Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đối Thoại Với “Quỷ Vương Phiền Não”

04/04/202109:18:00(Xem: 979)

Tại Kinh Thành có một vị cư sĩ, có thể nói là bậc “Thiên kinh vạn quyển”, viết không  biết bao nhiêu bài bình giảng về giáo lý, ăn chay trường, tụng kinh niệm Phật, qua tận Ấn Độ học Thiền. Nói tóm lại đây là bậc tu hành tới nơi tới chốn…thế  mà trong lòng vẫn cứ phiền não.

Phiền não ở đây là vẫn còn xao xuyến, lo âu về cái sống cái chết. Ngoài ưu tư chuyện gia đình, tiền bạc, lại còn mắc míu vào chuyện đời, chuyện cộng đồng, chuyện làng, chuyện nước và thậm chí cả chuyện thế giới. Chuyện đá bóng World Cup cũng làm ông vui  buồn cả tháng trời. Trong những lúc ngồi Thiền, quán tưởng thấy mình tu hành như thế thật uổng công. Hơn ba chục năm vẫn là phàm phu cho nên theo lời dạy của Đức Phật, ông viết tên của Đức Phật Bất Động Trí Quang trên một tờ giấy, đảnh lễ và tha thiết cầu xin Đức Phật chỉ bảo cho phương tiện giải trừ phiền não. Một ngày kia, trong lúc đang quán tưởng thì từ không trung có tiếng nói vang lên:

-Ta là Phật Bất Động Trí Quang. Ta hiểu được “căn bệnh” của ông. Muốn giải trừ căn bệnh này không gì hơn là nói chuyện với Quỷ Vương Phiền Não. Ta sẽ đưa Quỷ Vương Phiền Não tới gặp ông.

            Trong chớp mắt, từ trên không trung có tiếng nói vang vang cất lên:

-Chào cư sĩ. Tôi là Quỷ Vương Phiền não do Đức Phật Bất Động Trí Quang sai tới . Cư sĩ muốn  hỏi tôi chuyện gì?

- Dạ, tôi muốn ông giúp tôi đoạn trừ phiền não.

Từ trên không trung có tiếng cười lớn:

-Cư sĩ mời tôi đến để tìm cách đoạn trừ phiền não, vậy cư sĩ muốn giết tôi phải không?

            Nghe hỏi đùa như thế, vị cư sĩ lúng túng, nhưng cuối cùng không còn cách nào khác nên nói bừa.

-Dạ đúng vậy.

            Từ trên không trung tiếng của Quỷ Vương Phiền Não cất lên:

-Tôi vốn không có hình tướng, không hề hiện hữu trên thế gian này. Thế nhưng do chúng sinh tham-ái mê luyến vào cuộc sống này cho nên tôi mới có mặt. Tôi thống trị thế gian này từ khi có con người. Do đó muốn đoạn trừ phiền não thì phải hiểu tôi là ai. Tôi có mặt ở khắp hư không, ba đời, hiện tại, quá khứ, vị lai. Không nơi nào mà không có phiền não. Không nơi nào mà không có sự hiện diện của tôi. Tôi có thể vào trong cung vàng điện ngọc để não loạn vua chúa dù vua chúa ở Tử Cấm Thành hay có thiên binh vạn mã canh giữ. Tôi có thể vào trong chùa, trong tịnh thất, trong thiền đường để làm cho cao tăng, cư sĩ, vui buồn sướng khổ.  Tôi làm việc 24/24 giờ không bao giờ ngưng nghỉ. Điều đó có nghĩa là phiền não có thể nảy sinh bất cứ giây phút nào từ lúc con người sinh ra cho đến khi diệt mất, không trừ một ai.

-Khi cư sĩ khởi một niệm thương-ghét là tôi có mặt liền.

-Khi cư sĩ khởi một niệm ham muốn, dù ham muốn bất cứ cái gì thì tôi sẽ đến chào cư sĩ ngay.

-Khi cư sĩ thọ nhận một số tiền, một ân tình, một quà biếu…là tôi đã có mặt ở trước cửa nhà cư sĩ giống như một người giao hàng vậy.

-Khi cư sĩ khởi một niệm đúng-sai, chấp trụ vào Có - Không, thì bằng mọi giá tôi sẽ đến gặp cư sĩ ngay.

-Khi cư sĩ cầu mong cái gì. To lớn như cầu mong đắc quả, cầu mong trúng số, cầu mong giầu có. Nhỏ bé như cầu mong đội bóng mà cư sĩ yêu thích chiếm giải vô địch…thì tôi đã nằm ngay trong tim não của cư sĩ rồi.

