Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khải Đi Mỹ, Nước Việt Đi Về Đâu?

01/06/200500:00:00(Xem: 9306)
Tuần qua, Phủ Tổng thống Hoa Kỳ thông báo là Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải sẽ thăm Hoa Kỳ tháng 6 và chuyến thăm đánh dấu 10 năm bình thường hóa ngoại giao giữa hai nước. VN có lợi gì"
Đài RFA đã phỏng vấn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về biến cố này, do Việt Long thực hiện hôm 31-5 sau đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trong chương trình chuyên đề tuần này, chúng ta sẽ cùng trao đổi về chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của ông Khải. Trước hết, xin ông cho biết ấn tượng chung của ông về biến cố này.
-- Ở trong lãnh vực truyền thông, chúng ta chú ý trước tiên đến việc chuyến viếng thăm của ông Khải được loan báo ra ngoài như thế nào, sau đó ta mới lần lượt đi vào nội dung và kết quả.
Đầu tiên là các tin tức về chuyến thăm viếng đều xuất phát từ Hoa Kỳ, sớm nhất vào trung tuần tháng Tư do những nguồn tin được gọi là từ giới chức ngoại giao Mỹ. Sau đó, đương kim Đại sứ Mỹ tại Hà Nội là ông Michael Marine nhiều lần đề cập tới việc ấy, như khi trả lời phỏng vấn của đài Á châu Tự do hôm 25 hay tại cuộc tiếp xúc với một số nhân sĩ và truyền thông Việt Nam ở miền Đông Hoa Kỳ hôm 27 vừa qua. Trong khi ấy, Hà Nội lại rất kín tiếng, mãi đến hôm 28 mới loan tải, tôi xin trích nguyên văn "Mỹ hoan nghênh chuyến thăm của Thủ tướng Phan Văn Khải". Đó là bản tin ngắn do tờ Nhân Dân loan tin của Thông tấn xã Việt Nam, trích dẫn nguồn tin của Agence France Press, một thông tấn xã Pháp!
Xuyên qua sự việc ấy, tôi có nhận xét là phía Hoa Kỳ coi việc này là bình thường và giới hữu trách công khai thảo luận vậy mà phía Hà Nội lại giữ kẽ. Nhật báo của đảng loan tin của một thông tấn xã trích dẫn một thông tấn xã Pháp, với ấn tượng là Mỹ hoan nghênh chuyến thăm viếng của Thủ tướng Việt Nam. Về việc này, ta có hai giả thuyết. Một là lãnh đạo Việt Nam vẫn còn mặc cảm, nhẹ thì ta nói là "tình trong như đã mặt ngoài còn e", hoặc "Mỹ cần ta chứ ta không cần Mỹ," đó là lề lối ngoại giao nhược tiểu và thiếu tự tin. Hai là chính Thủ tướng Phan Văn Khải cũng không muốn thổi phồng việc này, phải ra vẻ dửng dưng vì sợ rách việc.
Vì sao phải giữ kẽ
Hỏi: Ông có nhận xét ly kỳ thật, nhưng vì sao lại có hiện tượng giữ kẽ như vậy"
-- Tôi nhớ lại một thí dụ bản thân đã chứng kiến. Tháng Chín năm 1999, tôi là đặc phái viên của đài Á châu Tự do tháp tùng phái đoàn báo chí của Tổng thống Bill Clinton tham dự thượng đỉnh của Diễn đàn APEC tại New Zealand. Năm đó ta sở dĩ chú ý đến hội nghị ấy vì chờ đợi là nhân cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng Khải và Tổng thống Clinton, đôi bên sẽ giám sát lễ ký kết Hiệp định Thương mại Mỹ-Việt. Tôi nhớ là khi mình bày tỏ sự hoài nghi về việc ký kết, các giới chức Mỹ như Cố vấn An ninh Samuel Berger, Cố vấn Kinh tế Gene Sperling và Phát ngôn viên John Lockhart của Tổng thống Clinton tỏ vẻ ngạc nhiên, thậm chí khó chịu. Hôm đó là Thứ Sáu mùng 10, qua Thứ Hai 13, họ tỏ vẻ lúng túng vì Hà Nội không chịu ký, do lãnh đạo ở nhà chưa đạt nhất trí về một điều đã muốn và theo đuổi từ 10 năm. Tôi đoán là ông Khải khi đó còn lúng túng hơn nữa. Vì vậy bây giờ mới có chuẩn bị một phản ứng rất dè dặt.
