là hoàn toàn phổ biến ở thời điểm đó và được coi là hữu hiệu phù hợp khoa học cũng như những giá trị luân lý.
Theo như lời nhận xét của chính chủ tịch danh tiếng The Royal College of Surgeons ở thời điểm năm 1890 tên là Jonathon Hutchinson thì những phương thức trị liệu trên đây “là những phương thức trị liệu thực sự tốt lành cho chính những người bệnh bất kể người bệnh là nam hay là nữ". Thật đáng tiếc là bác sĩ Hutchinson không sống đến ngày nay để có thể nhận thức được những sai lầm nghiêm trọng của chính mình dưới ánh sáng khoa học trong thời đại ngày nay.
Trên thực tế thì kiến thức y khoa cũng không thoát khỏi dấu vết thời thượng trong một giai đoạn nhất định của đời sống. Cụ thể là trong những năm của thập niên 1950 các bác sĩ đều tán đồng một phương thức trị liệu cần thiết đối với những trẻ em sinh non bằng cách cho những trẻ em này được hô hấp trong một điều kiện đặc biệt có tỷ lệ dưỡng khí cao, để gia tăng khả năng hoạt động của phổi và quá trình trao đổi sinh hóa của hài nhi. Khuynh hướng này trên thực tế đã tồn tại trong một thời gian khoảng mười năm cho đến khi chính các bác sĩ nhận thấy  phương thức “trị liệu" này đã là nguyên nhân gây ra bệnh mù vĩnh viễn cho hàng ngàn trẻ thơ trong khi trên thực tế phương thức này  không hề gia tăng khả năng sống sót của những trẻ sinh non.
Bước vào thập niên 1960 tại Úc Đại Lợi có một khuynh hướng được coi là khá phổ biến trong thế giới y khoa đó là khuynh hướng trị liệu cho những người mắc bệnh tâm thần có những triệu chứng bất an, chán nản, tuyệt vọng... bằng cách cho những người bệnh trải qua một tình trạng gọi là “deep sleep”. Phương thức trị liệu này được chính nhà tâm thần học danh tiếng tại Úc Đại Lợi tên là Harry Bailey phát minh và chỉ trong thời gian ngắn nó được coi “thần dược” cho đông đảo bệnh nhân tâm thần tại Úc Đại Lợi trong đó có cả những nhân vật tên tuổi trên chính trường, những tài tử được coi là “gạo cội" trên sân khấu văn hóa nghệ thuật, những thương gia lừng danh trên thương trường...
Phương thức trị liệu này không những không tốn  công sức cho bác sĩ mà ngay cả người bệnh cũng chẳng mệt nhọc gì vì chính bản thân bệnh nhân chỉ cần dùng một loại thuốc đặc biệt là bệnh nhân sẽ rơi vào một giấc ngủ kéo dài 24 tiếng đồng hồ. Trong khi bệnh nhân ngủ say sưa, bác sĩ tâm thần sẽ tiếp tục dùng một số phương thức trị liệu điện từ cần thiết tùy theo bệnh trạng của bệnh nhân. Trong suốt thời gian dài 17 năm trời không những các bác sĩ, các nhà phân tâm học, các bệnh nhân mà ngay cả dư luận báo chí cũng ca ngợi hết lời phương thức trị liệu này và tên tuổi của bác sĩ tâm thần Bailey nổi như cồn.
Mãi đến 17 năm sau những nhà khoa học, những bác sĩ trong lĩnh vực tâm thần mới đột nhiên nhận ra phương thức trị liệu này là nguyên nhân gây ra cái chết cho ít nhất hai chục nạn nhân tại Úc Đại Lợi. Ngoài ra phương thức trị liệu này còn gây ra những thương tật vĩnh viễn cho nhiều bệnh nhân trong đó có nhiều bệnh nhân bị hư hỏng toàn bộ não bộ.
