Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đảng Csvn Khó Xử: Tư Doanh Tại Việt Nam

02/09/200300:00:00(Xem: 17929)
Trong Hội nghị cấp Bộ trưởng của Diễn đàn Kinh tế Á châu Thái bình dương APEC sẽ họp tuần này tại Bangkok, việc khuếch trương các tiểu doanh thương trong lãnh vực tư sẽ đặc biệt được đưa vào nghị trình thảo luận.
Dưới đây là cuộc thảo luận giữa Đài RFA với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về khu vực tư doanh tại Việt Nam.
Hỏi: Thưa ông, sau khi tiến hành đổi mới kinh tế, chính quyền Việt Nam đã chấp nhận hình thái kinh tế nhiều thành phần, trong đó, giá trị của thành phần tư doanh bắt đầu được công nhận. Từ đó đến nay, tình hình đã tiến triển ra sao"
-- Nếu nói cho ngắn gọn thì tiến triển khả quan ngoài sự dự liệu của nhà nước vì thực chất thì nhà nước không dự liệu như vậy và có lẽ cũng chưa muốn như vậy. Thành quả nếu có của công cuộc đổi mới chính là nhờ thành phần tư doanh hơn là khu vực quốc doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Chúng ta không quên rằng từ 10 năm nay, số doanh nghiệp nhà nước đã giảm phân nửa và chủ yếu giảm vì có đến phân nửa trong số 12.000 công ty đã lặng lẽ đóng cửa vì bị phá sản, phần còn lại thì gần phân nửa bị lỗ lã khó khăn, việc cổ phần hóa, thực chất là tư nhân hóa, thì còn quá chậm. Trong khi đó, kinh tế vẫn tăng trưởng đều với tốc độ cao, thành quả ấy là nhờ khu vực ngoài quốc doanh.
Hỏi: Phải chăng vì vậy mà chính quyền Việt Nam cuối cùng cũng chú ý đến việc phát triển khu vực tư, với bộ Luật Doanh nghiệp sau cùng đã được biểu quyết và áp dụng"
-- Vâng, và có ba yếu tố có thể giải thích sự kiện này. Thứ nhất là, về cơ bản, công cuộc đổi mới là phản ứng tự phát của người dân khi chính quyền bị bó tay trước cuộc khủng hoảng kinh tế vì đường lối quản lý tập trung kế hoạch. Chính quyền ưa nói đến công lao của đảng trong việc đổi mới, thực tế thì chính là sức lao động và phản ứng biến báo linh động của người dân mới tạo ra kết quả đáng mừng này. Thứ hai là trong khi chính quyền tìm cách gom góp phương tiện để cứu vãn sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước và còn chủ quan duy ý chí lập ra những Tổng công ty theo mô hình các chaebols của Hàn quốc thì tư doanh lặng lẽ phát triển sản xuất và mở rộng tầm hoạt động, khiến chính quyền phải chạy theo mà làm luật, theo đúng quy luật “người dân đi trước nhà nước chạy sau”. Yếu tố thứ ba là ảnh hưởng của các tổ chức cấp viện, khi viện trợ cho Việt Nam đã khuyến cáo nhà nước là phải phát triển tư doanh và tạo ra một sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần doanh nghiệp. Cuối cùng thì chính quyền đã phải làm như mình nói, là miễn cưỡng cho phép thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được hoạt động dễ dàng hơn xưa.
