Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Luật Báo Chí Hoa Kỳ Và Giới Hạn Của Quyền Tụ Do Báo Chí

17/09/200700:00:00(Xem: 9722)

Tu Chính án số 1 của Hiến Pháp Hoa kỳ xác địng rằng “Quốc Hội không được làm luật để  ngăn cấm hoặc giảm bớt 1) tự do ngôn luận, 2) tự do báo chí và 3) tự do tụ họp biểu tình trong ôn hòa.  Như vậy, các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp biểu tình trong ôn hòa là những quyền hiến định được luật pháp bảo vệ và tôn trọng. Sau khi Hiến Pháp Hoa kỳ được đại biểu cuả 13 tiểu bang đầu tiên thông qua ngày 17 tháng 9 năm 1787 , bản Hiến Pháp được gửi tới quốc hội cuả 13 tiểu bang để phê chuẩn. Nếu 2/3 số tiểu bang tức là 9 tiểu bang phê chuẩn thì Hiến Pháp Hoa kỳ có hiệu lực chấp hành.

 Tuy Hiến Pháp Hoa Kỳ được quốc hội 9 tiêu bang Hoa Kỳ phê chuẩn vào ngày 25 tháng 6 năm 1788 nhưng các đaị biểu tiêu bang thấy rằng Hiến Pháp Hoa kỳ chưa có điều khoản nào nói về nhân quyền và quyền dân sự cho nên tới năm 1791 dư luật về nhân quyền gồm 10 tu chính án (Bill of Rights) mới được chính thức đưa vào Hiến Pháp Hoa kỳ.  Những quyền tự do căn bản như tự do tôn giáo, tự do hôi họp, tự do ngôn luận và tư do báo chí  được Thomas Jefferson, người viết Tuyên Ngôn Độc lập cuả Hoa kỳ và James Madison, người viết Tu chính án số 1 cho rằng  là  quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp là bất khả xâm phạm còn Benjamin Franklin, người soạn thảo bản Hiến Pháp Hoa kỳ cho rằng những quyền tự do ấy cần xác định một giới hạn.

Chính quyền do Hiến pháp tạo lập có nhiệm vụ bảo vệ sư an bình xã hội và phúc lợi của mọi người mà phần mở đầu của bản Hiến Pháp Hoa Kỳ đã nhấn mạnh. Do đó, rất nhiều những nghị định và sắc lệnh của cơ quan hành pháp từ cấp thành phố đến tiểu bang và Liên bang đã được ban hành trong mục đích đó. Một số các biện pháp hành chánh giới hạn những quyền tự do căn bản đã bị Tối Cao Pháp Hoa kỳ viện vô hiệu hóa vì trái với Hiến pháp.  Hơn 200 năm lập quốc của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chỉ có 168 sắc luật và nghị định của hành Pháp bị coi là bất hợp hiến trong số hàng ngàn biện pháp hành chánh được ban hành..

Sau đây, chúng tôi xin trình bầy những quyền hiến định như tự do ngôn luận, tự do hội họp biểu tình ôn hoà và tự do báo chí vì những quyền đó được hiến pháp bảo vệ qua sự giám sát của các toà án mà đứng đầu là Tối Cao Pháp Viện.

I) Tự do ngôn luận.

Tự do ngôn luận là quyền hiến định mà mọi công dân Hoa kỳ được quyền hành xử kể cả phát biểu những ý kiến cá nhân khác biệt với công luận miễn là những ngôn ngữ đó không có tính cách vu cáo, mạ lỵ, tục tằn và vô đạo đức. Những phát biểu chỉ trích chính quyền về chương trình và chính sách của chính phủ cũng như những hành động tham nhũng và lạm quyền của các viên chức chính quyền không những được lắng nghe mà còn được khuyến khích nếu những ý kiến đó chính xác và trung thực. Tự do ngôn luận để phát biểu về sự ủng hộ hoặc phản đối một tư tưởng của ý thức hệ được hoàn toàn tôn trọng với điều kiện những ngôn ngữ phát biểu đó không có tính cách tuyên truyền và xúi giục bạo động gây xáo trộn sự an bình xã hội nhất là những ngôn ngữ đó có phương hại dến nền an ninh quốc gia. Ý thức hệ cộng sản đã được thử nghiệm ở Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu gần một thế kỷ cho thấy rằng đó là một ý thức hệ không tưởng và lỗi thời nên chế độ độc tài đảng trị đó đã bị nhân dân Nga và Đông Âu dẹp bỏ.

