Hôm nay,  

Trong Đầu Mỗi Chúng Ta Có Một ‘Cuốn Từ Điển’

01/12/202300:00:00(Xem: 854)

tu dien

Bộ não của chúng ta giải quyết các chữ cái, từ ngữ, âm thanh, ngữ nghĩa và ngữ pháp với tốc độ chớp nhoáng. (Nguồn: Unplash)


Cũng giống như một cuốn từ điển vật lý, ‘cuốn từ điển’ trong đầu của chúng ta cũng chứa thông tin về các từ, bao gồm các chữ cái, âm thanh và ý nghĩa hoặc ngữ nghĩa của từ, cũng như thông tin về các thành phần câu cú và cách ghép các từ lại với nhau để tạo thành các câu đúng ngữ pháp. ‘Cuốn từ điển’ đó còn là một cuốn từ điển các từ ngữ đồng nghĩa. Nó có thể giúp chúng ta kết nối các từ ngữ và xem chúng giống nhau về ý nghĩa, âm thanh hoặc chính tả như thế nào.
 
Ngôn ngữ là một phần khiến con người trở nên đặc biệt. Và ‘cuốn từ điển’ trong đầu mỗi người đều không giống nhau. Vậy cách sắp xếp các từ trong ‘cuốn từ điển’ đó hoạt động ra sao?
 
‘Cuốn từ điển’ trong đầu chúng ta
 
Mặc dù từ điển vật lý hữu ích cho việc chia sẻ kiến thức, nhưng ‘cuốn từ điển’ trong đầu của chúng ta được tùy chỉnh dựa trên trải nghiệm cá nhân của chính ta. Các từ ngữ trong ‘cuốn từ điển’ trong đầu của những người nói chung một loại ngôn ngữ có thể trùng lặp nhau, nhưng cũng sẽ có rất nhiều khác biệt về nội dung của những ‘cuốn từ điển’ trong đầu chúng ta.
 
Chúng ta bổ sung từ ngữ vào ‘cuốn từ điển’ trong đầu của mình thông qua học hành, làm việc, văn hóa và những trải nghiệm khác trong cuộc sống. Việc tùy chỉnh này cũng có nghĩa là kích cỡ của ‘cuốn từ điển’ trong đầu mỗi người sẽ hơi khác một chút và thay đổi theo độ tuổi. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng một người nói tiếng Anh-Mỹ ở độ tuổi 20 trung bình biết khoảng 42,000 từ khác nhau, và con số này tăng lên khoảng 48,000 ở tuổi 60. Một số người thậm chí còn có vốn từ vựng lớn hơn.
 
Quý vị có thể hình dung ‘cuốn từ điển’ trong đầu của mình như một cuốn sách, cũng có các trang từ ngữ theo thứ tự bảng chữ cái mà quý vị có thể lật tìm khi cần. Mặc dù nói như vậy để dễ hình dung, nhưng vẫn còn rất nhiều tranh luận về cách tổ chức của ‘cuốn từ điển’ trong đầu mỗi người. Nhiều học giả cho rằng nó có thể không giống như một cuốn sách được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái.
 
Có một lý thuyết đã bị bác bỏ là “grandmother cell theory”. Lý thuyết này cho rằng mỗi khái niệm được mã hóa bởi một nơ-ron duy nhất. Điều này ngụ ý rằng mỗi một nơ-ron trong não quý vị sẽ chứa một từ ngữ mà quý vị biết, thí dụ như từ “bà.”
 
Mặc dù bị bác bỏ, nhưng grandmother cell theory có một khía cạnh cho rằng một số phần của não đối với một số loại thông tin thì quan trọng hơn so với một số loại khác – khía cạnh này có thể đúng. Thí dụ, phần thùy thái dương bên trái có nhiều vùng quan trọng cho việc giải quyết vấn đề ngôn ngữ, bao gồm cả việc truy xuất và tạo ra từ. Thay vì chỉ có một nơ-ron duy nhất chịu trách nhiệm giải quyết một khái niệm, mô hình giải quyết phân tán song song cho rằng các mạng lưới nơ-ron lớn trên toàn bộ não phối hợp với nhau để mang lại kiến thức về từ ngữ khi chúng kích thích nhau.
 