Hỏi: Nhưng, hiển nhiên là giới hữu trách về kinh tế tại Việt Nam cũng phải thấy giá trị khách quan của khu vực tư doanh chứ"
-- Tôi thiển nghĩ là các quan chức có liên hệ đến sinh hoạt kinh tế của người dân đều biết vậy, nhưng họ không có toàn quyền quyết định. Những người có tinh thần tiến bộ nhất thì vạch ra định hướng phát triển đồng đều các thành phần công và tư, nhưng những người có thẩm quyền về chính trị thì quan tâm đến quyền lực và quyền lợi của đảng nên quyết định về tốc độ chuyển hướng đó nhanh hay chậm. Thí dụ như họ phải chấp nhận cho tư doanh phát triển vì tư doanh là thành phần tuyển dụng công nhân nhiều nhất để đáp ứng yêu cầu là tìm ra hơn một triệu 200 ngàn công việc làm một năm vì đà gia tăng dân số. Lý do đơn giản là vì lãnh đạo vẫn bị trói buộc trong quan điểm lỗi thời là nhà nước chủ động phát triển kinh tế và hiện đại hóa hệ thống sản xuất, các doanh nghiệp nhà nước đều ưu tiên đầu tư vào kỹ thuật thâm dụng tư bản, tức là sử dụng nhiều máy móc thiết bị nên khả năng tạo ra công việc làm của khu vực nhà nước không đáp ứng nổi yêu cầu nhân dụng. Ngoài thí dụ về nhân dụng, mình còn thấy rất nhiều đóng góp khác của tư doanh.
Hỏi: Ông nhìn thấy sự việc đó qua những khía cạnh nào"
-- Chúng ta hãy mở báo chí trong nước ra mà xem. Luôn luôn ở trang nhất ta thấy những cột báo dài với hình ảnh rực rỡ là tin tức về các giới chức lãnh đạo đi làm việc này, thăm viếng vùng kia. Và chúng ta vẫn thấy nguyên vẹn lối đặt tựa rất kêu rất nổ như khẩu hiệu thời xưa về việc làm của quan chức nhà nước. Nhưng bên dưới và ở trang trong, ta thấy rất nhiều tin tiêu cực về thành quả của quốc doanh, với nhiều cách giải thích khiên cưỡng. Ngoài ra, những tin tức kinh tế lạc quan nhất thì đều từ khu vực ngoài quốc doanh mà ra. Thí dụ như tháng trước, khi nguy cơ nhập siêu gia tăng vì nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, ta thấy phần doanh thu ngoại tệ nhờ xuất cảng của các cơ sở ngoài quốc doanh lại chiếm tỷ lệ cao nhất. Gần đây hơn, thống kê về sản xuất công nghiệp trong tám tháng đầu năm cho thấy một mức tăng trưởng bình quân là gần 16%, trong đó phần của công nghiệp ngoài quốc doanh tăng đến hơn 18%, riêng trong tháng tám vừa qua, tăng gần 20%. Ngược lại, mình thấy rằng phần đóng góp của các tổng công ty vào ngân sách nhà nước vẫn còn rất thấp và gia tăng chủ yếu là nhờ giá dầu thô lên cao so với năm ngoái.

Hỏi: Phần sản xuất của tư doanh vì vậy vẫn lặng lẽ chiếm một tỷ lệ cao hơn trong sản lượng toàn quốc"
-- Vâng, và còn có thể cao hơn nữa nếu thực sự được giải phóng. Tôi còn nhớ cách đây mấy năm tại một hội nghị hằng năm của các cơ quan viện trợ cho Việt Nam, gọi là Nhóm Tư vấn của Ngân hàng Thế giới, năm đó triệu tập tại Paris, khi được báo chí quốc tế hỏi về tỷ trọng của khu vực quốc doanh trong sản xuất, vị Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư lúc đó lúng túng chưa biết trả lời sao thì Giám đốc Thường trú của Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, thời đó đã đỡ lời, rằng doanh nghiệp nhà nước đóng góp đến 40% vào tổng sản lượng, và còn nhắc rằng tỷ trọng đó cũng bằng với hệ thống quốc doanh của Pháp. Ông ta quên không nói là cơ chế kinh tế của Pháp dù sao vẫn coi tư doanh là chính và hệ thống công quản hay quốc doanh của Pháp phải sinh hoạt theo quy luật thị trường, là điều chưa có tại Việt Nam. Ngày nay, nếu nhìn thấy sự sa sút của các công ty quốc doanh Pháp, có lẽ viên chức này sẽ bớt chống chế cho quan chức Hà Nội. Thực tế tại Việt Nam thì khu vực tư doanh đang tiến và tiến đến đâu thì nhà nước lùi đến đó.