Tại Hoa Kỳ, Quốc hội và Chính quyền Liên bang đã ban hành những đạo luật và nghị định để ngăn chặn sự phổ biến và những hoạt động tuyên truyền cuả đảng cộng sản Mỹ. Quốc Hội Hoa Kỳ đã ban hành đạo luật The Smith Act năm 1940 , đạo luật The Taft-Hartley Act năm 1947 và đạo luật The Internal Security Act năm 1950  để cấm chỉ những hoạt động của đảng cộng sản Hoa Kỳ trong việc tuyên tuyền xúi giục quần chúng đứng lên làm những cuộc cách mạng võ trang và thành lập một chính phủ vô sản qua những truyền đơn và báo chí của cộng sản. Tổng thống Truman với chủ thuyết ngăn chặn làn sóng cộng sản (the Containment doctrine) đã ban hành sắc lệnh số 9835 ra ngày 22/3/1947 (The Executive order 9835)  để tìm bắt những phần tử cộng sản xâm nhập vào các cơ quan công quyền và các tổ chức quần chúng. Kết quả là từ tháng 3 năm 1947 đến tháng 12 năm 1952 hơn 6 triệu người bị điều tra và vào khoảng hơn 500 người bị đuổi khỏi sở làm vì tình nghi là đảng viên cộng sản.

 Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ án Dennis v United States  năm 1951 đã phán quyết rằng bộ Tư Pháp Hoa kỳ vì có quyền truy tố ông Eugene Dennis là lãnh tụ đảng cộng sản và 12 đảng viên trong uỷ ban trung ưong đảng cộng sản Hoa kỳ vì lý do an ninh quốc gia. Ông Dennis và 12 tòng phạm bị kết án mỗi người 5 năm tù và phạt tiền mỗi người 10,000 đô la vì đã đăng các bài viết xúi giục võ trang nổi loạn chống chính phủ trong tờ nhật báo cộng sản tên là The Daily Worker. Đây là một bằng chứng rằng báo chí ở Hoa kỳ không có quyền tự do báo chí tuyệt đối như mọi người tưởng.

 II) Tự do Hội họp và Biểu tình ôn hòa và Trật tự.

Tu chính án số 1 của hiến pháp Hoa kỳ xác nhận quyền tụ họp biểu tình trong ôn hoà và trật tự là quyền hiến định được luật pháp bảo vệ trừ phi những người biểu tình xử dụng nơi công cộng như công viên và hè phố có những hành động làm mất trật tự công cộng chẳng hạn gây bế tắc xe cộ giao thông. Khi chính quyền có những biện pháp hành chánh kiểm soát việc xử dụng nơi công công cộng của người biểu tình chỉ nhắm mục đích là bảo đảm trật tự công cộng và sự an bình xã hội mà thôi. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ công nhận một số biện pháp hành chánh của chính quyền nếu biện pháp của chính quyền có những lý do chính đáng để bảo đảm trật tự cộng cộng và tự do tụ họp biểu tình.

