Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ba Tầu

18/06/202116:49:00(Xem: 1556)

blank


Trước khi
hạ cánh an toàn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã không quên bầy tỏ sự quan ngại sâu sắc về cái mối tình hữu nghị (rất) mong manh giữa nước ta và nước bạn: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc.”

Nỗi lo lắng này cũng được ông Nguyễn Bắc Việt, Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tỉnh Ninh Thuận, tận tình chia sẻ: “Hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau như thế này, ai có lợi.”


Cả ông Đại Tướng lẫn ông Đại Biểu đều đánh đồng nhà nước Trung Hoa Lục Địa với hàng tỷ sinh linh ở mảnh đất này nên mới “tâm tư” như thế, chứ chuyện “hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau” thì chả có liên quan gì đến đám dân đen cả? Người Tầu và người Việt – trước giờ – vẫn giao hảo bình thường, nào có vấn đề chi với nhau đâu. 


Có vị cầm bút còn tin rằng giữa hai dân tộc này có chút tình “tương lân” nữa chớ. Mối tương lân của những người đồng bệnh: “Bắc Kinh sợ nhất cái gì?...Sợ nhất Việt Nam dân chủ. Vì, Bắc Kinh giống hệt Hà Nội: Đang ngồi trên kho thuốc nổ… Việt Nam dân chủ là tiếng gọi mênh mông được vẫy chào từ hàng triệu trái tim TQ bị đè nén bởi bạo quyền bấy lâu nay.” (Lê Phú Khải. Lời Ai Điếu, nxb Người Việt, CA: 2016).


Một người cầm viết khác (đã từng du học bên Tầu) cho biết thêm:

Tôi còn một bạn học, người Nam Kinh. Lúc “phái hữu” lên tiếng, anh từng bảo tôi: Chắc cậu cũng biết truyện “cô gái quàng khăn đỏ?” Chúng ta đấy. Cũng quàng khăn đỏ cả mà. Hỏi bà ơi, tại sao tai bà to thế? Bà nói: Để bà nghe thấu bọn phản động chúng nó thì thào. Thế sao mắt bà sáng thế? À, sáng mới thấy được chỗ chúng nó ẩn nấp. Còn răng? Sao răng bà to thế? Răng bà to để ăn thịt những đứa khỏe thắc mắc về bà… 

Tôi hỏi anh:

- Người Trung Quốc nghĩ như cậu có nhiều không?

- Zen ma shuo ya? Nói sao nhỉ? Một nửa đi. Nhưng nửa kia có loa ở mồm và có súng trên tay. (Trần Đĩnh. Đèn Cù I, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Thảo nào mà tập thể người Hoa sinh sống ở VN luôn luôn được đối xử rất đàng hoàng, tử tế. Những nghệ sỹ nổi tiếng (La Hối, Hồ Dzếnh, La Quốc Tiến, Dư Thị Hoàn, Trịnh Hoài Giang, Phù Sa Lộc ...) được quí mến, đã đành. Ông Tầu hủ tiếu, bà Tầu cháo huyết, chú Chệt bò bía, thím Chệt ve chai … cũng đều sống rất an lành và chan hoà tình nghĩa giữa vô số những chòm xóm khắp nơi. 

Sau cuộc chiến tranh biên giới, và sau khi phong trào bài Hoa (do Hà Nội khởi xướng và Bắc Kinh cổ vũ) qua đi, người Tầu sinh trưởng ở nước Việt Nam vẫn được cả dân tộc này dành cho tất cả sự thương yêu cùng quí mến.

Xin đan cử một trường hợp nho nhỏ: chú Năm!

Ông tên họ đầy đủ là Trương Năm, và tên thường gọi là Năm Đậu Phụng. Gần đây, nhân vật này được tất cả mọi phương tiện truyền thông (báo chí, fb, youtube …) trong cũng như ngoài nước nhắc đến với rất nhiều thiện cảm và ưu ái:

Nhà báo Nguyễn Toàn mệnh danh chú Năm là “người bán hàng có tâm nhất Sài Gòn.” Ông còn viết thêm: “Chính bản thân tôi khi nhìn thấy túi đậu cũng vô cùng ấn tượng, tôi có niềm tin rằng phía sau những dòng chữ, nét vẽ này là cả một câu chuyện tuyệt đẹp.”

Chuyện đời của chú Năm, thực ra, không có chi “ tuyệt đẹp” mà còn chất chứa nhiều tình tiết rất thương tâm. Ông sinh trưởng trong một gia đình khá giả, chủ nhân của công ty Thuận Phát chuyên sản xuất xà phòng, trước 1975. Sau đó, sau chiến dịch đánh tư sản mại bản của nhà nước VN, doanh nghiệp này tiêu tán. Đại gia đình của chú Năm cũng tứ tán trong vụ “nạn kiều.” 

Về sự kiện này, Wikipedia tiếng Việt có ghi nhận khái quát như sau:

“Vào năm 1978, số lượng người Hoa chiếm tới 70% trong số những người vượt biên từ Việt Nam bằng đường biển. Ngoài ra, có khoảng 250.000 người gốc Hoa vượt biên sang Trung Quốc bằng đường bộ tại biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979…

Sau giai đoạn này, số Hoa kiều tại Việt Nam đã giảm một nửa (từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000 vào năm 1989), người Hoa đã không còn là thế lực kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và Việt Nam đã trở thành nước duy nhất ở Đông Nam Á thành công trong việc đồng hóa người Hoa.”

