Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nước Mỹ Có Lịch Sử Lâu Dài Về Bạo Động Chống Phụ Nữ Á Châu

25/03/202123:11:00(Xem: 1126)
Nuoc-My-co-lich-su-lau-dai-ve-bao-dong-chong-phu-nu-goc-A-01

Tại Mile Square Regional Park ở Fountain Valley,  vào Chiều Thứ Năm ngày 4 tháng 3 năm 2021 một buổi lễ thắp nến cầu nguyện cho những nạn nhân qua đời vì Covid-19 và kêu gọi ngưng kỳ thị người Á Châu đã diễn ra thật trang nghiêm.(Photo Thanh Huy- www.vietbao.com

 
Từ lúc đại dịch vi khuẩn corona bắt đầu lây lan trong một năm nay, hàng ngàn vụ tấn công nhắm vào người Mỹ gốc Á đã xảy ra. Cộng thêm vào đó là vụ một người đàn ông da trắng xách súng vào các tiệm mát-xa ở thành phố Atlanta thuộc tiểu bang Georgia để giết chết 8 người mà trong đó có 6 người phụ nữ Mỹ gốc Á hôm 16 tháng 3 năm 2021 đã làm dậy lên sự phản đối của các cộng đồng người Mỹ gốc Á khắp Hoa Kỳ. Phó  Giáo Sư Karen Leong chuyên về các vấn đề Phụ Nữ và Giới Tính và Người Mỹ Gốc Á Châu Thái Bình Dương tại Đại Học Arizona, và Phó Giáo Sư Karen Kuo chuyên về các vấn đề Người Mỹ Gốc Á Châu Thái Bình Dương tại Đại Học Arizona đã có bài phân tích về lịch sử bạo động chống phụ nữ tại Hoa Kỳ được đăng trong trang mạng www.theconversation.com hôm 22 tháng 3 năm 2021. Việt Báo xin đăng bản dịch Việt của Thụy Âm để độc giả tường lãm.
 
*******
 
Các phụ nữ người Mỹ gốc Á hiểu rằng kẻ giết 8 người tại Atlanta đã hành động phù hợp với một nền văn hóa chứa đầy những quan điểm kỳ thị chủng tộc và tình dục đối với các phụ nữ Á Châu. Trong số những người bị giết chết, 4 phụ nữ di dân Đại Hàn và 2 phụ nữ Trung Quốc.

Bản thân tay súng, Robert Long, đã nói ông có động lực hành động bạo hành bởi vì ông tự tuyên bố “nghiện tình dục.” Ông nói với các nhà điều tra gây nhiều tranh cãi rằng các cơ sở kinh doanh mà ông tấn công vì đã đại diện cho “sự cám dỗ ông ấy mà ông muốn loại bỏ.”

Long tìm cách loại trừ các đối tượng cám dỗ tình dục của ông, là những người phụ nữ Á Châu. Trong việc làm thế, ông đã gợi ra một lịch sử lâu dài của Hoa Kỳ về việc tình dục hóa các phụ nữ người Mỹ gốc Á.
 
Lịch sử lâu dài của những định kiến
 
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục.

Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó.

Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ.

Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân, Đại Hàn và Việt Nam đã làm gia tăng tương tác chủng tộc giữa những binh sĩ Mỹ và các phụ nữ Châu Á. Các tương tác bị hạn chế của binh sĩ Mỹ với dân số Châu Á lớn hơn có nghĩa là họ đã gặp các phụ nữ Á Châu làm việc trong hay gần các căn cứ quân sự: các công nhân phục vụ tại căn cứ là những người làm việc dọn dẹp vệ sinh hay nấu nướng, hay các công nhân phục vụ tình dục tại các cộng đồng chung quanh căn cứ.

Một số binh sĩ Mỹ đã kết hôn các phụ nữ Á Châu và đem họ về nhà như các cô dâu chiến tranh, trong khi những người khác từ đầu đã xem phụ nữ Á Châu như các đối tượng thỏa mãn tình dục. Cả hai phương cách đều duy trì các định kiến về phụ nữ Á Châu như là dễ dãi về tình dục, dù là các người vợ lý tưởng hay các cô gái mại dâm ngoại quốc phục vụ tình dục.

Các định kiến này là bằng chứng thông qua nền văn hóa đại chúng Hoa Kỳ trong hình thức của các cuốn tiểu thuyết và các cuốn phim, gồm “The Teahouse of the August Moon” [Phòng Trà và Trăng Tháng Tám] và “The Bridges at Toko-Ri” [Những Chiếc Cầu Ở Toko-Ri] của James Michener, miêu tà những cuộc tình lãng mạn giữa người lính Mỹ và các phụ nữ Á Châu. Các phim về thời Chiến Tranh Việt Nam như “Full Metal Jacket” [Áo Giáp], và “Platoon” [Trung Đội] mô tả bằng hình ảnh bạo hành tình dục do binh sĩ Mỹ gây ra đối với các phụ nữ Việt Nam.
 
