Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Sài Gòn Tháng Tư, Kabul Tháng Tám

16/08/202120:46:00(Xem: 2109)
BuiVanPhu_20210816_VietnamAfghanistan_BBC_GettyImageAP
Bên trái là cảnh di tản khỏi Sài Gòn ngày 29/4/1975 (Ảnh: Getty Images). Bên phải là cảnh di tản khỏi Kabul ngày 15/8/2021 (Ảnh: AP)

Tình hình Afghanistan đang trong những giờ phút cuối của chính quyền Kabul, khi quân Taliban đã tiến vào dinh tổng thống, sau khi Tổng thống Ashraf Ghani rời nước mà không có việc chuyển giao quyền hành. Ông Ghani nói ông ra đi để tránh đổ máu lan tràn cho dân.

Chính quyền của Tổng thống Ghani đã đổ nhanh chóng hơn tiên liệu, trước cả thời điểm 31/8 là ngày Tổng thống Mỹ Joe Biden đã loan báo sẽ rút hết lính Mỹ khỏi Afghanistan.

Chủ Nhật 15/8 quân Taliban đã vào Kabul mà không gặp sự kháng cự đáng kể nào của quân đội và lực lượng an ninh.

Những tuần qua các binh sĩ và lực lượng an ninh của Afghanistan, hơn 300 nghìn người được Hoa Kỳ huấn luyện trong hai thập niên, cũng đã không chiến đấu chống lại khi quân Taliban tấn công vào các trung tâm tỉnh lị và căn cứ quân sự chiến lược.

Theo dõi diễn biến trên truyền hình, tôi không khỏi liên tưởng đến Sài Gòn vào những ngày cuối tháng Tư 1975, khi Hoa Kỳ di tản khỏi Việt Nam, ít giờ trước khi bộ đội cộng sản tiến vào Sài Gòn.

Nghe tin từng tỉnh của Afghanistan như Uruzgan, Zabul, Helmand rồi Kandahar, Herat lần lượt rơi vào tay Taliban tôi hồi tưởng lại Việt Nam với Đà Lạt, Nha Trang, Huế, Đà Nẵng những ngày tháng Tư 1975 lần lượt rơi vào tay cộng sản Bắc Việt.

Có khác biệt là hình ảnh trên truyền hình tôi theo dõi không thấy cảnh người dân Afghan di tản theo binh sĩ hay rời bỏ nơi cư trú chạy trên những quốc lộ để lánh nạn. Thủ đô Kabul, ngoài phi trường, không có nhiều nơi dân chúng hoảng loạn tìm đường ra đi, vì khác với Sài Gòn còn có tầu của hải quân và thuyền bè có thể ra biển.

Phát biểu của giới làm chính sách, cũng như những nhà bình luận về tình hình Afghanistan trong những ngày qua cũng có nhiều so sánh với tình hình Việt Nam Cộng vào mùa xuân 1975.

Tác phẩm “Decent Interval” của Frank Snepp ghi nhận các phân tích tình báo của Hoa Kỳ cho biết Nam Việt Nam có thể cầm chân được các cuộc tấn công của cộng sản cho đến năm 1976, ba năm sau khi Hoa Kỳ rút hết quân theo tinh thần Hiệp định Ba Lê 1973.

“55 Days: the Fall of South Vietnam” của Alan Dawson ghi lại những trận chiến, những quyết định của Washington, Sài Gòn và Hà Nội từ khi quân cộng sản mở cuộc tấn công Ban Mê Thuột, trên vùng Tây nguyên, vào đầu tháng Ba rồi từ đó như vết dầu loang tràn xuống đồng bằng, chiếm Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang, Xuân Lộc trước khi tiến vào Sài Gòn ngày 30/4/1975.

Chính quyền Sài Gòn đổ cả năm trước thời gian tiên liệu của giới chức Hoa Kỳ. Còn chính quyền Kabul tan rã ngay cả khi binh lính Mỹ còn đang có mặt ở Kabul và một số căn cứ chiến lược để bảo đảm an ninh cho việc rút hết quân vào cuối tháng này. Còn hai tuần nữa mới đến ngày 31/8, nhưng quân Taliban đã vào chiếm Kabul.

Afghanistan là nơi Hoa Kỳ đã can dự quân sự trong 20 năm, cũng huấn luyện và trang bị cho quân đội và lực lượng an ninh của quốc gia này mà chính quyền Kabul xụp đổ còn nhanh hơn Sài Gòn nhiều.

Gần một triệu lính Việt Nam Cộng hoà không chống lại được hai trăm nghìn bộ đội cộng sản năm 1975. Trên 300 nghìn quân chính phủ Afghanistan không ngăn chặn được sức tiến của 70 nghìn quân Taliban hiện nay.

