Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Jean Paul Sartre - Hư Vô và Hiện Hữu

21/06/202116:41:00(Xem: 1117)
Jean Paul Sartre
Jean Paul Sartre. (https://www.britannica.com

                                                                

(Bài này viết dựa theo thông tin của Olivia Gazalé phổ biến trên Philosophie Magazine Auguste-2011-Philomag.com. Và thêm vào những thông tin của Gazalé, là một số ý tưởng sáng tạo riêng của tác giả- Đào Như)

Ảnh phía trên là triết gia hiện sinh-Existentialist-của Pháp-Jean Paul Sartre-đang ngồi nghiền ngẫm say sưa với muôn vàn ý tưởng đang tuông tràn tại quán café nào đó, có thể là quán FLORE hay COUPOLE thuộc khu phố Paris vào những năm 50 của thế kỷ trước. Phong thái của Sartre vẫn đều đặn một ngày như mọi ngày: bước vào quán, đến ngồi trên ghế cạnh cái bàn, (hầu như đã dành sẵn), Sartre gọi một tasse càfé, châm lửa cối thuốc, tay cầm cây bút máy, cúi xuống gần trang giấy, như cái vòi của bình tưới nước vườn, và những con chữ tha hồ nhảy múa loan loán trên các trang giấy theo dòng cảm hứng của Sartre. Sartre say mê viết và quan sát thế giới chung quanh mình xuyên qua vũ-trụ-quan chính của ông. Sartre đang quan sát gã hầu bàn đang thoăn thoắt đi lại, cử chỉ hành động, thao tác nghề nghiệp, ngôn ngữ ứng xử, tất cả hình như không có gì là thật. Sartre ngộ ra rằng chính gã này cũng trôi nổi như ta trong thế giới thực hư. Thao tác của gã rõ là nghề nghiệp không đánh rơi một cái cốc, không làm rỏ một giọt càfé đáng tiếc, tuyệt vời phải không? Nhưng nó chỉ là thói quen nghề nghiệp. Cuộc đời nghề nghiệp đã dạy hắn như vậy. Bản chất của gã hầu bàn đâu phải là như thế. Vậy bản chất của gã có thể khác và khác rất nhiều. Gã hầu bàn đi lại giữa đám đông, không chạm phải ai, trao đổi ân cần ngôn từ mời mọc với mọi khách hàng trông gã thật nhã nhặn, khôn ngoan và quí phái nữa là khác. Nhưng bản chất của gã có hoàn toàn như vây đâu. Cái gì mà gã làm trước mặt ta chỉ là những thao tác của kẻ hầu bàn chuyên nghiệp. Gã đang đi lại hành động trong thế giới không có thực, không có thực vì bản chất của gã. Nhưng rất thực vì nhu cầu cho cuộc sống của gã.

Đich thực, vũ-trụ-quan của Sartre đã tố cáo Sartre một kẻ hoài nghi. Sartre hoài nghi cả thị giác của chính mình. Đối với cô bé mù bẩm sinh-Gertrude-nhân vật trong tác phẩm thời danh của André Gide-La Symphonie Pastorale-1956- màu xanh là nốt nhạc cao vút, màu đen là nốt nhạc trầm. Thế đối với mắt của Sartre thì màu xanh là như thế nào, và màu đen thì như thế nào? Giữa người mù như Gertrude và người sáng như Sartre ý niệm về màu sắc và âm nhạc chắc phải khác xa nhau. Nhưng Gertrude liên hệ màu sắc và âm nhạc tuyệt vời, nhưng Sartre thì sao? Sartređôi mắt lệch hiến-stigmatique-nhưng ông có cái nhìn xuyên thấu gần như lột trần người đàn bà. Áy thế mà ông vẫn bắt những nhân vật nữ trong"Bức Tường-Le Mur" của ông phải trần trụi để ông khám nghiệm. Phải chăng cái nhìn chỉ cho ta những "Đức Tin Giả".

