Hôm nay,  

Viêm Phổi Là Gì? Có Những Loại Viêm Phổi Nào?

03/11/202300:00:00(Xem: 4065)
 
viem phoi
Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có hơn một triệu trường hợp phải vào bệnh viện và khoảng 40,000 người chết vì viêm phổi. (Nguồn: pexels.com)
 
Trong những tuần gần đây, tin tức về việc vận động viên thể dục dụng cụ Mary Lou Retton phải vào bệnh viện vì một loại viêm phổi (pneumonia) hiếm gặp đã khiến nhiều người quan tâm và tò mò về căn bệnh này.
 
Trên thế giới, viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho trẻ em dưới 5 tuổi. Còn ở Hoa Kỳ, đây là nguyên nhân hàng đầu khiến người ta phải vào bệnh viện. Mỗi năm, có hơn một triệu trường hợp phải vào bệnh viện và khoảng 40,000 người chết vì căn bệnh này. Viêm phổi là do tình trạng các túi khí nhỏ trong phổi bị viêm, mức độ trải dài từ nhẹ đến nặng đến mức đe dọa tính mạng. Nếu không được điều trị, viêm phổi có thể dẫn đến những hậu quả chết người, như thiếu oxy và nhiễm trùng máu.
 
Viêm phổi được chẩn đoán như thế nào?
 
Viêm phổi là tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp dưới (lower airways), đặc biệt là các túi khí nhỏ gọi là phế nang (alveoli), đóng vai trò là điểm trao đổi để cung cấp oxy vào máu và loại bỏ carbon dioxide. Có nhiều yếu tố khác nhau có thể gây ra bịnh viêm phổi, bắt đầu ở đường hô hấp trên và sau đó di chuyển vào các phần sâu hơn của phổi.
 
Một số triệu chứng phổ biến của viêm phổi bao gồm ho, khó thở, đau ngực và mệt mỏi toàn thân. Để chẩn đoán viêm phổi, bác sĩ sẽ sử dụng ống nghe kiểm tra nhịp thở của bệnh nhân, và nghe được âm thanh tanh tách đặc trưng, ​​tương tự như âm thanh của giấy bị nhàu. Tianshi David Wu, bác sĩ khoa hô hấp tại Baylor College of Medicine cho biết: “Bấy nhiêu là đủ để chẩn đoán bịnh viêm phổi rồi,” đồng thời nói thêm là nếu bác sĩ vẫn không chắc chắn, họ cũng có thể yêu cầu chụp X-quang phổi để xác nhận chẩn đoán.
 
Bốn loại viêm phổi
 
Viêm phổi có 4 loại chính được phân loại dựa trên nguyên nhân: do nhiễm vi khuẩn (bacterial), do nhiễm vi-rút (viral), do nhiễm nấm (fungal) và do bị nhiễm khuẩn bệnh viện (hospital-acquired).
 
Theo bác sĩ Wu, phần lớn là “không có cách nào để biết liệu ca viêm phổi là do vi khuẩn, vi-rút hay nấm gây ra nếu chỉ khám thôi. Hầu hết các trường hợp bị viêm phổi đều không được chẩn đoán về nguyên nhân gây ra bịnh.” Thay vào đó, các bác sĩ sẽ điều trị dựa trên các triệu chứng của bịnh và tiền sử bệnh của bệnh nhân, sử dụng những thông tin này để đưa ra liệu trình điều trị tốt nhất.
 
Đầu tiên, phổ biến nhất là viêm phổi do vi khuẩn. Bởi vì do vi khuẩn gây ra, cho nên nó có thể dễ dàng điều trị bằng kháng sinh. Sử dụng kháng sinh sẽ giúp giải quyết các triệu chứng, bệnh nhân sẽ bắt đầu cảm thấy khỏe hơn sau vài ngày dùng thuốc. Wu nói thêm: “Điều trị càng sớm càng tốt.” Ngoài ra còn có một loại vắc xin chống lại chủng vi khuẩn gây viêm phổi đáng chú ý nhất; vắc xin này được chuẩn thuận cho một số nhóm nhất định, bao gồm cả bệnh nhân trên 65 tuổi và những người từng mắc một số bệnh lý.
 
Thứ hai là viêm phổi do vi-rút, ít phổ biến hơn. Loại viêm phổi này thường do một loại vi-rút như cúm, SARS-CoV-2 (vi-rút gây ra COVID-19), hoặc RSV (một loại vi-rút đường hô hấp thường gây ra các triệu chứng nhẹ giống như cảm lạnh) gây ra. Viêm phổi do vi-rút thường sẽ bắt đầu ở đường hô hấp trên, sau đó di chuyển xuống phổi.
 
Nhiễm vi-rút cũng có thể khiến chúng ta bị viêm phổi do vi khuẩn, vì nó làm suy yếu hệ thống miễn dịch của chúng ta, khiến ta dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát (secondary infection). Mặc dù không thể điều trị vi-rút bằng kháng sinh, nhưng có những loại vắc-xin có thể giúp ngăn ngừa: vắc-xin cúm hàng năm, vắc-xin COVID và vắc-xin RSV mới cho những người đủ điều kiện tiêm phòng.
 
Thứ ba là viêm phổi do nấm, loại này rất hiếm và thường gặp ở những bệnh nhân có bệnh lý từ trước, chẳng hạn như hệ thống miễn dịch bị suy giảm. Lucas Kimmig, bác sĩ khoa hô hấp tại University of Chicago Medicine, cho biết viêm phổi do nấm có khuynh hướng ảnh hưởng đến những người bị rối loạn tự miễn dịch, các bệnh nhân đang hóa trị hoặc các loại bịnh mãn tính khác có thể ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch. Viêm phổi do nấm cần có một chiến lược điều trị khác, và thường có thể chuyển biến nặng hơn do các biến chứng của cả viêm phổi và các bệnh lý khác.
 