Vợ con của chú Năm thuộc trong số gần triệu Hoa Kiều đã “biến mất” khỏi VN. Còn tổng số cả người Tầu lẫn người Việt vượt biên nhưng không bao giờ đặt chân lên được đến bờ thì đến nay vẫn còn là một điều bí mật. Họ sống chết ra sao, lưu lạc phương nào thì chỉ Trời (may ra) mới biết. Dù vậy, là kẻ ở lại và là cột trụ của gia đình nên ông Trương Năm vẫn kiên tâm mong chờ ngày gia đình đoàn tụ.

Tuy không còn vốn liếng, và ngay cả không còn có khả năng trả tiền điện nước hằng tháng (và phải dùng nước mưa thay nước máy) nhưng chú Năm vẫn cố “biến” hãng xà phòng Thuận Phát của gia đình thành cơ xưởng sản xuất đậu phụng. Nói là “cơ xưởng” cho nó vui tai chứ mỗi lần ông chỉ “sản xuất” được chừng nửa ký, và bán với giá rất tượng trưng.

Nhà báo Hồng Vi nhận xét:

“Giữa thành phố hoa lệ, 2 ngàn đồng nhiều khi không đủ gửi một chiếc xe, mua một gói bánh, nhưng suốt bao năm, gói đậu phộng của chú Năm vẫn chỉ 2 ngàn đồng. Chú không bán nhiều, hai tuần bán một lần, mỗi lần chỉ bán 5-10 bịch để ‘quảng bá thương hiệu.’

Chú Năm mất khoảng 30 phút để làm một tờ thông tin sản phẩm. Vì chú là người Việt gốc Hoa nên tờ giấy được viết song ngữ Hoa – Việt. Không đủ tiền để in, chú mua một khúc gỗ về rồi ngồi đục đẽo thành bản in. Những tờ giấy sản phẩm ra đời bằng cách lấy mực quét lên khúc gỗ rồi in ra giấy, chữ nào nhạt, mất nét thì chú lấy viết đồ đậm lên. Cứ thế, những bịch đậu phộng ra đời bằng tất cả sự trân trọng và đôi tay tỉ mỉ của một người đàn ông.”

blank


Với “đôi tay tỉ mỉ” và “bằng tất cả sự trân trọng” của chú Năm thì mỗi “tờ thông tin sản phẩm” (có lẽ) không chỉ thuần là thương hiệu mà còn là tín hiệu tình cảm gửi đến những người thân rằng nơi căn nhà cũ vẫn có người cha luôn chờ trông đến ngày đoàn tụ – như cách đặt tựa của đôi ba tác giả:

Xem ra: ba Tầu, ba Việt, ba Lào, ba Miên, ba Miến, ba Tây, ba Mỹ, ba Úc, ba Nhật, ba Angola, ba Mozambique  … cũng đều là ba cả. Các ông cha luôn lừng lững tựa núi Thái Sơn. Các bà mẹ cũng thế, cũng đều triền miên “như nước trong nguồn chẩy ra.” Tuy thế, việc “thờ mẹ kính cha” thì xem ra mỗi ngày một hiếm. Thường thì đám con chỉ nhớ đến công ơn phụ mẫu khi song thân đều (đà) khuất núi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên. Cây phong đầu ngõ lại chuẩn bị trổ sắc đỏ ối như mọi năm. Người đi xa từ những mùa thu trước, sẽ không trở về. Những người bạn lâu không gặp, thư gửi đi bị trả lại, nhắn tin điện thoại không thấy trả lời. Có lẽ cũng đã ra đi, không lời từ biệt. Đã có những cuộc ra đi rất lặng lẽ từ gần hai năm qua, không chỉ ở nơi đây, mà ở khắp toàn cầu. Ra đi bất ngờ, ra đi nhanh chóng. Không hoa tang. Không lễ nghi tôn giáo. Không lời ai điếu. Những túi bọc thi thể chất vội vào những thùng xe đông lạnh. Những thi hài quấn vải hoặc cuộn trong manh chiếu được chất trên những giàn củi, hỏa thiêu. Những chiếc quan tài được chôn lấp vội vàng trên đất công, với bia mộ đơn giản, không hình ảnh, ghi tên tuổi của một người già bệnh hay một người trẻ cường tráng, một người quyền quý hay một người bần cùng vô danh… Tất cả những người ra đi ấy, từ những nơi chốn khác nhau, thành thị hay
Hoá ra không phải chùm khế nào cũng ngọt. Quê hương, đôi khi, cũng thế. Cũng chua chát và đắng nghét đối với rất nhiều người mà tôi (chả may) là một. Cùng cả triệu dân Việt khác, tôi cũng đã có lúc hốt hoảng đâm sầm ra biển (dù không biết bơi) khi tóc hãy còn xanh. May mắn, tôi thoát chết. Lên lại được bờ, tôi đi lang thang tứ xứ cho mãi đến khi tóc đã đổi mầu nhưng vẫn chưa bao giờ trở về cố lý. Có kẻ tưởng là tôi chảnh, có mới nới cũ, có trăng quên đèn, quên cả cố hương. Không dám chảnh đâu. Tôi bị chúng “cấm cửa” mà!
Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ của thi ca là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?
Một sự trùng hợp về thời gian 20 năm trong chiến tranh Việt Nam đã lập lại ở Afghanistan vào ngày 15/08/2021 với hình ảnh chiếc trực thăng di tản người Mỹ chạy thoát từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ trong lúc phiến quân Taliban đã chiếm dinh Tổng thống không tốn một viên đạn, ngay sau khi Tổng thống Ashraf Ghani bỏ trốn ra nước ngoài.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.