 Bạo động chống lại các phụ nữ người Mỹ gốc Á
 
Trong phim khiêu dâm qua kỹ thuật số trên mạng, các phụ nữ Á Châu bị xem một cách không cân xứng như các nạn nhân bị hãm hiếp, so với phụ nữ da trắng hay phụ nữ của các chủng tộc khác. Nhà hoạt động nữ quyền người Mỹ gốc Á Helen Zia cho rằng có mối quan hệ giữa những miêu tả các phụ nữ Á Châu trong phim khiêu dâm và bạo động chống lại các phụ nữ người Mỹ gốc Á.

Nuoc My co lich su lau dai ve bao dong chong phu nu goc A 02

Dawn Cheung và Victoria Do vỗ tay hoan hô trong lúc lắng nghe các diễn giả phát biểu trong cuộc biểu tình chống tội phạm thù ghét người Á Châu tại Hing Hay Park trong khu phố Tàu của thành phố Seattle, tiểu bang Washington hôm 13 tháng 3 năm 2021. (nguồn: www.voanews.com)


Rosalind Chou, nhà xã hội học, mô tả cách vào năm 2000, một nhóm đàn ông da trắng bắt cóc 5 phụ nữ Nhật trao đổi các sinh viên tại Spokane, Washington, để thỏa mãn những tưởng tượng tình dục của họ về sự nô lệ phụ nữ Châu Á, một phần phụ của phim khiêu dâm.

Nhiều tấn công tình dục nhắm vào các phụ nữ Mỹ gốc Á hầu như đến nhiều hơn từ những người không phải Châu Á. Dù hầu hết các cuộc tấn công vào phụ nữ da trắng hay da đen đến từ những người đàn ông của cùng chủng tộc, phụ nữ Mỹ gốc Á – và phụ nữ Mỹ Thổ Dân – hầu như bị tấn công tình dục bởi những đàn ông khác chủng tộc nhiều hơn.

Thí dụ nổi bật gần đây nhất về hành động này là vụ hãm hiếp vào năm 2015 một phụ nữ bởi một sinh viên da trắng Brock Turner tại trường Stanford. Mãi cho đến năm 2019 người phụ nữ, Chanel Miller, mới tiết lộ danh tánh của cô như là một phụ nữ Mỹ gốc Á. Vào lúc đó nhiều phụ nữ Mỹ gốc Á đã hiểu yếu tố khác của điều đã là một trường hợp gây rối tình dục của người đàn ông da trắng: Turner có thể đã cảm thấy có quyền để sử dụng và lạm dụng cơ thể bất tỉnh của Miller không chỉ bởi vì cô là một phụ nữ, mà vì di sản Châu Á của cô.
 
Các vụ tấn công có mục tiêu
 
Vào tháng 3 năm 2020, các tổ chức cộng đồng người Mỹ gốc Á và Đảo Thái Bình Dương đã tham gia vào Chương Trình Nghiên Cứu Người Mỹ Gốc Á của Đại Học San Francisco State University để lập hồ sơ các sự kiện về kỳ thị chủng tộc chống người gốc Á đang xảy ra khắp nước trong đại dịch Covid-19.

Nhóm mà họ đã thành lập, gọi là StopAAPIHate, đã ghi nhận trung bình 11 vụ thù ghét chống lại người Á Châu tại Hoa Kỳ mỗi ngày kể từ khi họ tạo ra hồ sơ này, gồm trực tiếp và sách nhiễu bằng miệng trên mạng, các vi phạm quyền dân sự và tấn công thể xác.

Nuoc My co lich su lau dai ve bao dong chong phu nu goc A 03

Cảnh sát trên khắp nước, gồm cảnh sát Seattle đã tăng cường tuần phòng tại các khu phố Tàu và các khu xóm người Mỹ gốc Á Châu. (nguồn: www.theconversation.com)


Nhóm này đã phát hiện ra rằng các phụ nữ gốc Á báo cáo các vụ thù ghét 2.3 lần thường hơn các đàn ông gốc Á làm. Tài liệu không nêu khác biệt giữa các cuộc tấn công và sách nhiễu tình dục và các loại tấn công và sách nhiễu thể xác khác, tuy nhiên nó nhấn mạnh đến sự dễ bị tổn thương của việc là người Á Châu và là phụ nữ.
 
Sự đàn áp của phụ nữ da màu
 
Các phụ nữ Á Châu không chỉ là đối tượng của bạo động kỳ thị chủng tộc và tình dục. Bất cứ phụ nữ không phải da trắng nào đều có nguy cơ của những hiểm họa này lớn hơn các phụ nữ da trắng.

Một ngày sau khi một tay súng đàn ông da trắng tại tiểu bang Georgia đã giết chết 6 phụ nữ gốc Á, một người đàn ông da trắng có súng đã bị bắt bên ngoài chỗ ở của Phó Tổng Thống Kamala Harris tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Là phụ nữ pha trộn màu da Nam Á và Da Đen, Harris không miễn trừ khỏi văn hóa phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính phụ nữ gốc Á và tất cả phụ nữ da màu. Không ai trong chúng ta tránh khỏi. 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.