Cuối cùng, viêm phổi do bị nhiễm khuẩn bệnh viện được xếp là một loại riêng biệt vì môi trường bệnh viện thường khiến bệnh nhân tiếp xúc với một nhóm vi khuẩn khác nhau, bao gồm cả các chủng có khả năng kháng lại thuốc kháng sinh. Viêm phổi do bị nhiễm khuẩn bệnh viện có thể ảnh hưởng đến cách các bác sĩ điều trị. Bệnh nhân có nguy cơ mắc một số loại vi khuẩn khác nhau và điều này ảnh hưởng đến việc lựa chọn kháng sinh.
 
Tại sao bệnh viêm phổi lại nghiêm trọng?
 
Điều nguy hiểm ở bịnh viêm phổi là nếu không được điều trị, nó có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng và có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể.
 
Jason Turowski, bác sĩ chuyên khoa hô hấp tại Cleveland Clinic, cho biết: “Nếu có vi khuẩn hoặc vi-rút lây nhiễm vào tới trong phổi, sẽ không có cách nào để loại bỏ nó. Nó có thể lây nhiễm tràn lan khắp nơi.”
 
Điều nguy hiểm nhất của bệnh viêm phổi là nó có thể làm cho phổi bị tổn thương, khiến cơ thể không nhận đủ lượng oxy cần thiết. Tổn thương này thường xảy ra do các tế bào viêm tích tụ trong phế nang, ngăn cản đường vận chuyển oxy đi vào và không cho carbon dioxide được giải phóng ra.
 
Một nguy cơ khác là viêm phổi có thể lan sang các bộ phận khác, chẳng hạn như khoảng trống giữa phổi và thành ngực, hoặc vào mạch máu. Khi nhiễm trùng bắt đầu lan sang các bộ phận khác, nó có thể chuyển thành tình trạng sepsis (nhiễm trùng trong máu). Sepsis có thể nhanh chóng trở nặng và thường dẫn đến tử vong.
 
Ai có nguy cơ bị viêm phổi cao nhất?
 
Những người có nguy cơ bị viêm phổi cao nhất bao gồm trẻ em dưới 5 tuổi, người cao niên trên 65 tuổi và những người từng mắc các bịnh như bịnh tim mạch và bịnh phổi, hoặc những người có hệ thống miễn dịch suy yếu do hóa trị hoặc ghép tạng.
 
Các yếu tố khác bao gồm mắc bịnh tiểu đường hoặc hút thuốc, uống rượu bia nhiều.
 
Wu nói: “Hầu hết các dạng viêm phổi đều ở mức độ nhẹ và sẽ tự khỏi. Nhưng nếu nó nghiêm trọng đến mức phải phải vào bệnh viện thì có lẽ còn có những nguyên nhân khác.”
 
Dấu hiệu cảnh báo viêm phổi đang chuyển biến xấu
 
Đối với những bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh viêm phổi và đang hồi phục tại nhà, có một số dấu hiệu cho thấy họ có thể cần thêm sự chăm sóc y tế: dù đã được điều trị, uống thuốc, nhưng bịnh tình vẫn trở nặng, có thể là sốt không giảm, vẫn còn bị đau ngực hoặc khó thở, thở nhanh – những dấu hiệu cho thấy cơ thể không nhận đủ oxy.
 
Điều quan trọng là hãy liên lạc với bác sĩ ngay khi cảm thấy có điều gì đó khác thường. Nếu được báo sớm, bác sĩ có thể hướng dẫn quý vị; và sau đó nếu tình trạng quý vị trở nên tồi tệ hơn, họ có thể giúp chuẩn bị sẵn mọi thứ khi quý vị cần phải vào bệnh viện.
 
Nguồn: “There are actually 4 types of pneumonia. These are the differences” được đăng trên trang Nationalgeographic.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
Tạp chí Consumer Reports vừa công bố phát hiện rằng nhựa vẫn hiện diện “rộng rãi” trong thực phẩm bất chấp các nguy hại về sức khỏe, và kêu gọi các cơ quan chức trách đánh giá lại mức độ an toàn của nhựa khi tiếp xúc với thực phẩm trong quá trình sản xuất. Tổ chức vô vụ lợi này cho biết rằng 84 trong số 85 mẫu thực phẩm ở siêu thị và thức ăn nhanh mà họ vừa kiểm tra gần đây có chứa “chất hóa dẻo” (plasticizers) được gọi là phthalates, một loại hóa chất được sử dụng để làm cho nhựa bền hơn.
Cách đâu 30-40 năm, lúc người tỵ nạn Việt mới định cư ở Mỹ và bắt đầu làm quen với các tập tục kể những tập quán về y tế ở Mỹ, trong y giới Mỹ cũng như các nước tây phương khác đang tranh cãi rất nhiều về chỉ định có nên cắt bao quy đầu theo thông lệ (routine circumcision) cho trẻ em sơ sinh hay không. Thuật ngữ “circumcision”, gốc latinh “circumcisio”. Từ "cắt bao quy đầu" xuất phát từ các từ Latin circum và caedo (circum: “xung quanh”; caedo: “tôi cắt”), có nghĩa đen là "cắt xung quanh". Từ epitome trong tiếng Hy Lạp cũng có nguồn gốc từ gốc có nghĩa là "cắt" hoặc "vết mổ". Trong tiếng Hebrew (Do Thái), phép cắt bao quy đầu được gọi là “peritomy”, xuất phát từ tiếng Hy Lạp peritomy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.