Thành quả bang giao Việt-Mỹ
Hỏi: Thì mãi sau đó bản Hiệp định mới được ký kết và có đem lại lợi ích cho Việt Nam hơn là cho Hoa Kỳ. Nhân đây, xin ông tổng kết sơ lược về thành quả bang giao giữa đôi bên.
-- Sau 10 năm sau bình thường hóa bang giao, Hoa Kỳ cố xem Việt Nam là một xứ bình thường, đôi bên có đạt nhiều lợi ích chung mà cũng có loại vấn đề cần thảo luận. Phía Việt Nam thì chưa, vì lãnh đạo Hà Nội có lối suy nghĩ khác, và khác với lối suy nghĩ của người dân. Người dân đều thấy bang giao với Mỹ có lợi. Ba tháng đầu năm nay xuất siêu được một tỷ ba, là bán một tỷ rưỡi, mua có hơn hai trăm triệu. Cả năm ngoái xuất siêu được hơn bốn tỷ, năm kia hơn ba tỷ, năm 2002 gần hai tỷ, năm 2001 gần 600 triệu. Suốt thời gian ấy, Việt Nam còn được Mỹ viện trợ nhiều về giáo dục, kỹ thuật, y tế xã hội. Chính đảng viên cán bộ cũng thấy ra mối lợi cụ thể cho họ khi Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may qua Mỹ. Ngược lại - và đây là mặt trái của vấn đề và là điều bất lợi cho Việt Nam - đầu tư của Mỹ vào Việt Nam còn quá thấp vì nhiều trở ngại trong môi trường đầu tư ở Việt Nam, là điều chúng ta đã có nói.
Hỏi: Nhưng trong ba tháng đầu năm nay thì đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng nhiều so với cùng thời kỳ năm ngoái"

-- Đúng vậy, nhưng đó là chuyện lượng và phẩm và đa số vẫn là đầu tư từ các nước Á châu chứ không phải từ các nước Tây phương có nền kinh tế tự do .
Dự đoán kết quả chuyến đi
Hỏi: Ta có thể trở lại đề tài này trong một lần khác. Bây gip, mời ông trở lại chuyến thăm viếng của ông Khải. Ông dự đoán kết quả sẽ ra sao"
-- Tôi không chờ đợi nhiều về kết quả thực tế dù chuyến thăm viếng sẽ rất ngoạn mục về hình thức. Phái đoàn đông đảo của ông Khải sẽ thăm viếng nhiều nơi, ký kết nhiều thỏa ước ở nhà gọi là "đầy ấn tượng", nhưng phái đoàn vẫn chập chờn ẩn hiện chứ khó công khai minh bạch như phái đoàn của một quốc gia khác. Lý do là dù Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ mà lãnh đạo Việt Nam chưa bình thường hóa quan hệ với chính người Việt Nam, ở trong nước lẫn bên ngoài. Nguyên nhân là vì họ chưa có cơ chế và tư duy bình thường.
Cơ chế và tư duy bình thường
Hỏi: Xin ông giải thích cho rõ hơn về hiện tượng ấy. Thế nào là cơ chế và tư duy bình thường"
-- Tôi xin đơn cử một thí dụ mà ở ngoài hầu như ai cũng biết. Việt Nam không thiếu gì phái đoàn kinh doanh bung ra tìm đầu mối xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Sau khi đem mẫu mã đi chào hàng họ đều được tiếp đón nồng hậu, nhiều hợp đồng đã được ký kết nhưng sau đó lại bị hủy bỏ. Lý do là khi trở về tổ chức bộ máy sản xuất rồi đưa hàng qua Mỹ thì bị từ chối vì hàng hóa này khác hẳn mẫu mã đã trưng bày và thỏa thuận mà lại còn trễ hạn nữa.
