Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Việt Nam - Trung Cộng và Biển Đông 2021

03/03/202111:30:00(Xem: 870)

PHAM TRAN
Phạm Trần


Việt Nam Cộng sản biết rõ ý đồ của Trung Cộng muốn ăn sống nuốt tươi mình ở Biển Đông, nhưng lãnh đạo đảng duy nhất cầm quyền tại Hà Nội chỉ biết tùy cơ ứng biến và cầu may được qúy nhân phù trợ khi bị Bắc Kinh tấn công quân sự.

Lập trường này không mới, nhưng không bảo đảm giữ được chủ quyền, quyền chủ quyền và khối lượng tài nguyên khổng lồ và biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông.

Nó phản ảnh tư duy lệ thuộc và bản lĩnh sợ hãi không bao giờ dám thoát Trung của lãnh đạo CSVN khiến 100 triệu dân Việt Nam phải co ro sống sợ trong cái lồng quyền lực của Bắc Kinh.

NGUYÊN NHÂN

Tình trạng này bắt đầu ngay từ Hội nghị thượng đỉnh Trung-Việt ở Thành Đô, Tỉnh Tứ Xuyên, Trung Cộng, năm 1990, theo yêu của Lãnh tụ tối cao Trung Công lúc bây giờ là Đặng Tiểu Bình.

Bách khoa Toàn thư mở viết:”Hội nghị Thành Đô (hay gọi là Mật ước Thành Đô) là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt-Trung trong hai ngày 3-4 tháng 9 năm 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai Đảng Cộng sản của Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc họp mặt này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng. Cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn chưa được công bố.

Thành phần tham dự:
Phía Việt Nam gồm có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng,
Phía Trung Quốc có Giang Trạch Dân, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc.


Kết quả của hội nghị là một loạt các thay đổi trong đối nội và đối ngoại, không chỉ giữa Việt Nam với Trung Quốc, mà còn giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và các nước ASEAN.”

Lãnh đạo tối cao Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình là người đứng sau bầy mưu tính kế buộc Việt Nam phải làm theo điều kiện của Bắc Kinh, từ việc Hà Nội phải rút quân khỏi Cao Miên cho đến những việc Việt Nam được làm và không được làm sau khi nối lại bang giao với Trung Cộng năm 1991.

Những chi tiết của Thành Đô chưa hề được tiết lộ, nhưng liệu trong số những thỏa hiệp bí mật này, có điều gì bất lợi cho cho chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông không ?

Để trả lời câu hỏi này, không có gì rõ ràng hơn bằng cách nhắc lại nhận xét lịch sử của Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, người có lập trường chống Bắc Kinh thời bấy giờ. Ông nhận định về cuộc họp Thành Đô đầu tháng 9-1990 rằng: “một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!”. (theo cố Đại tá, Nhà báo lưu vong Bùi Tín, viết trên VOA ngày 20/3/2012)

Nhưng Đảng CSVN đã để cho đất nước bị “Bắc thuộc” nghiêm trọng đền mức nào thì liệu ông Chủ tịch, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có biết không ?

Hay ông biết mà phải ngậm đắng nuốt cay để nói cho dân yên tâm rằng :”Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.” (Phát biểu tại Đại hội đảng XIII, ngày 26/01/2021).

TRUNG CỘNG ĐANG LÀM GÌ?

Nhưng ông Trọng nói “dzậy mà không phài dzậy”, theo ngôn ngữ miệt vườn của đồng bào Nam Bộ. Bởi vì Bộ Ngoại giao Việt Nam mới cáo buộc Bắc Kinh:”Biển Đông lặng hay dậy sóng liên quan đến Trung Quốc. Năm 2020 và đầu 2021, Bắc Kinh vẫn tiếp tục thực thi “đa chiến pháp” trên Biển Đông. Truyền thông phủ sóng toàn cầu tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” và hình ảnh Trung Quốc xây dựng cộng đồng chung trên biển. Sửa đổi Luật Hải cảnh, công bố “danh xưng tiêu chuẩn” của các đảo, đá và thực thể đáy biển; phát triển “khu Tây Sa”, “khu Nam Sa”, dùng lục địa để gia tăng chủ quyền biển.” (theo Tạp chí Thế giới & Việt Nam)

Nên biết TG&VN là báo đối ngọai hàng đầu của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Các bài viết đều phản ảnh quan điểm và lập trường về chính sách đối ngoại và những vấn đề Quốc tế và khu vực liên quan đến Việt Nam.