Thí dụ, khi ai đó nói từ “con chó,” có rất nhiều khía cạnh khác nhau của từ mà não quý vị đang lục tìm, ngay cả trong vô thức. Quý vị có thể sẽ nghĩ tới mùi, tiếng chó sủa hoặc cảm giác khi vuốt ve một chú chó. Quý vị cũng có thể sẽ nghĩ về một chú chó cưng đã cùng lớn lên với mình, hoặc có nhiều cảm xúc khác nhau về những chú chó đã từng tiếp xúc trong quá khứ. Tất cả những yếu tố khác nhau liên quan đến “chó” đều được giải quyết ở những phần khác nhau trong não quý vị.
 
Sử dụng ‘cuốn từ điển’ trong đầu của quý vị
 
Một lý do khiến ‘cuốn từ điển’ trong đầu của quý vị không thể giống từ điển vật lý là vì nó rất linh hoạt và có thể truy cập nhanh chóng.
 
Bộ não có khả năng nhớ lại một từ nào đó rất nhanh. Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã lập bản đồ thời gian tìm kiếm từ của 24 sinh viên đại học bằng cách ghi lại hoạt động não của họ khi họ đặt tên cho các bức tranh. Họ nhận thấy rằng những người tham gia đã chọn các từ trong vòng 200 mili giây sau khi nhìn thấy hình ảnh. Sau khi chọn từ, não của họ tiếp tục giải quyết thông tin về từ đó, chẳng hạn như âm thanh nào cần thiết để nói lên từ đã chọn đó và bỏ qua những từ liên quan. Đây là lý do tại sao chúng ta có thể nhanh chóng truy xuất các từ ngữ để sử dụng trong các cuộc trò chuyện theo thời gian thực, thường nhanh đến mức chẳng ai chẳng mảy may chú ý đến quá trình đó.
 
Cho đến khi… chúng ta gặp khó khăn trong việc tra cứu từ. Một lỗi phổ biến trong việc truy phát từ ngữ được gọi là hiện tượng kẹt ở đầu lưỡi. Đó là cảm giác khi ta biết mình muốn dùng từ gì nhưng bỗng nhiên không thể nào tìm ra từ đó ngay lúc đó. Chúng ta thậm chí có thể biết chi tiết cụ thể về từ mà ta muốn nói, chẳng hạn như những từ khác có nghĩa tương tự hoặc có thể là chữ cái hoặc âm đầu tiên của từ đó. Khi có đủ thời gian, từ mà ta muốn nói có thể hiện lên trong đầu.
 
Những hiện tượng kẹt ở đầu lưỡi này là một phần bình thường với trải nghiệm ngôn ngữ của chúng ta trong suốt cuộc đời, và sẽ tăng lên khi chúng ta già đi. Một lý do được đưa ra là do tuổi tác có thể làm gián đoạn khả năng bật ra âm thanh phù hợp cần thiết để nói từ đã chọn.
 
Tuy nhiên, đối với một số người, hiện tượng kẹt ở đầu lưỡi và các lỗi phát âm khác có thể gây ảnh hưởng khá xấu. Điều này thường thấy ở chứng mất ngôn ngữ (aphasia), một chứng rối loạn ngôn ngữ thường xảy ra sau khi trung tâm chịu trách nhiệm về ngôn ngữ của não bị tổn thương, chẳng hạn do đột quỵ hoặc suy thoái thần kinh như chứng mất trí nhớ. Những người mắc chứng mất ngôn ngữ thường gặp khó khăn trong việc nhớ lại các từ ngữ.
 
May mắn thay, có những phương pháp điều trị có thể giúp cải thiện khả năng truy tìm từ ngữ. Thí dụ, phân tích đặc điểm ngữ nghĩa tập sẽ trung tăng cường mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ. Ngoài ra còn có các phương pháp điều trị như “phonomotor treatment”, tập trung tăng cường việc lựa chọn và tạo ra những câu nói cần thiết cho việc sử dụng từ ngữ. Thậm chí có những ứng dụng trên điện thoại hoặc máy tính giúp truy xuất từ ngữ.
 
Sắp tới khi quý vị trò chuyện với ai đó, hãy thử suy ngẫm lý do tại sao quý vị lại chọn những từ đó để nói. Hãy nhớ rằng những từ quý vị sử dụng và ‘cuốn từ điển’ trong đầu của quý vị là một phần khiến cho quý vị và tiếng nói của quý vị trở nên độc đáo.
 
Nguyên Hòa biên dịch

Nguồn: “Your mental dictionary is part of what makes you unique − here’s how your brain stores and retrieves words” của Nichol Castro, được đăng trên trang TheConversation.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.