Theo như chính  tác giả Glennys Bell, một phóng viên danh tiếng chuyên điều tra những gian lận trong giới khoa học gia danh tiếng tại Úc Đại Lợi thì “trong số những vấn đề được coi là nổi tiếng tại Úc Đại Lợi trong những năm qua chúng ta phải kể đến những tai tiếng trong những vụ gian lận về lĩnh vực y khoa." Cũng theo như tác giả Glennys Bell thì trên tỷ lệ dân số, có thể nói Úc Đại Lợi là quốc gia đứng đầu trên thế giới trên phương diện gian lận và ngụy tạo những công trình nghiên cứu y khoa.
Trong số những vụ tai tiếng lừng danh thế giới y khoa, phải kể đến trường hợp giáo sư Michael Briggs tại trường đại học Deakin là người đã tự ý ngụy tạo thêu dệt những tình tiết trong luận án của mình nghiên cứu về những phương thức ngừa thai bằng thuốc uống cho phụ nữ. Mặc dù vị “giáo sư khả kính” này đã chết năm 1986 nhưng việc làm của ông rõ ràng đã mang lại một vết nhơ khôn rửa cho danh tiếng của những nhà khoa bảng Úc Đại Lợi.
Một trường hợp tai tiếng khác là bác sĩ William McBride, nguyên giám đốc một trung tâm nghiên cứu danh tiếng tại Úc Đại Lợi có tên Foundation 41 trong đó quy tụ những nhân vật tài hoa nhất trong thế giới y khoa vậy mà vị bác sĩ giám đốc này lại tự thêm thắt những định kiến riêng tư trong khi làm những thí nghiệm liên quan đến loại thuốc chống ói mửa cho phụ nữ khi họ mang thai.
Rồi một nhà tâm thần học danh tiếng là bác sĩ Ashoka Prasadi đã tự ý ngồi nhà thêu dệt những dữ kiện ma trong 8000 hồ sơ bệnh nhân giả mạo hoàn toàn không có thực để trình một luận án về loại bệnh schizophrenia. May mắn cho Úc Đại Lợi là toàn bộ công trình nghiên cứu “hươu vượn” bệnh trạng schizophrenia của vị bác sĩ danh tiếng này đã bị lột trần trước khi toàn bộ công trình nghiên cứu được công bố và xuất bản trên toàn thế giới.
Hiển nhiên trong thế giới y khoa không mấy ai là không biết câu chuyện lừa đảo lừng lẫy của William Summerlin tại một viện ung thư danh tiếng Hoa Kỳ. Như chúng ta đã biết ở thời điểm những năm đầu của thập niên 1970, y khoa thế giới vẫn đành bó tay bất lực trước việc cấy ghép một cơ quan vào một cơ thể vì khả năng miễn nhiễm của cơ thể con người không chấp nhận những “vật lạ” nên những bạch cầu trong một cơ thể đã tiêu diệt tất cả những “vật lạ” đó.
Trong khi thế giới y khoa đang bó tay bất lực thì đột nhiên Summerlin tuyên bố sự thành công của mình qua thí nghiệm cấy ghép một miếng da chuột mầu đen trên mình một con chuột bạch. Dĩ nhiên khi nghe tin này cả thế giới bàng hoàng và mừng rỡ cho rằng Summerlin trước sau gì cũng sẽ lãnh giãi Nobel. Tuy nhiên không lâu sau người ta mới biết “sự thành công” của Summerlin chỉ là hành động lừa đảo “lấy sơn đen bôi đen một khoảng trên mình  chuột bạch, rồi chụp hình và họp báo, công bố sự thành công" của ông mà thôi. w

(*) Hippocrates (460-370 BC) người Hy Lạp, cha đẻ của ngành y khoa hiện đại. Ông là người đầu tiên có công tách biệt những kiến thức y khoa khỏi lĩnh vực tư duy và thần học trong tiến trình trị bệnh cứu người.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.