Tổng thống Joe Biden mới đây đã từng đánh giá thấp khả năng quân sự của Taliban, so với bộ đội cộng sản Bắc Việt, khi được hỏi về tương lai Afghanistan một khi Hoa Kỳ hoàn toàn rút lui. Ông tin là quân đội chính phủ Kabul có thể bảo vệ được quốc gia.

Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản.

Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.

E MULDER

Chiến tranh ở Việt Nam là thất bại quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ, để sau đó khi lãnh đạo Mỹ có những quyết định can thiệp quân sự vào một nơi nào đó trên thế giới, từ Grenada, Nicaragua, El Savador cho đến Kuwait, Kosovo các tổng thống Mỹ thường được nhắc nhở về “Vietnam Syndrome” - Hội chứng Việt Nam.

Năm 1992, sau khi Hoa Kỳ đem quân đánh đuổi Iraq ra khỏi Kuwait, Tổng thống George W. H. Bush (cha) đã tuyên bố từ nay nước Mỹ không còn ám ảnh bởi “Vietnam Syndrome” nữa.

Có nhiều nhận định về cuộc di tản ra khỏi Kabul giống Sài Gòn 1975, nhưng Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken trong chương trình “This Week” của truyền hình ABC sáng Chủ Nhật 15/8 đã không đồng ý về so sánh đó. Ông Blinken cho là sự can dự quân sự vào Afghanistan đã thành công trong mục tiêu chính vì khi Hoa Kỳ đem quân vào sau vụ khủng bố tấn công nước Mỹ là với mục đích giết Osama bin-Ladin và tiêu diệt Al-Qaeda.

Ở điểm này, Ngoại trưởng Blinken có lẽ đúng, vì thủ lãnh bin-Ladin đã bị lính Mỹ giết và thuỷ táng, còn Al-Qaeda tan rã và trong hai mươi năm qua đã không có cuộc tấn công khủng bố nào trực tiếp vào Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ rút lui khỏi Afghanistan vì tin rằng khủng bố Al-Qaeda hay Nhà nước Hồi giáo ISIS không còn là mối đe doạ trực tiếp cho nước Mỹ.

Cuộc chiến tranh tại Việt Nam, khi Hoa Kỳ quyết định can dự quân sự vì muốn be bờ, ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á. Sau khi bắt tay được với Trung Quốc, Hoa Kỳ quyết định rút lui ra khỏi Việt Nam năm 1973, để rồi chính quyền Sài Gòn xụp đổ hai năm sau đó.

Nhưng đến nay Hoa Kỳ vẫn còn đang phải đối đầu với Trung Quốc trên nhiều mặt. Với sự trở lại của Taliban, trong tương lai Hoa Kỳ rồi sẽ lại phải đối phó với các nhóm khủng bố chống Mỹ ở nhiều nơi và ngay cả trong nội địa.

“Hội chứng Việt Nam” ngày nay đã được thay bằng “Hội chứng Afghanistan”.

Theo một thăm dò dư luận do Chicago Council on Global Affairs thực hiện vào cuối tháng Bảy có 70% dân Mỹ ủng hộ quyết định rút hết quân của Tổng thống Joe Biden. Riêng những người theo Đảng Cộng hoà có 56% tán đồng.

Với người dân Afghan, đó là “Sự phản bội của Hoa Kỳ”, như nhận định của cựu đại sứ Afghanistan tại Mỹ Roya Rahmani với phóng viên truyền hình MSNBC hôm 15/8.

© 2021 Buivanphu

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
Những em bé tò mò, lần đầu tiên ngước mắt lên trời, thấy trăng sao, lập tức nảy sinh ước muốn thám hiểm cõi mênh mông ở cuối, ở xa hơn tầm mắt mình. Lớn lên, ý thức được kích thước Vũ Trụ và giới hạn của đời người, biết đường dài dẫn tới một tinh cầu có thể đòi hỏi sự nối tiếp của muôn triệu kiếp người. Tỉnh ra và thất vọng. Ước muốn chỉ còn là ước mơ vương vấn nơi những truyện khoa học giả tưởng huyền hoặc vẽ ra hình ảnh một con tàu kỳ diệu: một ngày kia khoa học tiến bộ, hành khách đáp phi thuyền du lịch tối tân sẽ lọt vào cõi thời gian ngừng trôi, có cuộc đời dài vô tận, tha hồ chu du khắp cùng vũ trụ.
Như vậy, Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản là của riêng ông Hồ và đảng CSVN. Nhân dân chưa bao giờ có cơ hội bỏ phiếu hay đồng thuận dưới bất kỳ hình thức trưng cầu ý kiến nào về sự chọn lựa này. Do đó, không làm gì có chuyện nhận dân “đã lựa chọn” nó mà sự thật là đảng CSVN đã áp đặt và tròng vào cổ người dân thứ Chủ nghĩa ngoại lai này. Đó là lý do tại sao đã có chống đối về mối họa Cộng sản từ bên trong hàng ngũ đảng và của một bộ phận không nhỏ quần chúng thuộc mọi thành phần trong xã hội.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.