Chỉ vì ta chưa có cơ chế bình thường để tôn trọng những cam kết với thiên hạ về chất lượng hay thời hạn. Cụ thể là tham nhũng, quan liêu, mánh khóe vặt đã làm nhiều người sạt nghiệp sau khi đầu tư công sức vào việc mở rộng thị trường hay mở rộng quan hệ với Mỹ. Nếu một công ty Mỹ qua Việt Nam, cũng với nguyên vật liệu và thiết bị kỹ thuật ấy, họ hoàn tất được việc sản xuất và tái xuất khẩu ra ngoài. Nếu họ thấy xứ khác có lợi hơn thì đầu tư qua nơi ấy, ta lại mất luôn một đầu mối kinh tế có lợi. Nào có phải là dân mình kém, nhưng vì cơ chế kỳ cục của ta xuất phát từ lối tư duy chưa bình thường do chưa biết đánh giá lợi ích cho thiết thực.
Phái đoàn của Thủ tướng Khải có thể cũng tái diễn việc ấy, tức là thuyết phục được thiên hạ ở ngoài với mẫu mã và hứa hẹn đầy ấn tượng mà về nhà lại không thuyết phục nổi cái cơ chế đầy ách tắc và lối tư duy đầy nghi kỵ hạn hẹp của bộ máy lãnh đạo. Nếu suy rộng từ địa hạt kinh doanh sang kinh tế lên tới chính trị hay quan hệ chiến lược, ta thấy ách tắc này còn lớn chừng nào. Vì vậy mà tôi không chờ đợi nhiều kết quả cụ thể từ chuyến thăm viếng này.
Chưa bình thường hóa
Hỏi: Ông có nói là lãnh đạo Việt Nam chưa bình thường hóa quan hệ với chính người Việt, ở trong và ngoài nước. Ông có thể giải thích thêm điều ấy chăng"
-- Tôi xin lấy một thí dụ đầy hoang tưởng mà lại bình thường ở các nước bình thường khác. Nếu lãnh đạo một quốc gia có gần hai triệu dân mình cư ngụ tại Mỹ mà qua thăm Hoa Kỳ, điều gì sẽ xảy ra" Ông ta hay bà ta sẽ được đón tiếp nồng nhiệt ở mọi nơi, sẽ thăm viếng các địa phương có nhiều kiều bào cư ngụ nhất. Trước đó, sứ quán của họ được chính kiều bào giúp đỡ và chuẩn bị cho chuyến thăm viếng, kể cả giới thiệu và hướng dẫn việc vận động trung tâm này hay nhân vật nọ hầu đạt thành quả tối đa cho đồng bào ở nhà. Hãy nghĩ tới cộng đồng Ấn Độ và đầu mối về công nghệ thông tin của họ để đẩy mạnh việc phát triển sản phẩm hay dịch vụ điện toán cao cấp cho người Ấn ở nhà, hoặc vận động cho quyền lợi của Ấn Độ trong vụ Kashmir, cho hòa bình ở Nam Á. Vào dịp khác ta sẽ trở lại chuyện công nghệ thông tin ấy.
Đáng tiếc là cho đến nay thí dụ đó vẫn là hoang tưởng mà có lẽ chỉ có trên mặt báo Việt Nam khi họ được chỉ thị loan tải tin tức đầy ấn tượng về chuyến đi của ông Khải trong khi ở tại chỗ, tại Hoa Kỳ này, thực tế lại xảy ra hoàn toàn khác. Lãnh đạo Hà Nội lạm dụng ngôn từ mà gọi người Việt ở ngoài là "Việt kiều", hoan nghênh việc họ gửi tiền về nhà nhưng không hoan nghênh những đề nghị của họ về cải cách cơ chế chính trị vì thực ra vẫn coi người Việt ở nhà như con tin để khai thác nguồn lợi từ nước ngoài. Do đó mà mối quan hệ giữa chính quyền và người dân vẫn chưa được bình thường, từ kinh tế đến chính trị, chẳng vì lý do cơ chế lãnh đạo thiếu nhất trí mà vì tư duy của họ chưa rõ ràng về quyền lợi lâu dài của dân tộc.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.