Bài báo nêu trên đã vạch ra những mánh khóe tuyên truyền dành chủ quyền ở Biển Đông hiện nay của Bắc Kinh như:”Thu hút các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế ủng hộ cái gọi là “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc. Biến hóa “đường chín đoạn”, “thuyết Tứ sa” để biến vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước khác thành vùng biển tranh chấp, phần lớn Biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Trung Quốc.


Tiếp tục củng cố và xây mới cấu trúc lưỡng dụng trên các đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa, mới nhất là đá Vành Khăn. Đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân sự hiện đại, đa năng trên biển, đáng chú ý là đội tàu sân bay.


Duy trì hoạt động thường xuyên của lực lượng đa binh chủng, Hải quân, Hải cảnh, đội tàu nghiên cứu khoa học, dàn khoan nước sâu cỡ lớn, binh đoàn hàng ngàn tàu thuyền dân quân biển, xâm nhập, răn đe, ngăn cản hoạt động dân sự, kinh tế của các nước, thực hiện kiểm soát trên thực tế.”

ĐE DỌA VIỆT NAM

Bài báo của Bộ Ngoại giao Việt Nam còn tố cáo:”Tàu hải cảnh, tàu bán quân sự Trung Quốc nhiều lần xâm phạm vùng biển khu vực thuộc bồn trũng Nam Côn Sơn, bãi Tư Chính (của Việt Nam), bãi cạn Scarborough (Philippines), bãi Luconia (Malaysia)…


Gần nhất, 24/2 (2021), có tin tàu Hải cảnh Trung Quốc áp sát dàn khoan Hải Thạch của Việt Nam đang hoạt động bình thường tại lô 5-02 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.”

Trung Cộng cũng đã từng áp lực Việt Nam phải hủy bỏ một số dự án tìm kiềm dầu khí ở khu vục nam Hoàng Sa và ở Trường Sa, trong số này có nhiều Đại công ty đã bỏ Việt Nam gồm BP (Anh, 2008) Chevron (Mỹ, 2015), Repsol (Tây Ban Nha, 2018), ConocoPhillips (2012).

Ngày 9/7/2020, liên doanh dầu khí Rosneft Việt Nam đã hủy hợp đồng khoan dầu với công ty Noble Corporation tại Lô 06-01 vì bị áp lực từ Trung Cộng.

Vậy Việt Nam đã và đang làm gì để chống lại tham vọng của Trung Cộng ?

Trước hết, hãy nghe Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nói bang quơ với báo chí tại Hà Nội ngày 28/12/2020 rằng :”Việt Nam đã tiếp tục duy trì được môi trường ổn định ở Biển Đông thông qua nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp quan hệ song phương của chúng ta với các nước.”

Nhưng riêng với Trung Cộng thì dù Việt Nam có song phương hay đa phương cũng “chết cửa tứ” với Bắc Kinh ở Biển Đông, vì Trung Cộng không coi nhược tiểu Việt Nam ra gì.

Hơn nữa, vì biết được thân phận một nước đàn em trước láng giềng, đồng thời là ân nhân khi còn chiến tranh , Việt Nam đã thanh minh “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng rằng: " (1)Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; (2) không liên kết với nước này để chống nước kia; (3) không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; (4) không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.”

Cam kết này chỉ nhằm cầu van Trung Cộng đừng tấn công Việt Nam, nhưng Việt Nam lại không có bất cứ Hiếp ước phòng thủ chung nào với bất cứ nước nào, đặc biệt với đại cường quân sự Hoa Kỳ, cho nên Hà Nội chỉ còn biết chơi lá bài nhũn như con chi chi để cầu may.