 Trong vụ án Hague v Congress of Industrial Organizations năm 1939, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã tuyên phán rằng nghị định ký bởi ông thị trưởng Hague của thành phố Jersey City là bất hợp hiến vì nghị định này đòi các người biểu tình phải xin giấy phép của cơ quan công lực trước khi biểu tình ở công viên hay trên hè phố của thành phố. Trong một vụ án khác Police Department of the City of Chicago v Mosley năm 1972, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ  nghị án rằng Sở cảnh sát thành phố Chicago đã đối xử không công bằng với ông Mosley do Tu chính án số 14 quy định rằng mọi người được pháp luật bảo vệ công bằng như nhau. Những người biểu tình khác không bị cấm khi họ đi biểu tình trước đây trên cùng một quãng hè phố nhưng ông Mosley lại bị cấm biểu tình khi ông mang tấm bảng đi trên hè phố để phản đối một trường học gần đó đã không tuyển dụng ông vì kỳ thị màu da.

Những cuộc biểu tình liên tiếp cả ngày lẫn đêm trong gần 2 tháng trời trước cửa tiệm bán Video trong thành phố Wesminster vì ông chủ nhân Trần Trường đã treo cờ đỏ sao vàng và hình Hồ chí Minh trong tủ kiếng của tiệm hướng ra đường phố nên những người Việt tỵ nạn cộng sản biểu tình có lý do chính đáng để phản đối hành động có tính cách khiêu khích những người tỵ nạn. Do vậy, hàng trăm cảnh sát cuả thành phố Wesminter túc trực liên tiếp 57 ngày đêm để phòng chống bạo động mà không can thiệp để giải tán biểu tình vì cuộc biểu tình diễn ra trong trật tự và ôn hòa. . Những cuộc biểu tình của người Việt tỵ nạn cộng sản không những nói lên lập trường chính nghĩa chống cộng sản độc tài mà còn nói thay cho hơn 80 triệu người Việt nam sống trong nước đang bị nhà cầm quyền cộng sản tước đoạt hết quyền sống tự do của một con người.

  Khi Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở Hoa Kỳ đi biểu tình chống một tờ báo đăng bài ca tụng Hồ chí Minh, thì cuộc biểu tình đó chính đáng. Một tờ báo Việt ngữ phát hành trong cộng đồng Việt thì tờ báo đó có bổn phận phát biểu nguyện vọng của cộng đồng và bênh vực quyền lợi của cộng đồng vì báo chí  là hộp thư dân ý và là loa phóng thanh của cộng đồng. Nếu tờ báo đi ngược với nguyện vọng cộng đồng vì một động cơ chính trị hay phục vụ cho lợi ích một thiểu số chống báng cộng đồng thì hiển nhiên tờ báo đó sẽ bị cộng đồng phản đối và tẩy chay.

 Sau các buổi biểu tình của những người Việt tỵ nạn cộng sản trên hè phố đuờng Main của thành phố Garden Grove, một người nói là đại diện của các chủ tiệm trên đường Main ra trước Hội đồng thành phố Garden Grove để yêu cầu thành phố ban hành những quyết định hành chánh cần thiết để giảm bớt sự thiệt hại thương mại của các tiệm buôn bán vì khách hàng đã bớt tới khu vực này.  Luật sư của thành phố Garden Grove đã trả lời rằng cuộc biểu tình chỉ diễn ra có  2 tiếng đồng hồ vào mỗi chiều thứ bảy trên hè phố của thành phố mà nơi đó là đất công cộng nên thành phố không có lý do nào để cấm các buổi biểu tình ấy.

Khi người biểu tình tự do tụ tập và biểu tình tuần hành trên hè phố và công viên, cơ quan công lực cảnh sát chỉ can thiệp nếu người biểu tình dùng máy loa quá lớn hoặc gây cản trở  xe cộ lưu thông vì tắc nghẽn bởi cuộc biểu tình. Trong một vụ kiện: Grayned v Rockford  năm 1972, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ  xác định tính hợp hiến của một nghị quyết thành phố cấm bất cứ người biểu tình nào tụ tập trong khu đất công hay đất tư gần truờng học trong khi có lớp học, vì cuộc biểu tình dùng loa phóng thanh với âm thanh lớn có thể gây trở ngại cho sự học hành của các học sinh.