Hỏi: Ông cho rằng chính quyền Việt Nam chỉ miễn cưỡng lùi bước để khu vực tư doanh mở rộng phạm vi hoạt động"
-- Hiển nhiên như vậy và một cách định kỳ, nghĩa là một năm đôi ba lần trong các hội nghị của các cơ quan cấp viện hay các định chế tài chính quốc tế, Việt Nam vẫn được nhắc nhở là phải tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng cho khu vực tư. Cụ thể là cho đến nay, chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới được cấp phát tín dụng ưu đãi, với lãi suất nhẹ và điều kiện bảo đảm, để đương tài sản tương đối dễ dàng. Tuyệt đại đa số hoạt động ngân hàng hiện vẫn do bốn ngân hàng thương mại quốc doanh đảm đương và các ngân hàng này dồn vốn cho các doanh nghiệp nhà nuớc vay. Khi Việt Nam được viện trợ chính thức, gọi là ODA, thì đối giá bạc Việt Nam của các khoản viện trợ đó cũng được dồn cho các doanh nghiệp nhà nước. Tư doanh phải vay vốn của các công ty thuê mua tài chính với lãi suất cắt cổ. Trong lãnh vực trước đây vẫn là độc quyền của nhà nước là xuất khẩu, tư doanh vẫn chưa được tự do thông tin để nắm vững tình hình thị trường và trong buớc đầu mở mang ra bên ngoài thì vẫn chưa được yểm trợ về chi phí tiếp cận thị trường. Nói chung, chức năng của các cơ quan chuyên môn của nhà nước chưa được minh định là để ưu tiên phục vụ tư doanh, cũng bình đẳng như quốc doanh. Nhìn ra ngoài thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn kém vì tư doanh phải xếp hàng sau quốc doanh là thành phần chậm lụt nhất, dù có bộ máy yểm trợ của nhà nước ở đằng sau.
Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, liệu Việt Nam có kịp thay đổi quan niệm so với các nước khác trong vùng không"
-- Tôi không mấy lạc quan về khả năng tự giác của chính quyền, nhưng lại tin tưởng rằng yếu tố khách quan bên ngoài sẽ khiến Việt Nam phải thay đổi nhanh hơn. Trong trung hạn, ta có viễn ảnh Việt Nam muốn gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới WTO nào năm 2005 này nên sẽ phải giải phóng tư doanh. Trước mắt thì Việt Nam đã có những cam kết về cải tổ với các cơ quan viện trợ. Do khuyến cáo của các cơ quan cấp viện, Việt Nam có thành lập Quỹ Hỗ trợ Phát triển và đã được viện trợ về tài chính lẫn kỹ thuật để cải cách thể chế kinh tế hầu phát triển môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Nghĩa là lộ trình đã có, bản đồ đã vẽ, còn lại là chính quyền có muốn giải quyết những ách tắc do chính sách và bộ máy hành chính của mình gây ra hay không. Tuần này, Thủ tướng Thái Lan cũng đề nghị đưa vào nghị trình của hội nghị các Bộ trưởng Tài chính trong Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương đề mục thảo luận là yểm trợ phát triển tư doanh. Việt Nam có thể học được nhiều ở hội nghị này để không bị thua sút các nước trong khu vực và để người dân thực sự đóng góp vào việc cải thiện sinh hoạt kinh tế.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nơi trạm xe buýt cuối ngày, chuyến xe cuối cùng chuẩn bị lăn bánh. Những người đến trễ và những người muốn ngủ lại nơi băng ghế chờ đợi, sẽ bị bỏ lại. Cơ hội tái diễn cho một chuyến xe khác, có thể là ngày hôm sau. Nhưng hôm sau, nào ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta cần phải bước qua, bỏ lại lịch sử phía sau, bằng không sẽ bị bỏ lại bên lề lịch sử.
Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.