THAM VỌNG MUÔN ĐỜI

Cũng cần nhắc lại, Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, dưới thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH), nhưng Cộng sản Việt Nam (CSVN) không dám tái chiếm sau khi chiếm VNCH ngày 30 tháng 4 năm 1975.

CSVN còn để mất thêm 7 vị trí đá, đảo chiến lược ở Trường Sa từ ngày 14/3/1988 đến năm 1995 gồm Châu Viện, Chữ Thập, Ga Ven, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Xu Bi và Vành Khăn trong Quần đảo Trường Sa.

Sau Vành Khăn bị mất năm 1995, Việt Nam coi như mất luôn quyền kiểm soát bãi Cỏ Mây, một rạn san hô vòng thuộc cụm Bình Nguyên của quần đảo Trường Sa nằm về phía đông nam của đá Vành Khăn. Hiện bãi Cỏ Mây đang bị tranh chấp giữa Phi Luât Tân và Trung Cộng.

Ngoài ra, Đài Loan cũng đã chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba Island) , lớn nhất ở Trường Sa từ sau năm 1956. Đảo này có diện tích tối đa 0,4896 cây số vuông với chiều dài 1,400 mét, rộng 379 mét. Có tài liệu nói Đài Loan đã chính thức đem quân đội và dân cư đến sống và bảo vệ đảo từ năm 1971.

Như vậy, cho đến nay, Trung Cộng và Đài Loan đã chiếm 9 đảo và đá của Việt Nam thuộc Trường Sa.

Trong khi đó, theo tài liệu của Bách khoa toàn thư mở thì Việt Nam đang thực thi chủ quyền hợp pháp tại 21 điểm đảo. Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã chia thành thành 2 nhóm đảo, tuyến Bắc Trường Sa và Nam Trường Sa.

Ông nói:”Các đảo Bắc Trường Sa mà Việt Nam đang canh giữ, thực thi chủ quyền gồm 10 đảo, đá lực lượng sau: Song Tử Tây, Đá Nam, Đá Thị, Sơn Ca, Nam Yết, Len Đao, Cô Lin, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Đá Lớn. Các đảo Phía Nam Trường Sa mà Việt Nam đang bảo vệ gồm 11 đảo, đá sau: Trường Sa,Trường Sa Đông, An Bang, Phan Vinh, Thuyền Chài, Tiên Nữ, Núi Le, Tốc Tan, Đá Tây, Đá Đông, Đá Lát.” (theo Infonet)

Cuối cùng, bài viết của Bộ Ngoại giao Việt Nam kết luận:”Nhìn chung, năm 2021 chưa hội tủ đủ các yếu tố để tình hình sáng sủa hơn, Biển Đông chưa thể sớm bình lặng. Giải quyết tranh chấp chủ quyền là công việc phức tạp, lâu dài, cần sự kiên trì, nỗ lực của tất cả các bên, cả trong và ngoài khu vực. Cần đề cao chủ nghĩa đa phương, hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi về thiết lập và tuân thủ một trật tự dựa trên luật pháp, luật lệ, giá trị chung và lợi ích chung.”


Tác giả bài viết kêu gọi:” Kiềm chế và chủ động phòng tránh nguy cơ đụng độ không mong muốn trên biển. Đi đôi với hợp tác, cần đấu tranh để xây dựng một cơ chế giám sát có hiệu quả và giải quyết tranh chấp bắt buộc nhằm ổn định tình hình Biển Đông.”


Nhưng ai giám sát ai khi mà mỗi nước trong khối 10 quốc gia ASEAN ( the Association of South East Asia Nations, Hiệp hội các nước Đông Nam Á) đều có quyền lợi riêng với Trung Cộng. Bằng chứng cho đền nay, ASEAN và Trung Cộng vẫn còn xa mặt cách lòng trong việc thành hình quy ước COC (Code of Conduct) để kiềm chế các hoạt động gây hấn ở Biển Đông của Bắc Kinh.