Trong vụ kiện khác: Hill et al v Colorado năm 1993, Tối Cao Pháp Viện Hoa kỳ đã xác nhận một giới hạn nhỏ về quyền của  những cá nhân đối tượng không muốn người biểu tình tới gần để phản đối hoặc làm phiền nhiễu. Đây là cuộc biểu tình chống phá thai của một bệnh viện trong thành phố Colorado và phản đối các bác sĩ và y tá đi qua đám biểu tình để ra vào nhà thương. Thành phố Colorado ra nghị quyết quy định những người biểu tình chỉ được tụ tập cách cổng nhà thương 100 feet và cách các bác sĩ và y tá 8 feet khi họ đi qua đám biểu tình. Tối Cao Pháp viện Hoa kỳ xác nhận rằng những người biểu tình có quyền tụ tập biểu tình nhưng cách cổng nhà thương 100 feet và cách xa các bác sĩ và y tá qua lại là 8 feet nhưng được tự do tiếp xúc với các người bộ hành khác qua laị..Tối Cao Pháp Viện xác nhận quyền tự do biểu lộ (the freedom of expression) nên những người biểu có quyền dùng loa để phát biểu và mang các biểu ngữ chống đối phá thai  bất luận các biểu ngữ có cở lớn nhỏ khác nhau.

 III) Tự do Báo chí

Tự do báo chí được tu chính án số 1 xác nhận như tự do ngôn luận và tự do hội họp biểu tình trong ôn hòa và trật tự. Vì vai trò truyền thông của báo chí có thể gây ảnh huởng sâu rộng trong quần chúng nên báo chí có thể hướng dẫn dư luận một cách trung thực vì lợi ích chung của cộng đồng. Nếu báo chí không thông tin trung thực vì bị mua chuộc bởi thế lực tài chính hay chính trị thì tờ báo đó là một mối nguy hiểm cho phúc lợi công đồng và là một đe dọa tiềm ẩn cho nền an ninh quốc gia. Trước hết, người viết báo và chủ bút của tờ báo phải tự kiểm soát lương tâm nghề nghiệp của mình để hành nghề một cách lương thiện, trung thực vì lợi ích công cộng và an ninh  quốc gia. Nghiệp đòan ký giả Hoa Kỳ và hội các chủ báo Hoa kỳ đều trân trọng tuân thủ bản nội quy về đạo đức nghề nghiệp (Codes of ethics). Họ tự nguyện cam kết rằng mục tiêu của báo chí là thông tin chính xác và trung thưc để giữ chữ tín với độc gỉa.

Báo chí Hoa kỳ được coi là đệ tứ quyền bất thành văn trong hiến pháp trong khi đó 3 quyền kia là quyền lập pháp, quyền tư pháp và quyền hành pháp. Đệ tứ quyền này là hộp thư dân ý, là người phát ngôn bán chính thức của dư luận cộng đồng để ủng hộ hoặc phản đối bất cứ chính sách, chương trình và luật lệ nào của chính phủ. Chính phủ Hoa kỳ là chính phủ của dân, do dân và vì dân nên chính phủ và quốc hội luôn luôn lắng nghe những ý kiến xây dựng chính đáng và hoan nghênh những cao kiến đóng góp vì sự hưng thịnh của đất nước và dân tộc Hoa Kỳ.

 Báo chí Hoa kỳ do tư nhân làm chủ có ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ trong quần chúng chứ không phải là công cụ tuyên truyền cuả nhà nước như chúng ta thấy trong các chế độ độc taì đảng trị cộng sản. Cơ chế dân chủ Hoa kỳ gồm quốc hội, hành pháp và tư pháp vì mục đích bảo đảm nền an ninh quốc gia và phúc lợi của toàn dân nên chính quyền luôn đề cao cảnh gíác với những biện pháp để ngăn chặn báo chí không thực thi đúng vai trò truyền thông trung thực và lương thiện của mình.  Do vậy, chính quyền sẵn sàng can thiệp trừng phạt nếu baó chí vi phạm vào các lãnh vực sau đây:

1) Báo chí đăng bài viết có phương hại dến nền an ninh quốc gia; vụ án Near v State of Minnesota ex rel. Olson (1931)  và  vụ án United States v  O’Brien  (1968)

2) Báo chí đăng bài viết tán trợ gián tiếp xúi giục bạo động gây bất ổn xã hội; vụ án  Brandenburg v Ohio (1969) và vụ  án Virginia v Black (2003)

3) Báo chí đăng bài viết miệt thị và kỳ thị tôn giáo và chủng tộc; vụ án Personnel  Administrator of Massachusetts v Feeney (1979) và vụ án Harris v  Forklift Systems, Inc, (1993) .