-Khi cư sĩ thấy ai hơn mình mà khởi một niệm ghen ghét thì làm sao thoát khỏi tôi.

-Khi cư sĩ vui khi có ai khen mình, buồn khi có ai chê mình thì tôi sẽ gõ cửa nhà cư sĩ.

-Khi cư sĩ còn ham mê chức vụ, danh vọng, tăm tiếng tức là cư sĩ muốn tôi ngồi cùng bàn với cư sĩ.

            Nghe Ô. Quỷ Vương Phiền Não nói thế, vị cư sĩ buồn rầu nói:

-Phiền não có đầy ở hư không, cái gì cũng gây phiền não cả, nếu nói như ngài thì chỉ có gỗ đá mới không có phiền não sao?

Quỷ Vương Phiền Não cười lớn, hỏi:

-Đức Phật có phải là gỗ đá không?

-Dạ thưa không?

-Hàng Bồ Tát, A La Hán có phải là gỗ đá không?

-Hoàn toàn không.

-Vậy tại sao các vị này không có phiền não? Thưa cư sĩ, mọi chúng sinh đều có thể đoạn trừ phiền não. Chỉ vì chúng sinh không biết cách làm mà thôi.

            Nghe tới đây vị cư sĩ đáp lại:

-Ngài trách chúng sinh như vậy là không đúng. Một số chư Tổ dạy rằng “Phiền não là Bồ Đề”. Nếu “Phiền não là Bồ Đề” thỉ chúng sinh cần gì tu hành, cần gì tìm cách đoạn trừ phiền não? Cứ sống khơi khơi, ngụp lặn trong phiền não là có Bồ Đề thôi. Vậy thì lỗi đâu phải tại chúng sinh?

            Nghe nói vậy Quỷ Vương Phiền Não cười lớn:

-Xin cư sĩ đừng hý luận. Phiền não là khổ đauBồ Đề là giác ngộ, an vui, giải thoát. Nếu “Phiền não là Bồ Đề” thì chẳng khác nào đám cưới là đám ma, mất tiền là được tiền, thi rớt là thi đậu, trí tuệ là ngu si, bênh tật là sức khỏe, lêu lổng là tu hành! Nếu như vậy thì chư Phật, chư vị Bồ Tát ra đời để dạy dỗ chúng sinh phương pháp diệt khổ để làm gì? Xin chớ nói “Phiền não là Bồ Đề”. Tôi làm sao có thể ví với Phật, Bồ Tát, A La Hán và thánh tăng?

            Dường như bị thuyết phục bởi lý luận quá sắc bén của Quỷ Vương Phiền Não, vị cư sĩ thở dài nói:

-Tôi  tu hành công phu miệt mài hơn ba mươi năm, nhưng tại sao vẫn cứ phiền não? Tu như vậy mà không đúng cách sao?

            Nghe nói thế, Quỷ Vương Phiền Não lại cười lớn, nói:

-Cư sĩ chỉ tu tướng chứ không tu tâm. Tụng kinh niệm Phật, ăn chay, đi lễ chùa, thuyết giảng cho hấp dẫn nhiều người nghe vẫn là tu tướng. Chỉ có tu tâm mới đoạn trừ được phiền não. Tôi có thể gây phiền não cho Hằng Hà sa số chúng sinh nhưng không sao nhiễu loạn được các bậc tu hành như sau. Tất cả các bậc tu hành như thế này - tôi đều cúi đầu đảnh lễ.  

-Đối cảnh mà vô tâm.

-Ưng vô sở trụ.

-Niệm Phật nhất tâm bất loạn.

-Luôn luôn giữ gìn chánh niệm từng bước đi, từng hơi thở, từng động tác.

-Thấy mọi vật hiện ra trước mắt như hoa đóm giữa hư không, như một giấc chiêm bao, như coi màn tuồng diễn trên sân khấu.

-Dù không ngổi thiền mà đầu óc luôn luôn ở trạng thái Định.

-Thưa cư sĩ, các bậc tu hành như vậy nếu không là Phật thì cũng là Bồ Tát, A La Hán, thánh tăng hay thiền sư và tôi không thể nào nhiễu loạn họ được.

            Nghe tới đây, vị cư sĩ hốt nhiên đại ngộ, thấy mình như vừa ra khỏi cơn mê, bái vọng Đức Phật Bất Động Trí Quang rồi nói với Quỷ Vương Phiền Não rằng:

-Cám ơn ngài và tôi hy vọng sẽ không bao giờ gặp lại ngài nữa. Chào tạm biệt!

 Đào Văn Bình

(California ngày 4/4/2021)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.