Điều này đã được Bộ Ngoại giao Việt Nam nhìn nhận:”Đàm phán COC khó có thể kết thúc trong năm 2021 như tuyên bố của Trung Quốc, do độ chênh lớn về yêu sách chủ quyền.“

Vì vậy, bài viết của Bộ Ngoại giao đã nhận ra chủ trương Biển Đông của Trung Cộng trong năm 2021 vẫn là:”Trung Quốc về cơ bản vẫn tiếp tục “đa chiến pháp”, nhịp độ khi căng, khi chùng, nhưng tổng thể vẫn là hành động kiên quyết, cứng rắn. Nếu nội bộ không có đột biến và áp lực bên ngoài chưa đủ độ (là khả năng hiện hữu), thì Trung Quốc không, hoặc khó nhượng bộ.”

Với viễn ảnh u tối này, Đảng và Nhà nước CSVN đã làm gì để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, hay chỉ biết há miệng chờ sung rụng ? -/-


Phạm Trần
(2/021)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tuy nhiên đầu năm nay việc kiểm soát đại dịch tương đối có chiều hướng tốt, Vaccine đã được nhiều người dân ủng hộ, chính quyền địa phương các cấp đã ban hành lệnh cho phép tụ tập không quá đông người trở lại tùy theo mỗi hoàn cảnh. Do đó Ban Chấp Hành, với sự khuyến khích của ông Hội Trưởng Phan Ứng Thời, Hội AH CHS PCT ĐN đã tổ chức một buổi họp mặt nhỏ để tưởng nhớ về Chí Sĩ Phan Châu Trinh vào trưa ngày Thứ Bảy 27/3/2021 tại một nhà hàng ở vùng Little Saigon, Nam California.
Những “hoạt động tuyên truyền cách mạng” của Người đã gây ra cớ sự và hậu họa khôn lường cho mấy thế hệ kế tiếp. Mãi đến thập niên 1990 – sau khi Chủ Nghĩa Cộng Sản đã chuyển qua từ trần – nhà nước Thái mới hết lo ngại về những “quả bom nổ chậm” do Hồ Chí Minh gài lại, và bắt đầu nới tay với đám Việt Kiều. Từ đó, họ mới ngóc đầu lên được.
Chương trình cải tổ cơ sở hạ tầng, một "New Deal" thế kỷ 21 của tổng thống Joe Biden cũng vậy. Nó sẽ mang lại ích lợi to lớn cho quốc gia và người dân Mỹ một khi được thực hiện. Liệu có lý do gì để chống đối việc người dân cùng con cháu họ sẽ được uống nước sạch, có thêm trường học, chạy trên xa lộ an toàn, có hệ thống giao thông công cộng tiện nghi và sử dụng mạng internet nhanh và rẻ hơn?
Ngày nay, Hoa Kỳ giống như Nhà Chu, vẫn là siêu cường Số Một về quân sự và kinh tế nhưng Hoa Lục đang nổi lên như một cường quốc- giống như Nhà Tần có khả năng cạnh tranh địa vị thống trị thế giới của Hoa Kỳ. Các nhà làm chiến lược, bộ trưởng quốc phòng, tham mưu trưởng liên quân, giám đốc CIA khi điều trần trước Quốc Hội đều công khai bày tỏ lo ngại “Hoa Lục là đối thủ của Hoa Kỳ trong 100 năm tới”.
Liên Hiệp Âu châu, cả Anh quốc, Huê kỳ và Canada đều đồng loạt lên tiếng cực lực lên án Xi và đảng cộng sản Trung Quốc là tội phạm chống nhơn loại. Các nước văn minh trên đây đã quyết định trừng phạt Trung quốc vì tội diệt chủng nhằm vào dân tộc thiểu số Duy-ngô-nhĩ ở Tân-cương, miền Tây-Bắc nước Tàu.
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.