Hôm nay tai quán càfé FLORE, vời những trang giấy với cây viết nạp đầy mực, với tách cà phê, Jean Paul Sartre đang thao thao với nguồn cảm hứng, với muôn vàn ý tưởng  tuông tràn mông lung. Sartre đang chới với trong thế giới tuyệt vời của riêng mình. một thế giới ở giữa thế kỷ XX -một thế giới vừa Thực vừa Hư. Thế giới của Sartre-thế giới sau hai cuộc Đại Chiến - Thế giới của Chiến Tranh Lạnh bắt đầu... Một thế giới hoài nghi bi quan của André Gide đang xâm chiếm tư tưởng của Jean Paul Sartre- Thế giới được hinh dung qua cái nhìn của Gertrude-một kẻ vốn dĩ mù lòa bẩm sinh. Sartre cảm thấy cô đơn trôi nổi giữa hai cực của cuộc đời Thực và Hư- giữa Hiện Hữu và HƯ Vô- L'Être et Le Néant... 

Và bây giờ là lúc Jean Paul Sartre cảm thấy chính mình là kẻ đang sống, đang thao tác như gã hầu bàn hàng ngày. Sartre đang có cái nhìn hoài nghi vào thế giới. Sartre bi quan như Gertrude, sau khi phẫu thuật mắt, nàng đã nhìn thế giới bằng đôi mắt sáng, một thế giới trần trụi nàng đã vỡ mộng và nàng đã tự vận. Sartre là con người hoài nghi muôn thuở nổi trôi giữa hai cực Hiên Hữu và Hư Vô- L'Être et Le Néant. Chủ thuyết Existentialisme của Jean Paul Sartre là hiện thân của nước Pháp và Châu Âu ở hậu bán thế kỷ thứ XX. Charles De Gaule có lý khi ông bảo Sartre là nước Pháp- "Sartre, c'est la France"./.  

Đào Như

CHICAGO

Sept.12-2011


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên. Cây phong đầu ngõ lại chuẩn bị trổ sắc đỏ ối như mọi năm. Người đi xa từ những mùa thu trước, sẽ không trở về. Những người bạn lâu không gặp, thư gửi đi bị trả lại, nhắn tin điện thoại không thấy trả lời. Có lẽ cũng đã ra đi, không lời từ biệt. Đã có những cuộc ra đi rất lặng lẽ từ gần hai năm qua, không chỉ ở nơi đây, mà ở khắp toàn cầu. Ra đi bất ngờ, ra đi nhanh chóng. Không hoa tang. Không lễ nghi tôn giáo. Không lời ai điếu. Những túi bọc thi thể chất vội vào những thùng xe đông lạnh. Những thi hài quấn vải hoặc cuộn trong manh chiếu được chất trên những giàn củi, hỏa thiêu. Những chiếc quan tài được chôn lấp vội vàng trên đất công, với bia mộ đơn giản, không hình ảnh, ghi tên tuổi của một người già bệnh hay một người trẻ cường tráng, một người quyền quý hay một người bần cùng vô danh… Tất cả những người ra đi ấy, từ những nơi chốn khác nhau, thành thị hay
Hoá ra không phải chùm khế nào cũng ngọt. Quê hương, đôi khi, cũng thế. Cũng chua chát và đắng nghét đối với rất nhiều người mà tôi (chả may) là một. Cùng cả triệu dân Việt khác, tôi cũng đã có lúc hốt hoảng đâm sầm ra biển (dù không biết bơi) khi tóc hãy còn xanh. May mắn, tôi thoát chết. Lên lại được bờ, tôi đi lang thang tứ xứ cho mãi đến khi tóc đã đổi mầu nhưng vẫn chưa bao giờ trở về cố lý. Có kẻ tưởng là tôi chảnh, có mới nới cũ, có trăng quên đèn, quên cả cố hương. Không dám chảnh đâu. Tôi bị chúng “cấm cửa” mà!
Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ của thi ca là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?
Một sự trùng hợp về thời gian 20 năm trong chiến tranh Việt Nam đã lập lại ở Afghanistan vào ngày 15/08/2021 với hình ảnh chiếc trực thăng di tản người Mỹ chạy thoát từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ trong lúc phiến quân Taliban đã chiếm dinh Tổng thống không tốn một viên đạn, ngay sau khi Tổng thống Ashraf Ghani bỏ trốn ra nước ngoài.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.