4) Báo chí đang bài viết bôi nhọ cá nhân hay một tập thể; vụ án  New York Times company v Sullivan, (1964) và vụ án Gertz v Welch (1974)

5) Baó chí đăng bài viết xâm phạm vào đời tư của một cá nhân; vụ án Wolston v Reader’s Digest Association (1979) và vụ án Dun & Bradstreet Inc v Greenmoss Builders, Inc (1985 )

6) Báo chí đăng bài viết có ảnh hưởng xấu cho xã hội; vụ án  Cohen v California (1971) và vụ án  New York v Ferber  (1982)

7) Báo chí đăng bài viết gây một nguy hiểm rõ ràng và tức thời cho cộng đồng; vụ án   Frohwerk v United States (1919) và vụ án Feiner v New York ( 1951)

8) Báo chí đăng bài viết với ngôn ngữ thô tục, vụ án Cohen v California (1971) và vụ án Federal communications commission v Pacifica Foundation (1978)

9) Báo chí đăng bài viết gây công phẫn dư luận; vụ án  Chaplinsky v New Hampshire (1942 ) và vụ án  Street v New York (1969)

Chúng ta hy vọng các tờ báo Việt ngữ trong cộng đồng Việt tỵ nạn không mắc phải những lầm lỗi kể trên nếu hành nghề đúng với lương tâm nghề nghiệp. Nếu chúng ta giữ được lời dạy “Lục hoà” của triết lý Phật giáo thì làm gì còn đố kỵ và tranh chấp. Sáu điều hòa đồng đó là:

1- Thân hòa đồng trụ

2-Khẩu hòa vô tranh

3-Ý hòa đồng giải

4-Kiến hòa đồng phân

5-Lợi hòa đồng chia

6-Giới hòa đồng tu./.

Political Analyst

California, September 8, 2007

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
Những em bé tò mò, lần đầu tiên ngước mắt lên trời, thấy trăng sao, lập tức nảy sinh ước muốn thám hiểm cõi mênh mông ở cuối, ở xa hơn tầm mắt mình. Lớn lên, ý thức được kích thước Vũ Trụ và giới hạn của đời người, biết đường dài dẫn tới một tinh cầu có thể đòi hỏi sự nối tiếp của muôn triệu kiếp người. Tỉnh ra và thất vọng. Ước muốn chỉ còn là ước mơ vương vấn nơi những truyện khoa học giả tưởng huyền hoặc vẽ ra hình ảnh một con tàu kỳ diệu: một ngày kia khoa học tiến bộ, hành khách đáp phi thuyền du lịch tối tân sẽ lọt vào cõi thời gian ngừng trôi, có cuộc đời dài vô tận, tha hồ chu du khắp cùng vũ trụ.
Như vậy, Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản là của riêng ông Hồ và đảng CSVN. Nhân dân chưa bao giờ có cơ hội bỏ phiếu hay đồng thuận dưới bất kỳ hình thức trưng cầu ý kiến nào về sự chọn lựa này. Do đó, không làm gì có chuyện nhận dân “đã lựa chọn” nó mà sự thật là đảng CSVN đã áp đặt và tròng vào cổ người dân thứ Chủ nghĩa ngoại lai này. Đó là lý do tại sao đã có chống đối về mối họa Cộng sản từ bên trong hàng ngũ đảng và của một bộ phận không nhỏ quần chúng thuộc mọi thành phần trong xã hội.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.